Tình trạng dinh dưỡng và thói quen ăn uống của học sinh lứa tuổi 13-17 tại một số trường phổ thông năm 2017

Đặt vấn đề: Lứa tuổi 13-17 là lứa tuổi vị thành viên với nhiều thay đổi trong phát triển thể chất và tinh

thần. Tình trạng dinh dưỡng tốt và thói quen ăn uống phù hợp giúp cho các em có nền tảng thể lực tốt cho quá

trình phát triển sau này.

Mục tiêu: Mô tả tình trạng dinh dưỡng và thói quen ăn uống của học sinh lứa tuổi 13-17 tại một số trường

phổ thông tại 4 tỉnh Hải Phòng, Nghệ An, Kontum, Cần Thơ năm 2017.

Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. Địa điểm nghiên cứu: 4 tỉnh Hải Phòng, Nghệ

An, Kon Tum, Cần Thơ. Học sinh từ lớp 8-lớp 12 tại 24 trường trung học cơ sở và trung học phổ thông. Tổng số

có 6.407 học sinh đã tham gia vào nghiên cứu

pdf 6 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Tình trạng dinh dưỡng và thói quen ăn uống của học sinh lứa tuổi 13-17 tại một số trường phổ thông năm 2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tình trạng dinh dưỡng và thói quen ăn uống của học sinh lứa tuổi 13-17 tại một số trường phổ thông năm 2017

Tình trạng dinh dưỡng và thói quen ăn uống của học sinh lứa tuổi 13-17 tại một số trường phổ thông năm 2017
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 174 
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ THÓI QUEN ĂN UỐNG 
CỦA HỌC SINH LỨA TUỔI 13-17 
TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG PHỔ THÔNG NĂM 2017 
Nguyễn Thị Hồng Diễm*, Trần Quỳnh Anh** 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Lứa tuổi 13-17 là lứa tuổi vị thành viên với nhiều thay đổi trong phát triển thể chất và tinh 
thần. Tình trạng dinh dưỡng tốt và thói quen ăn uống phù hợp giúp cho các em có nền tảng thể lực tốt cho quá 
trình phát triển sau này. 
Mục tiêu: Mô tả tình trạng dinh dưỡng và thói quen ăn uống của học sinh lứa tuổi 13-17 tại một số trường 
phổ thông tại 4 tỉnh Hải Phòng, Nghệ An, Kontum, Cần Thơ năm 2017. 
Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. Địa điểm nghiên cứu: 4 tỉnh Hải Phòng, Nghệ 
An, Kon Tum, Cần Thơ. Học sinh từ lớp 8-lớp 12 tại 24 trường trung học cơ sở và trung học phổ thông. Tổng số 
có 6.407 học sinh đã tham gia vào nghiên cứu. 
Kết quả: Tỷ lệ học sinh thừa cân béo phì là 11,1% (nam 15,6% và nữ 7,1%), tỷ lệ học sinh suy dinh dưỡng 
là 9,5% (nam 12,5% và nữ 7,0%). Trong 30 ngày qua, tỷ lệ học sinh ăn trái cây ≥1 lần/ngày là 79%. Tỷ lệ học 
sinh ăn rau ≥1 lần/ngày là 88%. Tỷ lệ học sinh uống nước có ga ≥1 lần/ngày là 29%. Trong 7 ngày qua, tỷ lệ học 
sinh ăn đồ ăn nhanh >1 lần trong tuần là 21%. 
Kết luận: Mặc dù phần lớn học sinh có tình trạng dinh dưỡng bình thường và thói quen ăn uống phù hợp, 
còn một tỷ lệ đáng kể suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì, tiêu thụ nước ngọt có ga và ăn đồ ăn nhanh thường 
xuyên. Các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe về dinh dưỡng cần tiếp tục hướng đến nhóm đối tượng 
này, nhất là học sinh nam 
Từ khóa: học sinh tuổi 13-17, dinh dưỡng, thói quen ăn uống 
ABSTRACT 
NUTRITION STATUS AND EATING HABIT AMONG SCHOOL STUDENTS AGED 13-17 IN 2017 
Nguyen Thi Hong Diem, Tran Quynh Anh 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 24 - No. 1 - 2020: 174 - 179 
Background: School students in the period of adolescent ages from 13-17 are facing with many changes in 
mental health and physical health. Good nutrition status and eating habit are important factors for healthy 
development in a later life. 
Objectives: To describe nutrition status and eating habit among school students aged 13-17 in some schools 
at four provinces of Hải Phòng, Nghệ An, Kontum, Cần Thơ in 2017. 
Methods: Applying cross-sectional study design. Study sites: Hải Phòng, Nghệ An, Kon Tum, Cần Thơ. 
School students grades 8-grades 12 at 24 secondary and high schools. In total 6.407 students have been 
participated in the survey. 
Results: The percentage of students with overweight and obese were 11.1% (male 15,6% and female 7.1%), 
the percentage of students with underweight were 9.5% (male 12.5% and female 7.0%). The percentage of 
*Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế 
**Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng-Trường Đại học Y Hà Nội 
Tác giả liên lạc: TS.BS. Nguyễn Thị Hồng Diễm ĐT: 0905165239 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 175 
students eating fruits ≥1 time/day during past 30 days were 9%; eating vegetable were 88%. The percentage of 
students consuming carbonated soft drinking ≥1 time/day during past 30 days were 29%. The percentage of 
students consuming fast food ≥1 time/day during past 7 days were 21%. 
Conclusion: Although majority of participants have good nutrition status and eating habit, there have been 
significant number of students with bad nutrition status and eating habit including underweight, overweight, 
obese, consuming carbonated soft drink and fast foods regularly. Nutrition communication program need to be 
continued for this target population, especially male students. 
Keywords: school students aged 13-17, nutrition status, eating habits 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Các nghiên cứu trên thế giới đều nhấn mạnh 
đến sự cần thiết phải quan tâm đến sức khỏe lứa 
tuổi vị thành niên. Đây là lứa tuổi phát triển 
mạnh mẽ về thể chất và thường được coi là lứa 
tuổi khỏe mạnh, nhưng ở tuổi này việc hình 
thành các hành vi sức khỏe xấu sẽ dẫn đến ảnh 
hưởng đến sức khỏe sau này, đặc biệt là nguy cơ 
mắc các bệnh không lây nhiễm. Tình trạng dinh 
dưỡng và thói quen ăn uống ở lứa tuổi này là 
một yếu tố quan trọng đối với sức khỏe thể chất 
của lứa tuổi này. Ở Việt Nam hiện nay, gánh 
nặng kép của dinh dưỡng cộng đồng là vừa phải 
giải quyết với tình trạng suy dinh dưỡng, vừa 
phải kiểm soát tình trạng thừa cân, béo phì đang 
có xu hướng gia tăng(1). 
Nghiên cứu của Heba A (2011)(2) trên 1400 
học sinh từ 11-17 tuổi ở Seychelles cho biết có 
khoảng 24% học sinh thừa cân không nhận thức 
được mình bị thừa cân và 29% học sinh cân nặng 
bình thường lại cho là mình bị gầy. Nhận thức 
về cân nặng của học sinh có liên quan chặt chẽ 
đến hành vi kiểm soát ăn uống. Một nghiên cứu 
hệ thống hơn 2.000 bài báo trên toàn cầu nhằm 
tìm hiểu tỷ lệ vị thành niên tham gia hoạt động 
thể chất không đầy đủ (<60 phút/ngày theo Tổ 
chức Y tế Thế giới) cho thấy tỷ lệ này là 79,7%, tỷ 
lệ cao hơn ở nữ, và ở các nước đang phát triển tỷ 
lệ vị thành niên tham gia hoạt động thể chất 
không đầy đủ cao hơn ở các nước phát triển. 
Tại Việt Nam, lứa tuổi học sinh từ 13-17 tuổi, 
thường được gọi là tuổi dậy thì, là lứa tuổi có 
những thay đổi lớn về thể chất và tinh thần. Các 
hành vi sức khỏe ở lứa tuổi này liên quan chặt 
chẽ đến tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần 
của học sinh cả trong hiện tại và khi bước sang 
tuổi trưởng thành, gồm có các hành vi như thói 
quen ăn uống, thói quen vệ sinh, sử dụng đồ 
uống có cồn hay chất gây nghiện, bạo lực và bắt 
nạt học đường, hành vi tình dục. Vì thế, các 
chương trình can thiệp giáo dục truyền thông 
cần tập trung vào các hành vi sức khỏe của học 
sinh(3). 
Theo kết quả sức khỏe học sinh trong độ tuổi 
từ 13 đến 17 tuổi năm 2013 tại Việt Nam cho 
thấy, tỉ lệ học sinh suy dinh dưỡng thể gầy còm 
là 16,4%, thừa cân là 6,4%, béo phì là 1,2%; tỉ lệ 
học sinh thường xuyên uống nước uống có ga từ 
một đến hơn một lần một ngày là 31,1%. Năm 
2016, một nghiên cứu trên 12.000 học sinh từ 11 - 
14 tuổi tại 38 trường trung học cơ sở trên địa bàn 
thành phố Hà Nội cho biết có 15,26% học sinh 
thừa cân và 5,46% học sinh mắc béo phì(4). 
Năm 2017 Cục Y tế Dự phòng tiến hành một 
khảo sát về hành vi sức khỏe của học sinh tại 4 
tỉnh Hải Phòng, Nghệ An, Kontum, Cần Thơ 
nhằm cung cấp những bằng chứng cập nhật về 
thực trạng hành vi sức khỏe của học sinh, giúp 
cho việc đưa ra các chính sách ưu tiên trong 
chăm sóc sức khỏe học sinh. Trong khuôn khổ 
khảo sát này, tình trạng dinh dưỡng và thói 
quen ăn uống của lứa tuổi 13-17 là một nội dung 
quan trọng. 
Mục tiêu nghiên cứu 
Mô tả tình trạng dinh dưỡng của học sinh 
lứa tuổi 13-17 tại một số trường phổ thông tại 4 
tỉnh Hải Phòng, Nghệ An, Kontum, Cần Thơ 
năm 2017. 
Mô tả thói quen ăn uống của học sinh lứa 
tuổi 13-17 tại một số trường phổ thông tại 4 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 176 
tỉnh Hải Phòng, Nghệ An, Kontum, Cần Thơ 
năm 2017. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 
Đối tượng nghiên cứu 
Học sinh tại các trường học được lựa chọn 
vào nghiên cứu. Lựa chọn chủ đích 4 tỉnh 
tham gia vào nghiên cứu là Hải Phòng, Nghệ 
An, Kon Tum, Cần Thơ. Đây là 4 tỉnh nằm ở 
các vùng sinh thái khác nhau của đất nước và 
có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau. Tại mỗi 
tỉnh, lựa chọn có chủ đích 01 quận và 02 huyện 
để có được số liệu của khu vực thành thị và 
nông thôn trong tỉnh. 
Tiêu chí chọn quận, huyện 
Là quận, huyện có điều kiện kinh tế xã hội 
trung bình trong tỉnh, không chọn quận, 
huyện giàu hay quận, huyện nghèo của tỉnh. 
Tại mỗi quận, huyện sẽ lựa chọn 02 trường, 01 
trường trung học cơ sở và 01 trường trung học 
phổ thông. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang. 
Cỡ mẫu 
Cỡ mẫu ước tính cho 1 tỉnh. Sử dụng công 
thức tính cỡ mẫu ước lượng cho một tỷ lệ trong 
quần thể. 
Cỡ mẫu n tính được = 1.050. Số học sinh điều 
tra tại mỗi tỉnh là 1.050 x 1.5 (hệ số chọn mẫu) = 
1.600 học sinh. Học sinh điều tra cho 4 tỉnh là 
1.600 x 4 = 6.400 học sinh. Thực tế đã điều tra 
trên 6.407 học sinh. 
Chọn mẫu 
Tại mỗi tỉnh chọn chủ đích 6 trường: 2 
trường khu vực thành thị và 4 trường khu vực 
nông thôn. Trong 2 trường ở mỗi khu vực có 1 
trường trung học cơ sở (THCS) và 1 trường 
trung học phổ thông (THPT). Tại mỗi trường 
THCS, chọn học sinh khối 8 và khối 9, mỗi khối 
chọn 3 lớp. Tại mỗi trường THPT, chọn học sinh 
cả ba khối 10, 11 và 12, mỗi khối chọn 2 lớp triển 
khai toàn bộ học sinh trong lớp tham gia vào 
nghiên cứu. 
Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin 
Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phỏng vấn 
gián tiếp với bộ câu hỏi tự điền khuyết danh, 
chiều cao và cân nặng của học sinh được đo 
bằng thước đo chiều cao gắn tường và cân 
điện tử. 
Bộ câu hỏi của Điều tra sức khỏe học sinh 
toàn cầu (Global School-related Health Student 
Survey) tại Việt Nam được sử dụng cho nghiên 
cứu này. Bộ câu hỏi Điều tra sức khỏe học sinh 
toàn cầu gồm 80 câu hỏi, trong đó có 05 câu hỏi 
về vấn đề ăn uống: tần suất ăn các thực phẩm 
như hoa quả, rau, uống nước ngọt có ga, ăn đồ 
ăn nhanh. 
Số liệu được thu thập tại lớp học. Học sinh 
của lớp được chọn được đề nghị ở lại lớp sau giờ 
học để điền phiếu. Học sinh được giải thích rõ về 
mục đích của nghiên cứu. Học sinh tham gia 
nghiên cứu tự nguyện. Nghiên cứu viên có mặt 
tại lớp học để giải thích những thắc mắc của học 
sinh trong khi điền phiếu. 
Biến số nghiên cứu 
Tình trạng dinh dưỡng: tỷ lệ thừa cân, béo 
phì, suy dinh dưỡng được đánh giá thông qua 
chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tuổi dành cho trẻ 5 
- 19 tuổi. Chuẩn dùng để so sánh các chỉ số hiện 
nay đang dùng là chuẩn tăng trưởng của Tổ 
chức Y tế thế giới năm 2007. 
Thói quen ăn uống: Tỷ lệ học sinh có ăn 
rau/hoa quả và số lần ăn rau/hoa quả trung 
bình/ngày trong 30 ngày qua. Tỷ lệ học sinh 
uống nước ngọt có ga và ăn đồ ăn nhanh và số 
lần ăn/uống trung bình trong 30 ngày qua. 
Xử lý và phân tích số liệu 
Số liệu được làm sạch, nhập và phân tích 
bằng phần mềm EPI DATA và STATA. 
Các số liệu được trình bày dưới dạng số 
lượng, tỷ lệ phần trăm. 
Test thống kê Chi- bình phương được sử 
dụng trong phân tích đơn biến. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 177 
KẾT QUẢ 
Tổng số đối tượng nghiên cứu là 6.407 học 
sinh, trong đó nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam 
(53,9% và 46,06%). Tỷ lệ nữ cao hơn ở cả cả hai 
nhóm tuổi: từ 13-15 và từ 16-17 (Bảng 1). 
Khoảng 80% học sinh có tình trạng dinh 
dưỡng bình thường. Tỷ lệ học sinh thừa cân béo 
phì là 11,1%, suy dinh dưỡng là 9,5% (Hình 1). 
Tỉ lệ học sinh có tình trạng dinh dưỡng bình 
thường ở nữ cao hơn nam (86% và 72%), khác 
biệt có ý nghĩa thống kê (Bảng 2). 
Tỉ lệ học sinh nam thừa cân và béo phì là 
15,6%, trong đó thừa cân là 11,0% và béo phì là 
4,6%. Tỷ lệ này cao hơn nhóm nữ, tỷ lệ thừa cân, 
béo phì học sinh nữ là 7,1%, trong đó thừa cân là 
5,9% và béo phì là 1,2%, sự khác biệt này có ý 
nghĩa thống kê (p <0,05). 
Hình 1: Tình trạng dinh dưỡng của học sinh 
Bảng 1: Thông tin về đối tượng nghiên cứu 
 Độ tuổi 
Giới 
Tuổi 13-15 Tuổi từ 16 đến 17 Tổng 
N % n % N % 
Nam 1.594 48,79 1.357 43,22 2.951 46,06 
Nữ 1.673 51,21 1.783 56,78 3.456 53,94 
Tổng 3.267 100 3.140 100 6.407 100 
Bảng 2: Tình trạng dinh dưỡng của học sinh theo giới 
 Giới 
Dinh dưỡng 
Nam Nữ Tổng 
p 
n % n % n % 
SDD gầy còm nặng 85 2,9 37 1,1 122 1,9 0,000 
SDD gầy còm 284 9,6 205 5,9 489 7,6 0,000 
Bình thường 2.119 71,9 2.970 85,9 5.089 79,4 0,000 
Thừa cân 326 11,0 204 5,9 530 8,3 0,000 
Béo phì 137 4,6 40 1,2 177 2,8 0,000 
Tổng 2.951 100 3.456 100 6.407 100 
Bảng 3: Thói quen ăn uống của học sinh theo giới 
 Giới 
Ăn uống 
Nam Nữ Tổng 
P 
N % N % N % 
Ăn trái cây (trong 30 ngày) 
<1 lần/ngày 649 22,0 703 20,3 1.352 21,1 
0,106 
≥1 lần/ngày 2.302 78,0 2.753 79,7 5.055 78,9 
Ăn rau (trong 30 ngày) 
<1 lần/ngày 366 12,4 396 11,5 762 11,9 
0,245 
≥1 lần/ngày 2.585 87,6 3.060 88,5 5.645 88,1 
Uống nước có ga (trong 30 ngày) 
<1 lần/ngày 1.973 66,9 2.607 75,4 4.580 71,5 
0,000 
≥1 lần/ngày 978 33,1 849 24,6 1.827 28,5 
Ăn đồ ăn nhanh (trong 7 ngày) 
0-1 lần 2.396 81,2 2.659 76,9 5.055 78.9 
0,000 
>1 lần/tuần 555 18,8 797 23,1 1.352 21,1 
Tổng 2.951 100 3.456 100 6.407 100 
Trong 30 ngày qua, tỷ lệ học sinh ăn trái cây 
≥1 lần/ngày là 79%. Tỷ lệ học sinh ăn rau ≥1 
lần/ngày là 88%. Tỷ lệ học sinh uống nước có ga 
≥1 lần/ngày là 29% (Bảng 3). 
Trong 7 ngày qua, tỷ lệ học sinh ăn đồ ăn 
nhanh >1 lần trong tuần là 21%. 
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
giữa nam và nữ về thói quen ăn rau và trái 
79.4% 
9.5% 
11.1% Bình 
thường 
Suy dinh 
dưỡng 
Thừa cân, 
béo phì 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 178 
cây. Tỷ lệ học sinh nam uống nước ngọt có ga 
≥1 lần/ngày cao hơn nữ; Tỷ lệ học sinh nữ ăn 
đồ ăn nhanh hơn 1 lần/tuần cao hơn nam, khác 
biệt có ý nghĩa thống kê. 
BÀN LUẬN 
Đây là một điều tra khảo sát hành vi sức 
khỏe học sinh lứa tuổi vị thành niên quy mô lớn 
triển khai tại 4 tỉnh Hải Phòng, Nghệ An, Kon 
Tum, Cần Thơ. Đây là 4 tỉnh nằm ở các vùng 
sinh thái khác nhau của đất nước và có điều kiện 
kinh tế xã hội khác nhau. Tổng cộng đã có 12 
trường trung học cơ sở và 12 trường trung học 
phổ thông được chọn vào tham gia nghiên cứu 
với số lượng học sinh tham gia trả lời phiếu lên 
đến hơn 6000 em. Năm 2012 Cục Y tế Dự phòng 
đã phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới triển khai 
một điều tra sử dụng Bộ câu hỏi của Điều tra sức 
khỏe học sinh toàn cầu (Global School-related 
Health Student Survey). Do đó bộ câu hỏi này đã 
được chuẩn hóa tiếng Việt và tỷ lệ của cuộc khảo 
sát này có thể so sánh với điều tra năm 2012(5,6). 
Trong tổng số 6.407 học sinh của 24 trường 
từ 4 tỉnh tham gia vào nghiên cứu, học sinh nữ 
chiếm tỷ lệ cao hơn nam (53,9% và 46,06%). Tỷ 
lệ nữ cao hơn ở cả hai nhóm tuổi: từ 13-15 và 
từ 16-17. 
Kết quả nghiên cứu cho thấy 4/5 số học sinh 
(80%) có tình trạng dinh dưỡng bình thường. 
Trong số 20% học sinh có tình trạng dinh dưỡng 
bất thường, tỷ lệ học sinh thừa cân béo phì là 
11,1%, suy dinh dưỡng là 9,5%. Tỷ lệ này phản 
ánh đúng tình trạng “gánh nặng kép” trong cuộc 
chiến chống lại tình trạng suy dinh dưỡng và 
thừa cân, béo phì ở nước ta hiện nay. Tỉ lệ thừa 
cân và béo phì theo khảo sát của chúng tôi cao 
hơn so với thời điểm điều tra năm 2012, tỉ lệ 
thừa cân và béo phì năm 2012 là 5,6%. Như vậy 
tỷ lệ thừa cân béo phì đã tăng gần gấp đôi sau 5 
năm. Đây là một con số đáng báo động. Nguyên 
nhân có thể là do cùng với sự phát triển của kinh 
tế, thì đời sống vật chất được nâng cao giúp làm 
giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng nhưng chế độ ăn giàu 
đường đạm, lối sống tĩnh tại hiện đại làm tăng 
nguy cơ mắc thừa cân, béo phì. Tỷ lệ học sinh 
trung học phổ thông thừa cân, béo phì qua một 
khảo sát năm 2016 trên 12000 học sinh ở thành 
phố Hà Nội cho biết tỷ lệ học sinh thừa cân béo 
phì là 21,72%. Như vậy tỷ lệ thừa cân béo phì ở 
học sinh Hà Nội cao gấp đôi so với nghiên cứu 
của chúng tôi(7). 
Xem xét tình trạng dinh dưỡng của học sinh 
theo giới, kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ học 
sinh có tình trạng dinh dưỡng bình thường ở nữ 
cao hơn nam (86% và 72%). Như vậy, học sinh 
nam là nhóm có tình trạng dinh dưỡng bất 
thường cao hơn nữ, cụ thể tỷ lệ suy dinh dưỡng 
ở nam là 12,5% nữ 7%; tỉ lệ học sinh nam thừa 
cân và béo phì là 15,6%, cao gấp đôi học sinh nữ 
(tỷ lệ này ở nữ là 7%). Điều tra năm 2012 cũng 
cho kết quả tỷ lệ suy dinh dưỡng và thừa cân, 
béo phì ở học sinh nam cao hơn học sinh nữ. 
Về thói quen ăn uống, khảo sát thói quen ăn 
uống trong 30 ngày qua cho thấy tỷ lệ học sinh 
ăn trái cây ≥1 lần/ngày chiếm gần 80%, tỷ lệ học 
sinh ăn rau ≥1 lần/ngày chiếm gần 90%. Sự khác 
biệt giữa nam và nữ về thói quen ăn trái cây và 
ăn rau không có ý nghĩa thống kê. Như vậy kết 
quả nghiên cứu cho thấy một tỷ lệ lớn học sinh 
có thói quen ăn rau, hoa quả hàng ngày. Mặc dù 
tỷ lệ học sinh ăn rau, trái cây dưới 1 lần 1 ngày 
nằm trong khoảng 10-20%, nhưng tương ứng 
với con số khoảng 600-1200 học sinh cũng là một 
con số đáng để chúng ta lưu tâm. Các chương 
trình tuyên truyền về dinh dưỡng và thói quen 
ăn uống vẫn cần tiếp tục được triển khai trong 
học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông. 
Tiêu thụ nước ngọt có ga và ăn đồ ăn nhanh 
đang là xu hướng thịnh hành trong giới trẻ. Hiện 
nay số lượng các cửa hàng bán đồ ăn nhanh như 
KFC hay Lotteria đang gia tăng ở nước ta, không 
chỉ xuất hiện nhiều ở các thành phố trực thuộc 
trung ương mà cả ở các thành phố trực thuộc 
tỉnh. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ 
học sinh uống nước có ga thường xuyên trong 30 
ngày qua (≥1 lần/ngày) là gần 30% (tương đương 
gần 1800 học sinh); tỷ lệ học sinh cho biết đã ăn 
đồ ăn nhanh trên 1 lần trong 7 tuần qua là 
khoảng 20% (tương đương 1200 học sinh). Tỷ lệ 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 179 
tiêu thụ nước ngọt có ga tương đương với tỷ lệ 
được báo cáo trong điều tra năm 2012. 
Có sự khác biệt giữa nam và nữ trong tiêu 
thụ nước ngọt có ga và ăn đồ ăn nhanh. Tỷ lệ 
học sinh nam uống nước ngọt có ga ≥1 lần/ngày 
cao hơn nữ; trong khi tỷ lệ học sinh nữ ăn đồ ăn 
nhanh hơn 1 lần/tuần cao hơn nam, khác biệt có 
ý nghĩa thống kê. 
Mặc dù tỷ lệ học sinh uống nước ngọt có ga 
và ăn đồ ăn nhanh chiếm khoảng 20-30% trong 
tổng số học sinh được điều tra. Đây cũng là con 
số đáng được lưu tâm đối với các bậc cha mẹ, 
các thày cô và ngành y học dự phòng trong 
tuyên truyền về dinh dưỡng cho học sinh, nhất 
là ở lứa tuổi vị thành niên. Ở lứa tuổi này, các 
em có xu hướng thực hiện các hành vi đua theo 
bạn bè. Ví dụ uống nước có ga và ăn đồ ăn 
nhanh vì thấy nhiều bạn làm như vậy, hoặc ảnh 
hưởng từ phim ảnh nước ngoài. 
KẾT LUẬN 
Khoảng 20% số học sinh được khảo sát có 
tình trạng dinh dưỡng bất thường trong đó 11% 
là thừa cân béo phì và 9% là suy dinh dưỡng. Tỷ 
lệ thừa cân béo phì và suy dinh dưỡng ở học 
sinh nam cao hơn học sinh nữ. Đại đa số học 
sinh (80%-90%) ăn rau và hoa quả thường 
xuyên. Có một tỷ lệ nhất định học sinh thường 
xuyên uống nước ngọt có ga và ăn đồ ăn nhanh 
(20%-30%). 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Lưu Phương Dung, Nguyễn Nhật Cảm, Nguyễn Thị Thi Thơ 
(2017). Tình trạng dinh dưỡng của học sinh trung học cơ sở tại 
thành phố Hà Nội, năm 2016. Y học Dự phòng, 27(8):586-591. 
2. Heba A, et al (2011). "Is Accurate Perception of Body Image 
Associated with Appropriate Weight-Control Behavior among 
Adolescents of the Seychelles ". Journal of Obesity, pp.8. 
3. Nguyễn Văn Hiển (2012). "Khoa học hành vi và truyền thông 
giáo dục sức khỏe". Sách giáo khoa. 
4. WHO (2003). "Diet, nutrition and the prevention of chronic 
diseases: report of a Joint WHO/FAO Expert Consultation. 
WHO Technical Report Series, No. 916". URL: 
https://www.who.int/dietphysicalactivity/publications/trs916/en
/. 
5. Việt Nam GSHS (2013). Global School- based Student Health 
Survey: Vietnam 2013 Fact Sheet. URL: 
https://extranet.who.int/ncdsmicrodata/index.php/catalog/482. 
6. WHO (2018). Healthy diet. URL: 
7. WHO (2015). Guideline: Sugars intake for adults and children. 
Geneva: World Health Organization. URL: 
https://www.who.int/nutrition/publications/guidelines/sugars_i
ntake/en/. 
Ngày nhận bài báo: 02/11/2019 
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 06/12/2019 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2020 

File đính kèm:

  • pdftinh_trang_dinh_duong_va_thoi_quen_an_uong_cua_hoc_sinh_lua.pdf