Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang điều trị tại Bệnh viện Phổi Thái Bình năm 2017

Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang,

mô tả tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân COPD thông

qua các chỉ số BMI, chu vi vòng cánh tay, đánh giá tình

trạng dinh dưỡng của bệnh nhân qua bộ công cụ SGA,

MNA, các chỉ số hóa sinh. Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh

phổi tắc nghẽn mạn tính có suy dinh dưỡng cao, chiếm

62,2% (theo BMI), trên 50% (theo SGA), 93,4% theo

MNA. Đo chu vi vòng cánh tay (MAC) có 45,6% bệnh

nhân có MAC ở ngưỡng có suy dinh dưỡng. Tỷ lệ bệnh

nhân có Albumin giảm nhẹ chiếm 25,4%, 5,3% bệnh nhân

có Albumin giảm vừa. Về tình trạng Protein huyết thanh,

có 28,9% bệnh nhân có chỉ số Protein huyết thanh giảm

pdf 5 trang phuongnguyen 480
Bạn đang xem tài liệu "Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang điều trị tại Bệnh viện Phổi Thái Bình năm 2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang điều trị tại Bệnh viện Phổi Thái Bình năm 2017

Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang điều trị tại Bệnh viện Phổi Thái Bình năm 2017
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 153
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÓM TẮT
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, 
mô tả tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân COPD thông 
qua các chỉ số BMI, chu vi vòng cánh tay, đánh giá tình 
trạng dinh dưỡng của bệnh nhân qua bộ công cụ SGA, 
MNA, các chỉ số hóa sinh. Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh 
phổi tắc nghẽn mạn tính có suy dinh dưỡng cao, chiếm 
62,2% (theo BMI), trên 50% (theo SGA), 93,4% theo 
MNA. Đo chu vi vòng cánh tay (MAC) có 45,6% bệnh 
nhân có MAC ở ngưỡng có suy dinh dưỡng. Tỷ lệ bệnh 
nhân có Albumin giảm nhẹ chiếm 25,4%, 5,3% bệnh nhân 
có Albumin giảm vừa. Về tình trạng Protein huyết thanh, 
có 28,9% bệnh nhân có chỉ số Protein huyết thanh giảm.
Từ khóa: Tình trạng dinh dưỡng, COPD
SUMMARY: 
NUTRITIONAL STATUS OF HOSPITALIZED 
PATIENTS WITH CHRONIC OBSTRUCTIVE 
PULMONARY DISEASE AT THAI BINH LUNG 
HOSPITAL IN 2017
Cross-sectional study was implemented to describe 
the nutritional status of patients with chronic obstructive 
pulmonary disease (COPD) by Body Mass Index (BMI), 
Mid-arm circumference (MAC), Subjective Global 
Assessment (SGA), Mini-Nutritional Assessment (MNA); 
and biochemical indicators.
The majority of patients with COPD were found to 
be malnourished according to BMI, SGA, MNA (62.2%, 
over 50% and 93.4% respectively). According to MAC, 
45.6% of patients were identified as malnourished. The rate 
of patients who had mild and moderate albumin reduction 
were 25.4% and 5.3% respectively. Protein status, 28.9% of 
patients with COPD had serum protein decline.
Keywords: Nutritional Status, COPD
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đến năm 1997 
trên toàn thế giới đã có khoảng 600 triệu người mắc 
COPD, bệnh xếp hàng thứ tư trong các nguyên nhân gây 
tử vong và đứng thứ 12 trong các nguyên nhân gây tàn 
phế. Suy dinh dưỡng (SDD) là vấn đề thường gặp ở bệnh 
nhân COPD, chiếm tỷ lệ 30-60% số bệnh nhân nội trú và 
chiếm tỷ lệ 20-40% số bệnh nhân ngoại trú. Tỷ lệ tử vong 
ở bệnh nhân COPD thiếu cân cao hơn so với bệnh nhân 
COPD có cân nặng bình thường, béo phì hay thừa cân. 
Tại Việt Nam có rất ít tác giả đề cập cũng như nghiên 
cứu về tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân COPD. Từ 
thực tế trên, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Tình trạng 
dinh dưỡng của bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn 
mạn tính đang điều trị tại Bệnh viện Phổi Thái Bình 
năm 2017”
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tình trạng dinh dưỡng 
của bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang 
điều trị tại Bệnh viện Phổi Thái Bình.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 
CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân từ 18 tuổi trở 
lên đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Phổi Thái Bình được 
chẩn đoán COPD theo tiêu chuẩn của GOLD (2013).
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Thiết kế nghiên cứu: Là một nghiên cứu dịch tễ 
học mô tả có phân tích qua một cuộc điều tra cắt ngang nhằm:
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng khi vào viện và các 
xét nghiệm sinh hóa của bệnh nhân COPD để góp phần 
xây dựng kế hoạch chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân
- Mô tả đặc điểm khẩu phần và mức độ tiêu thụ thực 
phẩm của bệnh nhân COPD
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA BỆNH NHÂN MẮC BỆNH 
PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH 
VIỆN PHỔI THÁI BÌNH NĂM 2017
Nguyễn Thị Thùy Linh1, Vũ Phong Túc2, Ngô Thị Nhu2 
Ngày nhận bài: 20/03/2018 Ngày phản biện: 29/03/2018 Ngày duyệt đăng: 12/04/2018
1. Bệnh viện Phổi Thái Bình
Email: [email protected], SĐT: 0127.629.7029
2. Trường Đại học Y Dược Thái Bình
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn154
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018
2.2. Cỡ mẫu: Toàn bộ bệnh nhân được chẩn đoán là 
COPD theo tiêu chuẩn của GOLD (2013) đang điều trị 
tại Bệnh viện Phổi Thái Bình từ tháng 8/2017 đến tháng 
01/2018
2.3. Cách chọn mẫu: Chọn chủ đích tất cả các bệnh 
nhân được chẩn đoán là COPD nhập viện Bệnh viện Phổi 
Thái Bình từ tháng 8/2017 đến tháng 01/2018
3. Kỹ thuật thu thập số liệu: Kỹ thuật cân, đo chiều 
cao, đo chu vi vòng cánh tay, phỏng vấn bệnh nhân bằng 
bảng câu hỏi đã được thiết kế sẵn, bộ công cụ sàng lọc 
SGA, MNA, các xét nghiệm sinh hóa
Phân tích thông kê: Số liệu được làm sạch trước khi 
nhập vào máy tính, sử dụng chương trình Epi data để nhập 
số liệu. Các dữ liệu được phân tích với ngôn ngữ của phần 
mền Stata 10.0 tại Trường Đại học Y Dược Thái Bình với 
các test thống kê y học.
Đạo đức nghiên cứu: Các đối tượng tham gia vào 
nghiên cứu không phải can thiệp các biện pháp nào. Tuy 
nhiên các đối tượng tham gia nghiên cứu đều có quyền tự 
nguyện tham gia hoặc không tự nguyện tham gia. Các kỹ 
thuật nghiên cứu được thao tác đơn giản cho người bệnh, 
ngoài ra còn giúp ích cho chẩn đoán tình trạng dinh dưỡng 
và đưa lời khuyên trong quá trình điều trị. Người bệnh 
tham gia nghiên cứu được tư vấn về cách dinh dưỡng hợp 
lý, không phải chi trả thêm bất cứ khoản gì từ các hoạt 
động nghiên cứu. 
III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Kết quả bảng 1 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng của 
bệnh nhân COPD theo BMI chiếm đa số (62,2%), tỷ lệ 
suy dinh dưỡng của bệnh nhân COPD ở các nhóm tuổi ≤ 
65 tuổi và >65 tuổi là như nhau. Tuy nhiên, vẫn còn 1,8% 
(n=2) bệnh nhân COPD thừa cân/béo phì.
Theo BMI, đa số bệnh nhân COPD có suy dinh 
dưỡng (chiếm 62,2%), kết quả này tương đương với 
kết quả nghiên cứu “Khảo sát tình trạng dinh dưỡng 
ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 
tại Bệnh viện Bạch Mai” của Đinh Thị Phương Thảo 
(2015) (tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân COPD theo 
BMI là 69,3%) [1]. Tỷ lệ bệnh nhân thừa cân chỉ có 
1,8%, tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu 
của Ciric (2013) cho kết quả tỷ lệ thừa cân là 32,9% 
và béo phì là 17,6% [2].Trên thế giới, ngày càng tăng 
số lượng bệnh nhân COPD thừa cân, béo phì, lý do để 
giải thích cho điều này có thể là do các nước phát triển, 
tỷ lệ thừa cân béo phì tăng trong dân số nói chung, do 
đó tỷ lệ tương ứng là nhiều bệnh nhân COPD thừa cân 
hoặc béo phì.
Bảng 2 cho thấy trong 54 bệnh nhân được đánh 
giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp SGA có 
trên 50% bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng và suy 
dinh dưỡng.
Bảng 1: Phân loại tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân COPD theo BMI
≤ 65 tuổi (n = 54) > 65 tuổi (n = 60) Chung (n = 114)
SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ %
Suy dinh dưỡng 31 57,4 40 66,7 71 62,2
Bình thường 21 38,9 20 33,3 41 36,0
Thừa cân/ Béo phì 2 3,7 0 0 2 1,8
Bảng 2. Tình trạng dinh dưỡng của nhóm bệnh nhân COPD đánh giá bằng phương pháp SGA 
Tình trạng dinh dưỡng
Nam (n = 43) Nữ (n = 11) Chung (n = 54)
SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ %
Bình thường 17 39,6 6 54,5 23 42,6
Nguy cơ SDD 18 41,9 3 27,3 21 38,9
Suy dinh dưỡng 8 18,5 2 18,2 10 18,5
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 155
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Kết quả bảng 3 cho thấy trong 60 bệnh nhân COPD 
được đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp 
MNA có đến 93,4% bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng 
và suy dinh dưỡng.
Trên 50% bệnh nhân được đánh giá bằng phường 
pháp SGA và 93,4% bệnh nhân được đánh giá bằng 
phương pháp MNA có nguy cơ suy dinh dưỡng và 
suy dinh dưỡng. Kết quả này, tương đương với kết 
quả nghiên cứu của Vũ Thị Thanh (2017) (chiếm 
96,6%) [3].
Kết quả bảng 4 cho thấy, theo chu vi vòng cánh tay 
có 42,1% bệnh nhân suy dinh dưỡng vừa và nhẹ, 3,5% 
bệnh nhân có suy dinh dưỡng nặng. Tỷ lệ bệnh nhân có 
tình trạng suy dinh dưỡng vừa và nhẹ theo chu vi vòng 
cánh tay ở độ tuổi ≤ 65 tuổi chiếm 25,9%, >65 tuổi chiếm 
56,7%, tình trạng suy dinh dưỡng nặng theo chu vi vòng 
cánh tay ở hai độ tuổi này là như nhau, sự khác biệt trên 
có ý nghĩa thống kê.
Kết quả này cũng tương đương với nghiên cứu 
của Laaban (1993) trong 50 bệnh nhân có 42% bệnh 
nhân suy dinh dưỡng [4], tương đương với nghiên cứu 
của Đinh Thị Phương Thảo (2015) 51,9% bệnh nhân 
có chỉ số MAC bình thường, 48,1% bệnh nhân có suy 
dinh dưỡng trong đó 41,4%) bệnh nhân suy dinh dưỡng 
nhẹ, chỉ có 6,7% bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng. Tỷ lệ 
bệnh nhân có tình trạng suy dinh dưỡng vừa và nhẹ theo 
chu vi vòng cánh tay ở độ tuổi ≤ 65 tuổi chiếm 25,9%, 
>65 tuổi chiếm 56,7%, tình trạng suy dinh dưỡng nặng 
theo chu vi vòng cánh tay ở hai độ tuổi này là như nhau, 
sự khác biệt trên có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, nếu 
chỉ dựa vào chỉ số MAC thì sẽ gặp sai sót trong các 
trường hợp bệnh nhân có tình trạng tụt cân nhiều trong 
thời gian ngắn nhưng cân nặng và MAC vẫn trên mức 
bình thường nên chưa đặt vào đối tượng đang có suy 
dinh dưỡng tiến triển và dẫn đến bỏ sót những bệnh 
nhân này.
Bảng 3. Tình trạng dinh dưỡng của nhóm bệnh nhân COPD đánh giá bằng phương pháp MNA 
Tình trạng dinh dưỡng
Nam (n = 52) Nữ (n = 8) Chung (n = 60)
SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ %
Bình thường 4 7,7 0 0 4 6,6
Nguy cơ SDD 25 48,1 3 37,5 28 46,7
Suy dinh dưỡng 23 44,2 5 62,5 28 46,7
Bảng 4. Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân theo chu vi vòng cánh tay
Mức độ SDD 
≤ 65 tuổi (1) (n = 54) > 65 tuổi (2) (n = 60) Chung (n = 114)
p(1,2)
SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ %
Bình thường 38 70,4 24 40,0 62 54,4
<0,05SDD vừa và nhẹ 14 25,9 34 56,7 48 42,1
SDD nặng 2 3,7 2 3,3 4 3,5
Bảng 5. Tỷ lệ bệnh nhân giảm Albumin và protein theo nhóm tuổi 
Các chỉ số
≤ 65 tuổi (1) (n = 54) > 65 tuổi (2) (n = 60) Chung (n = 114)
SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ %
Tình trạng Albumin
Bình thường 39 72,2 40 66,7 79 69,3
Giảm nhẹ 12 22,2 17 28,3 29 25,4
Giảm vừa 3 5,6 3 5,0 6 5,3
Tình trạng protein 
huyết thanh
Bình thường 41 75,9 40 66,7 81 71,1
Giảm 13 24,1 20 33,3 33 28,9
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn156
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018
Bảng 5 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có Albumin giảm nhẹ 
chiếm 25,4%, 5,3% bệnh nhân có Albumin giảm vừa. Kết 
quả này thấp hơn nhiều so với kết quả của Đinh Thị Phương 
Thảo (2015): 30,7% bệnh nhân có albumin trong giới hạn 
bình thường, 69,3% bệnh nhân có albumin thấp [1].
Về tình trạng Protein huyết thanh, có 28,9% bệnh 
nhân có chỉ số Protein huyết thanh giảm. Kết quả này 
thấp hơn so với kết quả của Nguyễn Mộc Sơn (2012) 
nghiên cứu trên 187 bệnh nhân mạn tính có 46% bệnh 
nhân có chỉ số protein dưới 60 g/l [5].
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng 
của bệnh nhân COPD theo BMI chiếm tỷ lệ cao 62,2%, tỷ 
lệ suy dinh dưỡng của bệnh nhân COPD ở các nhóm tuổi 
≤ 65 tuổi và >65 tuổi là như nhau. Tỉ lệ này cao hơn so với 
các nghiên cứu ở nước ngoài: Theo nghiên cứu của Gupta 
B và cộng sự tỉ lệ suy dinh dưỡng là 57,8%; nghiên cứu của 
Schols, Vermeeren và cộng sự tỉ lệ suy dinh dưỡng 25-40%; 
nghiên cứu của Sajal De và cộng sự là 38%.
So sánh với các nghiên cứu trong nước cho thấy tỉ lệ 
suy dinh dưỡng là tương đương. Nghiên cứu của Nguyễn 
Đức Long (2014) đánh giá tình trạng dinh dưỡng trên 96 
bệnh nhân BPTNMT tỉ lệ suy dinh dưỡng theo BMI<18,5 
chiếm 67,7%, nghiên cứu của Lê Thị Diễm Tuyết và cộng 
sự (2016) đánh giá tình trạng dinh dưỡng trên 150 bệnh 
nhân BPTNMT tỉ lệ suy dinh dưỡng với BMI <18,5 chiếm 
69,3%. Nghiên cứu của Đinh Thị Phương Thảo (2015) 
đánh giá trình trạng dinh dưỡng trên 150 bệnh nhân 
BPTNMT tỉ lệ suy dinh dưỡng chiếm 69,3% [5]. Nghiên 
cứu của Vũ Thị Thanh (2017), tỉ lệ suy dinh dưỡng chiếm 
73,7% [9].
Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ bệnh nhân thừa 
cân chỉ có 1,8%, tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với các nghiên 
cứu của Ciric (2013) cho kết quả tỷ lệ thừa cân là 32,9% và 
béo phì là 17,6% . Tuy nhiên, so sánh với các nghiên cứu 
trong nước tương đương với kết quả nghiên cứu của Đinh 
Thị Phương Thảo (2015) tỷ lệ bệnh nhân COPD thừa cân 
chiếm 2,7% [5]. Trên thế giới, ngày càng tăng số lượng 
bệnh nhân COPD thừa cân, béo phì, lý do để giải thích cho 
điều này có thể là do các nước phát triển, tỷ lệ thừa cân béo 
phì tăng trong dân số nói chung, do đó tỷ lệ tương ứng là 
nhiều bệnh nhân COPD thừa cân hoặc béo phì.
Phương pháp đánh giá tổng thể SGA hiện nay được 
nhiều nghiên cứu trên thế giới sử dụng để đánh giá tình trạng 
dinh dưỡng cho bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. 
Tuy nhiên phương pháp này chỉ đánh giá cho người ≤65 tuổi. 
Vì vậy, để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho người > 65 
tuổi chúng tôi đã sử dụng phương pháp đánh giá tình trạng 
dinh dưỡng tối thiểu (MNA). Cả hai phương pháp này đều 
có thể đánh giá bệnh nhân trong suốt quá trình mắc bệnh bao 
gồm: Thay đổi về cân nặng, biểu hiện của tình trạng dinh 
dưỡng kém, những đánh giá về lâm sàng của thầy thuốc.
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi có trên 50% 
bệnh nhân được đánh giá bằng phương pháp SGA và 
93,4% bệnh nhân được đánh giá bằng phương pháp MNA 
có nguy cơ suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng. 
Theo nghiên cứu của nước ngoài như: Nghiên cứu 
của Gupta, B và cộng sự trong tổng số 106 bệnh nhân 
BPTNMT nhập viện đánh giá theo SGA có 83% có nguy 
cơ suy dinh dưỡng. Nghiên cứu của Yuceege và cộng sự 
nguy cơ suy dinh dưỡng các mức độ là 41,7%. 
Theo các nghiên cứu trong nước cho thấy: Đặng Thị 
Phương Thảo [7] có 92% bệnh nhân có nguy cơ suy dinh 
dưỡng, Nguyễn Đức Long bệnh nhân có nguy cơ suy dinh 
dưỡng chiếm 89,6%, nghiên cứu của Vũ Thị Thanh (2017) 
96,6% bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng [9], nghiên 
cứu Hogan, Lê Thị Tuyết Lan và cộng sự (2016) đánh giá 
tình trạng dinh dưỡng trên 393 bệnh nhân BPTNMT điều trị 
ngoại trú tại phòng khám hô hấp thành phố Hồ Chí Minh. 
Có nguy cơ suy dinh dưỡng mức độ nhẹ đến vừa chiếm 
31%, nguy cơ suy dinh dưỡng mức độ nặng chiếm 14%.
Theo bảng 4 trong nghiên cứu của chúng tôi thấy có 
54,4% bệnh nhân có chỉ số chu vi vòng cánh tay bình 
thường, 42,1% bệnh nhân suy dinh dưỡng vừa và nhẹ, 
3,5% bệnh nhân có suy dinh dưỡng nặng.
Kết quả này tương đương với nghiên cứu của Laaban 
(1993) trong 50 bệnh nhân có 42% bệnh nhân suy dinh 
dưỡng, tương đương với nghiên cứu của Đinh Thị Phương 
Thảo (2015) 51,9% bệnh nhân có chỉ số MAC bình 
thường, 48,1% bệnh nhân có suy dinh dưỡng trong đó 
41,4% bệnh nhân suy dinh dưỡng nhẹ, chỉ có 6,7% bệnh 
nhân suy dinh dưỡng nặng [5], tương đương với nghiên 
cứu của Nguyễn Đức Long (2014) 61,4% bệnh nhân có 
chỉ số MAC bình thường, 39,6% bệnh nhân có suy dinh 
dưỡng trong đó 29,2% bệnh nhân suy dinh dưỡng nhẹ, chỉ 
có 9,4% bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng .
Tỷ lệ bệnh nhân có tình trạng suy dinh dưỡng vừa 
và nhẹ theo chu vi vòng cánh tay ở độ tuổi ≤ 65 tuổi 
chiếm 25,9%, >65 tuổi chiếm 56,7%, tình trạng suy dinh 
dưỡng nặng theo chu vi vòng cánh tay ở hai độ tuổi này 
là như nhau, sự khác biệt trên có ý nghĩa thống kê. Tuy 
nhiên, nếu chỉ dựa vào chỉ số MAC thì sẽ gặp sai sót 
trong các trường hợp bệnh nhân có tình trạng tụt cân 
nhiều trong thời gian ngắn nhưng cân nặng và MAC vẫn 
trên mức bình thường nên chưa đặt vào đối tượng đang 
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 157
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
có suy dinh dưỡng tiến triển và dẫn đến bỏ sót những 
bệnh nhân này.
- Chỉ số Albumin: Trong bảng 5 cho thấy tỷ lệ bệnh 
nhân có Albumin giảm nhẹ chiếm 25,4%, 5,3% bệnh nhân 
có Albumin giảm vừa. 
Nghiên cứu trong nước của Nguyễn Đức Long chỉ số 
albumin giảm nặng<25g/l là 16,6% , nghiên cứu Đặng Thị 
Phương Thảo là 27,3% albumin giảm <28g/l [5], nghiên 
cứu của Vũ Thị Thanh (2017) là albumin <21g/l chiếm 
2,7%, albumin 21-27g/l chiếm 34,8%, albumin 28-34g/l 
chiếm 52,7% [7].
Nghiên cứu trên thế giới: Laaban (1993) có 4% bệnh 
nhân có chỉ số Albumin giảm nặng.
Albumin máu trung bình là 37,8 ± 5,3g/l, ở đối tượng 
≤ 65 tuổi có Albumin máu trung bình là 38,8g/l, đối tượng 
> 65 tuổi có Albumin máu trung bình là 36,8 g/l, sự khác 
biệt về Albumin máu của hai nhóm tuổi này có ý nghĩa 
thống kê
- Chỉ số Protein toàn phần: Trong bảng 3.8 cho thấy 
28,9% bệnh nhân có chỉ số Protein toàn phần giảm
Nghiên cứu trong nước của Đinh Thị Phương Thảo chỉ 
số protein toàn phần <60g/l là 52,7% [5], Nguyễn Mộc Sơn 
nghiên cứu trên 187 bệnh nhân mạn tính điều trị tại khoa 
ICU chỉ số protein toàn phần <60g/l là 46%, Vũ Thị Thanh 
chỉ số protein toàn phần <66g/l chiếm 74,6% [7].
V. KẾT LUẬN
Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 
có suy dinh dưỡng cao, chiếm 62,2% (theo BMI), trên 
50% (theo SGA), 93,4% theo MNA
Đo chu vi vòng cánh tay (MAC) có 45,6% bệnh nhân 
có MAC ở ngưỡng có suy dinh dưỡng
Tỷ lệ bệnh nhân có Albumin giảm nhẹ chiếm 25,4%, 
5,3% bệnh nhân có Albumin giảm vừa. Về tình trạng 
Protein huyết thanh, có 28,9% bệnh nhân có chỉ số Protein 
huyết thanh giảm.
1. Bộ môn sinh lý Trường Đại học Y Hà Nội. ( 2007). Sinh lý học, NXB Yhọc, 140-141.
2. Đỗ Thị Lương, Vũ Văn Giáp, Phạm Duy Tường (2016). Tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân bệnh phổi tắc 
nghẽn mạn tính giai đoạn ổn định và một số yếu tố liên quan tại BV bạch Mai năm 2015 
3. Cai B, et al. (2003). Effect of supplementing a high-fat, low-carbohydrate enteral formula in COPD patients. 
Nutrition, 19, 229-32.
4. Cano, N.J., et al. (2002). Nutritional depletion in patients on long-termoxygen therapy and/or home mechanical 
ventilation. Eur Respir J, 20,30-7.
5. Đinh Thị Phương Thảo; Lê Thị Diễm Tuyết; Trần Thị Phúc Nguyệt, (2015). Khảo sát tình trạng dinh dưỡng ở 
bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại BV Bạch Mai năm 2014 
6. Ciric, Z., et al. (2013). Nutrition disorder and systemic inflammation in patients with chronic obstructive 
pulmonary disease. Med Glas (Zenica), 10, 266-71.
7. Vũ Thị Thanh (2017). Hiệu quả chế độ dinh dưỡng giàu lipid trong điều trị bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc 
nghẽn mạn tính thở máy.
8. Laaban, J.P., et al. (1993). Nutritional status of patients with chronic obstructive pulmonary disease and acute 
respiratory failure. Chest. 103, 1362-8.
9. Nguyễn Mộc Sơn. (2012). Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân tại khoa HSCC Bệnh viện Bạch Mai, 
khóa luận tốt nghiện bác sỹ đa khoa, ĐH Y Hà Nội, Hà Nội.
10. Trần Thị Minh Hạnh. (2011). Đánh giá tình trạng dinh dưỡng. Dinh dưỡng học, NXB Y học, 143 – 164.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

File đính kèm:

  • pdftinh_trang_dinh_duong_cua_benh_nhan_mac_benh_phoi_tac_nghen.pdf