Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang điều trị tại Bệnh viện Phổi Thái Bình năm 2017
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang,
mô tả tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân COPD thông
qua các chỉ số BMI, chu vi vòng cánh tay, đánh giá tình
trạng dinh dưỡng của bệnh nhân qua bộ công cụ SGA,
MNA, các chỉ số hóa sinh. Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính có suy dinh dưỡng cao, chiếm
62,2% (theo BMI), trên 50% (theo SGA), 93,4% theo
MNA. Đo chu vi vòng cánh tay (MAC) có 45,6% bệnh
nhân có MAC ở ngưỡng có suy dinh dưỡng. Tỷ lệ bệnh
nhân có Albumin giảm nhẹ chiếm 25,4%, 5,3% bệnh nhân
có Albumin giảm vừa. Về tình trạng Protein huyết thanh,
có 28,9% bệnh nhân có chỉ số Protein huyết thanh giảm
Bạn đang xem tài liệu "Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang điều trị tại Bệnh viện Phổi Thái Bình năm 2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang điều trị tại Bệnh viện Phổi Thái Bình năm 2017
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 153 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TÓM TẮT Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, mô tả tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân COPD thông qua các chỉ số BMI, chu vi vòng cánh tay, đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân qua bộ công cụ SGA, MNA, các chỉ số hóa sinh. Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có suy dinh dưỡng cao, chiếm 62,2% (theo BMI), trên 50% (theo SGA), 93,4% theo MNA. Đo chu vi vòng cánh tay (MAC) có 45,6% bệnh nhân có MAC ở ngưỡng có suy dinh dưỡng. Tỷ lệ bệnh nhân có Albumin giảm nhẹ chiếm 25,4%, 5,3% bệnh nhân có Albumin giảm vừa. Về tình trạng Protein huyết thanh, có 28,9% bệnh nhân có chỉ số Protein huyết thanh giảm. Từ khóa: Tình trạng dinh dưỡng, COPD SUMMARY: NUTRITIONAL STATUS OF HOSPITALIZED PATIENTS WITH CHRONIC OBSTRUCTIVE PULMONARY DISEASE AT THAI BINH LUNG HOSPITAL IN 2017 Cross-sectional study was implemented to describe the nutritional status of patients with chronic obstructive pulmonary disease (COPD) by Body Mass Index (BMI), Mid-arm circumference (MAC), Subjective Global Assessment (SGA), Mini-Nutritional Assessment (MNA); and biochemical indicators. The majority of patients with COPD were found to be malnourished according to BMI, SGA, MNA (62.2%, over 50% and 93.4% respectively). According to MAC, 45.6% of patients were identified as malnourished. The rate of patients who had mild and moderate albumin reduction were 25.4% and 5.3% respectively. Protein status, 28.9% of patients with COPD had serum protein decline. Keywords: Nutritional Status, COPD I. ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đến năm 1997 trên toàn thế giới đã có khoảng 600 triệu người mắc COPD, bệnh xếp hàng thứ tư trong các nguyên nhân gây tử vong và đứng thứ 12 trong các nguyên nhân gây tàn phế. Suy dinh dưỡng (SDD) là vấn đề thường gặp ở bệnh nhân COPD, chiếm tỷ lệ 30-60% số bệnh nhân nội trú và chiếm tỷ lệ 20-40% số bệnh nhân ngoại trú. Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân COPD thiếu cân cao hơn so với bệnh nhân COPD có cân nặng bình thường, béo phì hay thừa cân. Tại Việt Nam có rất ít tác giả đề cập cũng như nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân COPD. Từ thực tế trên, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang điều trị tại Bệnh viện Phổi Thái Bình năm 2017” Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang điều trị tại Bệnh viện Phổi Thái Bình. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Phổi Thái Bình được chẩn đoán COPD theo tiêu chuẩn của GOLD (2013). 2. Phương pháp nghiên cứu 2.1. Thiết kế nghiên cứu: Là một nghiên cứu dịch tễ học mô tả có phân tích qua một cuộc điều tra cắt ngang nhằm: - Đánh giá tình trạng dinh dưỡng khi vào viện và các xét nghiệm sinh hóa của bệnh nhân COPD để góp phần xây dựng kế hoạch chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân - Mô tả đặc điểm khẩu phần và mức độ tiêu thụ thực phẩm của bệnh nhân COPD TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA BỆNH NHÂN MẮC BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN PHỔI THÁI BÌNH NĂM 2017 Nguyễn Thị Thùy Linh1, Vũ Phong Túc2, Ngô Thị Nhu2 Ngày nhận bài: 20/03/2018 Ngày phản biện: 29/03/2018 Ngày duyệt đăng: 12/04/2018 1. Bệnh viện Phổi Thái Bình Email: [email protected], SĐT: 0127.629.7029 2. Trường Đại học Y Dược Thái Bình SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn154 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 2.2. Cỡ mẫu: Toàn bộ bệnh nhân được chẩn đoán là COPD theo tiêu chuẩn của GOLD (2013) đang điều trị tại Bệnh viện Phổi Thái Bình từ tháng 8/2017 đến tháng 01/2018 2.3. Cách chọn mẫu: Chọn chủ đích tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán là COPD nhập viện Bệnh viện Phổi Thái Bình từ tháng 8/2017 đến tháng 01/2018 3. Kỹ thuật thu thập số liệu: Kỹ thuật cân, đo chiều cao, đo chu vi vòng cánh tay, phỏng vấn bệnh nhân bằng bảng câu hỏi đã được thiết kế sẵn, bộ công cụ sàng lọc SGA, MNA, các xét nghiệm sinh hóa Phân tích thông kê: Số liệu được làm sạch trước khi nhập vào máy tính, sử dụng chương trình Epi data để nhập số liệu. Các dữ liệu được phân tích với ngôn ngữ của phần mền Stata 10.0 tại Trường Đại học Y Dược Thái Bình với các test thống kê y học. Đạo đức nghiên cứu: Các đối tượng tham gia vào nghiên cứu không phải can thiệp các biện pháp nào. Tuy nhiên các đối tượng tham gia nghiên cứu đều có quyền tự nguyện tham gia hoặc không tự nguyện tham gia. Các kỹ thuật nghiên cứu được thao tác đơn giản cho người bệnh, ngoài ra còn giúp ích cho chẩn đoán tình trạng dinh dưỡng và đưa lời khuyên trong quá trình điều trị. Người bệnh tham gia nghiên cứu được tư vấn về cách dinh dưỡng hợp lý, không phải chi trả thêm bất cứ khoản gì từ các hoạt động nghiên cứu. III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Kết quả bảng 1 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng của bệnh nhân COPD theo BMI chiếm đa số (62,2%), tỷ lệ suy dinh dưỡng của bệnh nhân COPD ở các nhóm tuổi ≤ 65 tuổi và >65 tuổi là như nhau. Tuy nhiên, vẫn còn 1,8% (n=2) bệnh nhân COPD thừa cân/béo phì. Theo BMI, đa số bệnh nhân COPD có suy dinh dưỡng (chiếm 62,2%), kết quả này tương đương với kết quả nghiên cứu “Khảo sát tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Bệnh viện Bạch Mai” của Đinh Thị Phương Thảo (2015) (tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân COPD theo BMI là 69,3%) [1]. Tỷ lệ bệnh nhân thừa cân chỉ có 1,8%, tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu của Ciric (2013) cho kết quả tỷ lệ thừa cân là 32,9% và béo phì là 17,6% [2].Trên thế giới, ngày càng tăng số lượng bệnh nhân COPD thừa cân, béo phì, lý do để giải thích cho điều này có thể là do các nước phát triển, tỷ lệ thừa cân béo phì tăng trong dân số nói chung, do đó tỷ lệ tương ứng là nhiều bệnh nhân COPD thừa cân hoặc béo phì. Bảng 2 cho thấy trong 54 bệnh nhân được đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp SGA có trên 50% bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng. Bảng 1: Phân loại tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân COPD theo BMI ≤ 65 tuổi (n = 54) > 65 tuổi (n = 60) Chung (n = 114) SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ % Suy dinh dưỡng 31 57,4 40 66,7 71 62,2 Bình thường 21 38,9 20 33,3 41 36,0 Thừa cân/ Béo phì 2 3,7 0 0 2 1,8 Bảng 2. Tình trạng dinh dưỡng của nhóm bệnh nhân COPD đánh giá bằng phương pháp SGA Tình trạng dinh dưỡng Nam (n = 43) Nữ (n = 11) Chung (n = 54) SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ % Bình thường 17 39,6 6 54,5 23 42,6 Nguy cơ SDD 18 41,9 3 27,3 21 38,9 Suy dinh dưỡng 8 18,5 2 18,2 10 18,5 SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 155 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Kết quả bảng 3 cho thấy trong 60 bệnh nhân COPD được đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp MNA có đến 93,4% bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng. Trên 50% bệnh nhân được đánh giá bằng phường pháp SGA và 93,4% bệnh nhân được đánh giá bằng phương pháp MNA có nguy cơ suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng. Kết quả này, tương đương với kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Thanh (2017) (chiếm 96,6%) [3]. Kết quả bảng 4 cho thấy, theo chu vi vòng cánh tay có 42,1% bệnh nhân suy dinh dưỡng vừa và nhẹ, 3,5% bệnh nhân có suy dinh dưỡng nặng. Tỷ lệ bệnh nhân có tình trạng suy dinh dưỡng vừa và nhẹ theo chu vi vòng cánh tay ở độ tuổi ≤ 65 tuổi chiếm 25,9%, >65 tuổi chiếm 56,7%, tình trạng suy dinh dưỡng nặng theo chu vi vòng cánh tay ở hai độ tuổi này là như nhau, sự khác biệt trên có ý nghĩa thống kê. Kết quả này cũng tương đương với nghiên cứu của Laaban (1993) trong 50 bệnh nhân có 42% bệnh nhân suy dinh dưỡng [4], tương đương với nghiên cứu của Đinh Thị Phương Thảo (2015) 51,9% bệnh nhân có chỉ số MAC bình thường, 48,1% bệnh nhân có suy dinh dưỡng trong đó 41,4%) bệnh nhân suy dinh dưỡng nhẹ, chỉ có 6,7% bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng. Tỷ lệ bệnh nhân có tình trạng suy dinh dưỡng vừa và nhẹ theo chu vi vòng cánh tay ở độ tuổi ≤ 65 tuổi chiếm 25,9%, >65 tuổi chiếm 56,7%, tình trạng suy dinh dưỡng nặng theo chu vi vòng cánh tay ở hai độ tuổi này là như nhau, sự khác biệt trên có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào chỉ số MAC thì sẽ gặp sai sót trong các trường hợp bệnh nhân có tình trạng tụt cân nhiều trong thời gian ngắn nhưng cân nặng và MAC vẫn trên mức bình thường nên chưa đặt vào đối tượng đang có suy dinh dưỡng tiến triển và dẫn đến bỏ sót những bệnh nhân này. Bảng 3. Tình trạng dinh dưỡng của nhóm bệnh nhân COPD đánh giá bằng phương pháp MNA Tình trạng dinh dưỡng Nam (n = 52) Nữ (n = 8) Chung (n = 60) SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ % Bình thường 4 7,7 0 0 4 6,6 Nguy cơ SDD 25 48,1 3 37,5 28 46,7 Suy dinh dưỡng 23 44,2 5 62,5 28 46,7 Bảng 4. Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân theo chu vi vòng cánh tay Mức độ SDD ≤ 65 tuổi (1) (n = 54) > 65 tuổi (2) (n = 60) Chung (n = 114) p(1,2) SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ % Bình thường 38 70,4 24 40,0 62 54,4 <0,05SDD vừa và nhẹ 14 25,9 34 56,7 48 42,1 SDD nặng 2 3,7 2 3,3 4 3,5 Bảng 5. Tỷ lệ bệnh nhân giảm Albumin và protein theo nhóm tuổi Các chỉ số ≤ 65 tuổi (1) (n = 54) > 65 tuổi (2) (n = 60) Chung (n = 114) SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ % Tình trạng Albumin Bình thường 39 72,2 40 66,7 79 69,3 Giảm nhẹ 12 22,2 17 28,3 29 25,4 Giảm vừa 3 5,6 3 5,0 6 5,3 Tình trạng protein huyết thanh Bình thường 41 75,9 40 66,7 81 71,1 Giảm 13 24,1 20 33,3 33 28,9 SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn156 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 Bảng 5 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có Albumin giảm nhẹ chiếm 25,4%, 5,3% bệnh nhân có Albumin giảm vừa. Kết quả này thấp hơn nhiều so với kết quả của Đinh Thị Phương Thảo (2015): 30,7% bệnh nhân có albumin trong giới hạn bình thường, 69,3% bệnh nhân có albumin thấp [1]. Về tình trạng Protein huyết thanh, có 28,9% bệnh nhân có chỉ số Protein huyết thanh giảm. Kết quả này thấp hơn so với kết quả của Nguyễn Mộc Sơn (2012) nghiên cứu trên 187 bệnh nhân mạn tính có 46% bệnh nhân có chỉ số protein dưới 60 g/l [5]. IV. BÀN LUẬN Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng của bệnh nhân COPD theo BMI chiếm tỷ lệ cao 62,2%, tỷ lệ suy dinh dưỡng của bệnh nhân COPD ở các nhóm tuổi ≤ 65 tuổi và >65 tuổi là như nhau. Tỉ lệ này cao hơn so với các nghiên cứu ở nước ngoài: Theo nghiên cứu của Gupta B và cộng sự tỉ lệ suy dinh dưỡng là 57,8%; nghiên cứu của Schols, Vermeeren và cộng sự tỉ lệ suy dinh dưỡng 25-40%; nghiên cứu của Sajal De và cộng sự là 38%. So sánh với các nghiên cứu trong nước cho thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng là tương đương. Nghiên cứu của Nguyễn Đức Long (2014) đánh giá tình trạng dinh dưỡng trên 96 bệnh nhân BPTNMT tỉ lệ suy dinh dưỡng theo BMI<18,5 chiếm 67,7%, nghiên cứu của Lê Thị Diễm Tuyết và cộng sự (2016) đánh giá tình trạng dinh dưỡng trên 150 bệnh nhân BPTNMT tỉ lệ suy dinh dưỡng với BMI <18,5 chiếm 69,3%. Nghiên cứu của Đinh Thị Phương Thảo (2015) đánh giá trình trạng dinh dưỡng trên 150 bệnh nhân BPTNMT tỉ lệ suy dinh dưỡng chiếm 69,3% [5]. Nghiên cứu của Vũ Thị Thanh (2017), tỉ lệ suy dinh dưỡng chiếm 73,7% [9]. Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ bệnh nhân thừa cân chỉ có 1,8%, tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu của Ciric (2013) cho kết quả tỷ lệ thừa cân là 32,9% và béo phì là 17,6% . Tuy nhiên, so sánh với các nghiên cứu trong nước tương đương với kết quả nghiên cứu của Đinh Thị Phương Thảo (2015) tỷ lệ bệnh nhân COPD thừa cân chiếm 2,7% [5]. Trên thế giới, ngày càng tăng số lượng bệnh nhân COPD thừa cân, béo phì, lý do để giải thích cho điều này có thể là do các nước phát triển, tỷ lệ thừa cân béo phì tăng trong dân số nói chung, do đó tỷ lệ tương ứng là nhiều bệnh nhân COPD thừa cân hoặc béo phì. Phương pháp đánh giá tổng thể SGA hiện nay được nhiều nghiên cứu trên thế giới sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Tuy nhiên phương pháp này chỉ đánh giá cho người ≤65 tuổi. Vì vậy, để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho người > 65 tuổi chúng tôi đã sử dụng phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng tối thiểu (MNA). Cả hai phương pháp này đều có thể đánh giá bệnh nhân trong suốt quá trình mắc bệnh bao gồm: Thay đổi về cân nặng, biểu hiện của tình trạng dinh dưỡng kém, những đánh giá về lâm sàng của thầy thuốc. Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi có trên 50% bệnh nhân được đánh giá bằng phương pháp SGA và 93,4% bệnh nhân được đánh giá bằng phương pháp MNA có nguy cơ suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng. Theo nghiên cứu của nước ngoài như: Nghiên cứu của Gupta, B và cộng sự trong tổng số 106 bệnh nhân BPTNMT nhập viện đánh giá theo SGA có 83% có nguy cơ suy dinh dưỡng. Nghiên cứu của Yuceege và cộng sự nguy cơ suy dinh dưỡng các mức độ là 41,7%. Theo các nghiên cứu trong nước cho thấy: Đặng Thị Phương Thảo [7] có 92% bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng, Nguyễn Đức Long bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng chiếm 89,6%, nghiên cứu của Vũ Thị Thanh (2017) 96,6% bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng [9], nghiên cứu Hogan, Lê Thị Tuyết Lan và cộng sự (2016) đánh giá tình trạng dinh dưỡng trên 393 bệnh nhân BPTNMT điều trị ngoại trú tại phòng khám hô hấp thành phố Hồ Chí Minh. Có nguy cơ suy dinh dưỡng mức độ nhẹ đến vừa chiếm 31%, nguy cơ suy dinh dưỡng mức độ nặng chiếm 14%. Theo bảng 4 trong nghiên cứu của chúng tôi thấy có 54,4% bệnh nhân có chỉ số chu vi vòng cánh tay bình thường, 42,1% bệnh nhân suy dinh dưỡng vừa và nhẹ, 3,5% bệnh nhân có suy dinh dưỡng nặng. Kết quả này tương đương với nghiên cứu của Laaban (1993) trong 50 bệnh nhân có 42% bệnh nhân suy dinh dưỡng, tương đương với nghiên cứu của Đinh Thị Phương Thảo (2015) 51,9% bệnh nhân có chỉ số MAC bình thường, 48,1% bệnh nhân có suy dinh dưỡng trong đó 41,4% bệnh nhân suy dinh dưỡng nhẹ, chỉ có 6,7% bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng [5], tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Đức Long (2014) 61,4% bệnh nhân có chỉ số MAC bình thường, 39,6% bệnh nhân có suy dinh dưỡng trong đó 29,2% bệnh nhân suy dinh dưỡng nhẹ, chỉ có 9,4% bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng . Tỷ lệ bệnh nhân có tình trạng suy dinh dưỡng vừa và nhẹ theo chu vi vòng cánh tay ở độ tuổi ≤ 65 tuổi chiếm 25,9%, >65 tuổi chiếm 56,7%, tình trạng suy dinh dưỡng nặng theo chu vi vòng cánh tay ở hai độ tuổi này là như nhau, sự khác biệt trên có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào chỉ số MAC thì sẽ gặp sai sót trong các trường hợp bệnh nhân có tình trạng tụt cân nhiều trong thời gian ngắn nhưng cân nặng và MAC vẫn trên mức bình thường nên chưa đặt vào đối tượng đang SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 157 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC có suy dinh dưỡng tiến triển và dẫn đến bỏ sót những bệnh nhân này. - Chỉ số Albumin: Trong bảng 5 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có Albumin giảm nhẹ chiếm 25,4%, 5,3% bệnh nhân có Albumin giảm vừa. Nghiên cứu trong nước của Nguyễn Đức Long chỉ số albumin giảm nặng<25g/l là 16,6% , nghiên cứu Đặng Thị Phương Thảo là 27,3% albumin giảm <28g/l [5], nghiên cứu của Vũ Thị Thanh (2017) là albumin <21g/l chiếm 2,7%, albumin 21-27g/l chiếm 34,8%, albumin 28-34g/l chiếm 52,7% [7]. Nghiên cứu trên thế giới: Laaban (1993) có 4% bệnh nhân có chỉ số Albumin giảm nặng. Albumin máu trung bình là 37,8 ± 5,3g/l, ở đối tượng ≤ 65 tuổi có Albumin máu trung bình là 38,8g/l, đối tượng > 65 tuổi có Albumin máu trung bình là 36,8 g/l, sự khác biệt về Albumin máu của hai nhóm tuổi này có ý nghĩa thống kê - Chỉ số Protein toàn phần: Trong bảng 3.8 cho thấy 28,9% bệnh nhân có chỉ số Protein toàn phần giảm Nghiên cứu trong nước của Đinh Thị Phương Thảo chỉ số protein toàn phần <60g/l là 52,7% [5], Nguyễn Mộc Sơn nghiên cứu trên 187 bệnh nhân mạn tính điều trị tại khoa ICU chỉ số protein toàn phần <60g/l là 46%, Vũ Thị Thanh chỉ số protein toàn phần <66g/l chiếm 74,6% [7]. V. KẾT LUẬN Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có suy dinh dưỡng cao, chiếm 62,2% (theo BMI), trên 50% (theo SGA), 93,4% theo MNA Đo chu vi vòng cánh tay (MAC) có 45,6% bệnh nhân có MAC ở ngưỡng có suy dinh dưỡng Tỷ lệ bệnh nhân có Albumin giảm nhẹ chiếm 25,4%, 5,3% bệnh nhân có Albumin giảm vừa. Về tình trạng Protein huyết thanh, có 28,9% bệnh nhân có chỉ số Protein huyết thanh giảm. 1. Bộ môn sinh lý Trường Đại học Y Hà Nội. ( 2007). Sinh lý học, NXB Yhọc, 140-141. 2. Đỗ Thị Lương, Vũ Văn Giáp, Phạm Duy Tường (2016). Tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn ổn định và một số yếu tố liên quan tại BV bạch Mai năm 2015 3. Cai B, et al. (2003). Effect of supplementing a high-fat, low-carbohydrate enteral formula in COPD patients. Nutrition, 19, 229-32. 4. Cano, N.J., et al. (2002). Nutritional depletion in patients on long-termoxygen therapy and/or home mechanical ventilation. Eur Respir J, 20,30-7. 5. Đinh Thị Phương Thảo; Lê Thị Diễm Tuyết; Trần Thị Phúc Nguyệt, (2015). Khảo sát tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại BV Bạch Mai năm 2014 6. Ciric, Z., et al. (2013). Nutrition disorder and systemic inflammation in patients with chronic obstructive pulmonary disease. Med Glas (Zenica), 10, 266-71. 7. Vũ Thị Thanh (2017). Hiệu quả chế độ dinh dưỡng giàu lipid trong điều trị bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thở máy. 8. Laaban, J.P., et al. (1993). Nutritional status of patients with chronic obstructive pulmonary disease and acute respiratory failure. Chest. 103, 1362-8. 9. Nguyễn Mộc Sơn. (2012). Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân tại khoa HSCC Bệnh viện Bạch Mai, khóa luận tốt nghiện bác sỹ đa khoa, ĐH Y Hà Nội, Hà Nội. 10. Trần Thị Minh Hạnh. (2011). Đánh giá tình trạng dinh dưỡng. Dinh dưỡng học, NXB Y học, 143 – 164. TÀI LIỆU THAM KHẢO
File đính kèm:
tinh_trang_dinh_duong_cua_benh_nhan_mac_benh_phoi_tac_nghen.pdf

