Tính khả thi của một phương thức thay thế so với khám theo dõi thường quy sau phá thai nội khoa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Mục tiêu: Đánh giá độ an toàn và hiệu quả của que thử thai bán định

lượng và đánh giá qua điện thoại bằng bộ phỏng vấn tự trả lời.

Đối tượng và phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng có so sánh. Chọn

toàn bộ phụ nữ phá thai nội khoa tại Bệnh viện Phụ sản TW từ 9/2010-

6/2011. Các phụ nữ được phân ngẫu nhiên vào 2 nhóm: nhóm thường

quy và nhóm thay thế. Nhóm thay thế được thử thai bán định lượng lần

đầu tại phòng khám, được cấp 1 bảng câu hỏi và một test thử thai tại

nhà, và cung cấp thông tin, hẹn tái khám qua điện thoại.

Kết quả: Chỉ 24 phụ nữ trong nhóm phương thức thay thế cần thiết

quay lại phòng khám, giúp giảm 90,3% số người đến phòng khám. Test

thử thai bán định lượng có độ nhạy 98,3%, độ đặc hiệu 100 % khi phát

hiện 4/4 trường hợp thai còn phát triển. Tuy nhiên, các câu hỏi trong

bảng kiểm đều có độ nhạy tương đối thấp. Phương thức theo dõi thay

thế được phụ nữ chấp nhận và đánh giá sử dụng dễ dàng.

Kết luận: Nghiên cứu chỉ ra sử dụng test thử thai bán định lượng và

bộ câu hỏi tự trả lởi có độ an toàn và hiệu quả cao với độ nhậy 98,3%,

độ đặc hiệu 100%;

pdf 5 trang phuongnguyen 200
Bạn đang xem tài liệu "Tính khả thi của một phương thức thay thế so với khám theo dõi thường quy sau phá thai nội khoa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tính khả thi của một phương thức thay thế so với khám theo dõi thường quy sau phá thai nội khoa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Tính khả thi của một phương thức thay thế so với khám theo dõi thường quy sau phá thai nội khoa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 147 - 151, 2016
147
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Nguyễn Thị Hồng Minh(1), Phạm Thị Thanh Hiền(2), Dương Lan Dung(1), Nguyễn Thị Huyền Linh(1)
(1) Bệnh viện Phụ sản Trung ương, (2 )Trường Đại học Y Hà Nội
TÍNH KHẢ THI CỦA MỘT PHƯƠNG THỨC THAY THẾ 
SO VỚI KHÁM THEO DÕI THƯỜNG QUY
SAU PHÁ THAI NỘI KHOA 
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá độ an toàn và hiệu quả của que thử thai bán định 
lượng và đánh giá qua điện thoại bằng bộ phỏng vấn tự trả lời. 
Đối tượng và phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng có so sánh. Chọn 
toàn bộ phụ nữ phá thai nội khoa tại Bệnh viện Phụ sản TW từ 9/2010-
6/2011. Các phụ nữ được phân ngẫu nhiên vào 2 nhóm: nhóm thường 
quy và nhóm thay thế. Nhóm thay thế được thử thai bán định lượng lần 
đầu tại phòng khám, được cấp 1 bảng câu hỏi và một test thử thai tại 
nhà, và cung cấp thông tin, hẹn tái khám qua điện thoại. 
Kết quả: Chỉ 24 phụ nữ trong nhóm phương thức thay thế cần thiết 
quay lại phòng khám, giúp giảm 90,3% số người đến phòng khám. Test 
thử thai bán định lượng có độ nhạy 98,3%, độ đặc hiệu 100 % khi phát 
hiện 4/4 trường hợp thai còn phát triển. Tuy nhiên, các câu hỏi trong 
bảng kiểm đều có độ nhạy tương đối thấp. Phương thức theo dõi thay 
thế được phụ nữ chấp nhận và đánh giá sử dụng dễ dàng. 
Kết luận: Nghiên cứu chỉ ra sử dụng test thử thai bán định lượng và 
bộ câu hỏi tự trả lởi có độ an toàn và hiệu quả cao với độ nhậy 98,3%, 
độ đặc hiệu 100%;
Từ khóa: Phá thai nội khoa, test thử thai bán định lượng.
Abstract 
THE ACCEPTANCE AND FEASIBILITY OF A 
ALTERNATIVE PROTOCOL AFTER MEDICAL 
ABORTION IN NATIONAL HOSPITAL OF 
OBSTETRICS AND GYNECOLOGY
Objective: Evaluate the safety and effective of an alternative (pregnancy 
test semi-quantitative and self –assessment questionnaire via phone). 
Methods: a clinical trial with comparison was conducted. Whole 
medical abortion women in the National Hospital of Obstetric and 
Gynecology from Sep 2010 to Jun 2011 were selected. The women 
were randomized into 2 groups: routine and alternative groups. 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thị Hồng Minh,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted):20/04/2016
Từ khoá: Phá thai nội khoa, test 
thử thai bán định lượng. 
Keywords: Medical abortion; 
pregnancy test semi-quantitative.
NGUYỄN THỊ HỒNG MINH, PHẠM THỊ THANH HIỀN, DƯƠNG LAN DUNG, NGUYỄN THỊ HUYỀN LINH
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
148
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Alternative group had a semi-quantitative pregnancy test at the clinic for the first time, was provided 
self-assessment questionnaire and a pregnancy test to bring home, and provide the relevant 
information and re-examination scheduled via phone. 
Results: Only 24 women in the alternative group were invited to come back to clinics, decreased 
90,3% number of patients. Semi-quantitative pregnancy test had a sensitivity of 98.3 % , a specificity of 
100 % when when detecting 4/4 ongoing-pregnancy. However, all questionnaires in the check list have 
a low sensitivity. The alternative protocol was acceptable to the women and assessed as easy to use. 
Conclusion: Research indicates pregnancy test using semi-quantitative questionnaire replies 
themselves with the safety and efficiency of a sensitivity 98.3 % , specificity of 100 %. 
Key words: medical abortion; pregnancy test semi-quantitative
1. Đặt vấn đề
Phá thai nội khoa có tỷ lệ thành công cao từ 
92%-97% (1). Tuy nhiên, tái khám theo dõi thường 
quy đối với phá thai nội khoa là cần thiết để đánh 
giá thai đã sẩy hoàn toàn và cần có thêm những 
chăm sóc tiếp theo hay không. 
Tại nhiều cơ sở y tế, phá thai nội khoa đòi hỏi ít 
nhất là hai, ba lần đến tại phòng khám. Lần khám 
thứ ba hay khám “theo dõi” thực hiện khoảng 7-14 
ngày sau uống mifepristone. Tái khám theo dõi 
nhằm mục đích chính là xác định thai đã sẩy trọn và 
có cần thêm chăm sóc tiếp theo nào liên quan đến 
tai biến của phá thai không. Theo dõi thường quy có 
một số hạn chế như tăng chi phí, mất thời gian,...
Tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy phần lớn 
những phụ nữ này không cần điều trị gì thêm. Đa 
phần những phác đồ thường được sử dụng có hiệu 
quả rất cao với tỉ lệ chỉ 2-5% cần phải hút do sẩy 
không trọn (2). Số phụ nữ cần điều trị tiếp theo vì 
những nguyên nhân khác cũng thấp. Chảy máu 
nhiều đến mức độ cần truyền máu vô cùng hiếm, 
dưới 1‰ (3). Tại Mỹ, nhiễm trùng nặng (viêm 
nhiễm cần dùng kháng sinh đường tĩnh mạch và/
hoặc phải nhập viện) cũng khá ít gặp, chỉ 2‰ 
trong tổng số phụ nữ phá thai tham gia nghiên 
cứu (4). Trong những nghiên cứu lâm sàng, số lần 
khám lại theo thường quy tại phòng khám là một 
trong những lý do khiến cho các phụ nữ không 
chọn phá thai nội khoa (4). Thực tế, nhiều phụ nữ 
chọn phá thai nội khoa không trở lại khám theo 
hẹn lúc 2 tuần. Tỉ lệ mất dấu chiếm đến 20-30% 
trong các BN phá thai nội khoa sớm (4).
Do phá thai nội khoa trong giai đoạn sớm của 
thai kỳ có hiệu quả cao và tai biến thấp, nhưng 
việc tái khám theo dõi thường quy với việc có sử 
dụng siêu âm không phải là một biện pháp hữu 
hiệu và kinh tế để đảm bảo cho quy trình phá thai 
bằng thuốc đã hoàn tất. Do vậy, việc tìm ra biện 
pháp giúp cho các phụ nữ hạn chế tối đa phải đến 
khám lại và siêu âm thường quy là rất có ý nghĩa. 
Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề 
tài này với mục tiêu: 
Đánh giá độ an toàn và hiệu quả của phương 
pháp thay thế theo dõi thường quy (với que thử thai 
bán định lượng và đánh giá qua điện thoại bằng 
bộ phỏng vấn tự trả lời).
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Phụ nữ phá thai nội khoa tại Bệnh viện Phụ sản 
Trung ương từ tháng 9 năm 2010 đến hết tháng 6 
năm 2011.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Đủ điều kiện thực hiện phá thai nội khoa: tình 
trạng sức khỏe tốt, có thai sống trong tử cung, tuổi 
thai ≤ 63 ngày tính đến thời điểm dùng mifepristone.
- Tự nguyện tham gia nghiên cứu và sử dụng 
phác đồ nghiên cứu
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ:
- Bệnh lý tuyến thượng thận, điều trị corticoid 
toàn thân lâu ngày.
- Tăng huyết áp, hẹp van 2 lá, tắc mạch hoặc 
có tiền sử tắc mạch.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 147 - 151, 2016
149
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
- Rối loạn đông máu, sử dụng thuốc chống đông.
- Thiếu máu nặng, dị ứng mifepriston hay 
misoprostol.
- Rối loạn tâm thần, đang dọa sẩy hoặc đang 
sẩy thai
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm lâm 
sàng có so sánh
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu:
Lấy toàn bộ phụ nữ đủ tiêu chuẩn nghiên cứu 
đến phá thai bằng phương pháp phá thai nội khoa 
tại BVPS TW từ tháng 9 năm 2010 đến hết tháng 
6 năm 2011
Thống kê có 483 phụ nữ tham gia nghiên cứu được 
chia ngẫu nhiên bằng cách bốc thăm thành 2 nhóm: 
- Nhóm 1: gồm 242 phụ nữ được phá thai nội 
khoa thường quy.
- Nhóm 2: gồm 241 phụ nữ được theo dõi bằng 
que thử thai và bộ câu hỏi trả lời (nhóm thay thế)
2.2.3. Tiến hành: 
- Nhóm 1: BN khám lại 2 tuần sau sử dụng 
Mifepristone. Khi tái khám BN được khám phụ 
khoa, và siêu âm nếu cần thiết
- Nhóm 2: BN thực hiện test thử thai bán định 
lượng tại phòng khám và ghi vào bệnh án nghiên cứu. 
Sau khi sử dụng Mifepristone, BN được cung cấp một 
test thử thứ 2 và bảng kiểm tra trả lời qua điện thoại. 
BN được hướng dẫn điền vào bộ câu hỏi kiểm 
tra tại nhà và thực hiện test thử thai tại nhà vào 1 
tuần sau khi sử dụng mifepristone). 
Vào ngày thứ 14 sau khi dùng mifepristone, BN 
được nhóm nghiên cứu liên lạc bằng điện thoại, 
được yêu cầu xác nhận đã thực hiện test thử thai, 
bộ câu hỏi kiểm tra và thông báo lại kết quả. 
Phụ nữ trong cả hai nhóm được tư vấn thường 
quy về dấu hiệu báo động trong phá thai nội khoa 
như: chảy máu nhiều cần kịp thời xử trí. 
Ghi nhận tất cả những điều trị bổ sung có liên 
quan đến phá thai đã thực hiện trong vòng 1 tháng 
sau lần hẹn theo dõi. 
Phác đồ phá thai nội khoa được sử dụng: với 
thai 49 ngày: 200 mg Mifepristone, sau 48 giờ sử 
dụng 400 μg misoprostol; thai từ 56 - 63 ngày: 200 
mg mifepristone, sau 48 giờ là 800 μg misoprostol 
ngậm dưới lưỡi. Phác đồ này đã được chứng minh 
an toàn và hiệu quả trong các nghiên cứu tại Viêt 
Nam và những nơi khác [5][9][10].
2.2.4. Xử lý và phân tích số liệu: 
Số liệu sau khi được thu thập và làm sạch sẽ được 
nhập bằng Epi Info 15.0 và phân tích bằng SPSS 
16.0. Phân tích tỷ lệ phần trăm với các biến định 
lượng. Với các biến liên tục: tính tần suất trung bình, 
độ lệch chuẩn, độ tập trung và phân tán của số liệu. 
Thống kê phân tích được thực hiện thông qua các test 
như χ2, MC Nemar, với mức độ tin cậy 95%. Tính độ 
nhạy độ đặc hiệu của test thử thai bán định lượng. 
3. Kết quả nghiên cứu
Nhận xét:
• Trong nhóm thay thế số phụ nữ được xác nhận 
sẩy thai hoàn toàn thông qua gọi điện thoại chiếm 
87,0%. Số phụ nữ được yêu cầu quay lại phòng 
khám để khẳng định tình trạng sẩy thai 10,8%. 
• Trong nhóm thay thế, có 3 phụ nữ mất dấu không 
đến khám lại/ không liện hệ được qua điện thoại
Nhận xét: 
• Trong nhóm thay thế có 24 phụ nữ được gọi 
đến khám lại nhưng chỉ có 18 phụ nữ phải xử trí 
còn 6 phụ nữ chỉ cần theo dõi thêm.
Chăm sóc chuẩn Nhóm thay thế
Thông tin n % Thông tin n %
Bệnh nhân đến khám 
theo hẹn 234 84,8
Liên lạc/khám xác nhận phá 
thai trọn 215 89,2
Trong đó Phải Chăm sóc 
bổ sung 29 12,0
Liên lạc/khám yêu cầu trở lại phòng 
khám để chăm sóc bổ sung 23 9,6
Mât dấu theo dõi 8 3,2 Không thể liên hệ qua điện thoại/ không đến khám lại 3 1,2
Tổng 242 100 241 100
Bảng 1. Kết quả theo dõi sau phá thai nội khoa
Chăm sóc chuẩn Theo dõi thay thế Chung
n % n % n %
Lý do
Trở lại trước hẹn 1 3,33 2 8,33 3 5,56
Trở lại phòng khám sau 
điệnthoại/khám 29 96,67 18 75,00 47 87,04
Do phụ nữ yêu cầu 0 0,00 4 16,67 4 7,41
Tổng 30 100 24 100 54 100
Nguyên 
nhân
Thai còn tiến triển 2 6,7 4 16,7 6 11,1
Nghi ngờ sót sản phẩm 
thụ thai 26 86,7 12 50,0 38 70,4
Nghi nhiễm trùng 1 3,3 0 0,0 1 1,9
Khác 1 3,3 8 33,3 9 16,7
Tổng 30 100 24 100 54 100
Xử trí
Không làm gì 1 3,3 6 25,0 7 13,0
Hút buồng TC 7 23,3 8 33,3 15 27,8
Bổ sung misoprostol 21 70,0 10 41,7 31 57,4
Kháng sinh 1 3,3 0 0,0 1 1,9
Tổng 30 100,0 24 100,0 54 100,0
Bảng 2. Lý do và nguyên nhân trở lại khám theo dõi
NGUYỄN THỊ HỒNG MINH, PHẠM THỊ THANH HIỀN, DƯƠNG LAN DUNG, NGUYỄN THỊ HUYỀN LINH
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
150
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
• Trong nhóm chăm sóc chuẩn 238 người đến 
khám lại chỉ có 29 trường hợp phải điều trị bổ 
sung chiếm 12,3% còn 1 trường hợp không xử trí 
gì, theo dõi thêm. 
Nhận xét:
• Số phụ nữ thử β HCG khi thu nhận vào nghiên 
cứu nồng độ chủ yếu tử 500-10.000 đơn vị. Sau 2 tuần, 
nồng độ BHCG chủ yếu từ 0-25 đơn vị chiếm 83,6%. 
• Có 17 phụ nữ có nồng độ BHCG từ 500 - 
10.000 đơn vị phải đến khám lại
Nhận xét:
• Độ nhậy và độ đặc hiệu của test thử thai được 
xác định trong nghiên cứu này là Độ nhậy: 98,3%; 
Độ đặc hiệu: 100%
Nhận xét:
− Với thông tin về không có/ít hơn một ngày ra 
máu nhiều và cảm giác có thai độ nhậy và độ đặc 
hiệu rất rõ rệt. 
− Với các thông tin về cảm giác căng ngực, 
buồn nôn, mệt mỏi có dộ nhậy và độ đặc hiệu 
mang tính chất tương đối
4. Bàn luận
Tổng số bệnh nhân theo dõi đến khi kết thúc 
Nồng độ βHCG khi làm 
XN bán định lượng
Kết quả xét nghiệm thử thai 
khi thu nhận
Kết quả xét nghiệm thử thai lúc theo 
dõi sau 2 tuần
n % n %
0 0 0,0 91 29,8
25 0 0,0 128 53,8
100 0 0,0 22 9,2
500 47 19,5 13 5,5
2000 89 36,9 1 0,4
10000 105 43,6 3 1,3
Tổng 241 100,0 238 100,0
Bảng 3. Kết quả xét nghiệm bán định lượng
Dự báo + Độ nhạy Độ đặc hiệu
Không có/ít hơn 1 ngày bị ra máu nhiều 23,8 100% 94,1%
Hôm nay cảm thấy căng ngực 16,7 25% 88,2%
Buồn nôn, nghén buổi sáng 11,1 25% 94,1%
Mệt mỏi, kiệt sức 11,1 25% 94,1%
Cảm giác có thai 38,9 100% 82,3%
Bảng 5. Giá trị của bảng kiểm
Theo dõi sau dùng thuốc Thai tiến triển Tổng
n % n % n %
Giảm βhCG 219 92,8 0 0 219 92,0
Không giảm βhCG 17 7,2 2 100 19 8,0
Tổng 236 100 2 100 238 100
Bảng 4. Độ chính xác của xét nghiệm thử thai bán định lượng
nghiên cứu là 483 (241 ở nhóm thay thế và 242 ở 
nhóm chăm sóc thường quy). Không có sự khác biệt 
có ý nghĩa về các đặc điểm như tuổi, trình độ học 
vấn và tiền sử sản khoa của phụ nữ trong hai nhóm. 
Hiệu quả của bộ câu hỏi tự trả lời và que thử thai 
bán định lượng BHCG để phát hiện những trường 
hợp cần can thiệp bổ sung sau phá thai nội khoa.
Tỷ lệ khách hàng thực hiện thử thai và hoàn 
thiện bộ câu hỏi tại nhà: 
Trong số 241 khách hàng ở nhóm thay thế có 3 
người bị mất dấu không thể liên lạc được chiếm tỷ lệ 
1,2%, cao hơn nghiên nghiên cứu của Nguyễn Thị 
Như Ngọc 0,8% (5). Có 238 khách hàng tiến hành 
thử thai và trả lời hoàn chỉnh bộ câu hỏi tại nhà theo 
hướng dẫn của cán bộ y tế. Điều này chứng tỏ phương 
pháp thay thế không quá phức tạp và dễ dàng thực 
hiện tại nhà, đây cũng là một thuận lợi rất lớn khi 
tiến hành nghiên cứu. So sánh với nhóm thường quy 
tỷ lệ khách hàng không đến khám lại (mất dấu) cao 
hơn nhóm thay thế (nhóm thay thế là 1,2% và nhóm 
thường quy 3,2%). Lý do khách hàng không đến khám 
lại có thể do tâm lý ngại và mất thời gian khi phải đến 
khám lại tại bệnh viện. Phương pháp thay thế việc thử 
thai bán định lượng dễ dàng, kín đáo, không mất thời 
gian, giảm phiền hà cho khách hàng.
Kết quả thử thai bằng que thử thai bán định lượng:
Que thử thai bán định lượng được sử dụng lần 
thứ nhất tại bệnh viện vào thời điểm trước phá thai 
bằng thuốc: với mục đích chẩn đoán có thai và để 
so sánh với kết quả thử lại lần 2 tại nhà sau 2 tuần 
dùng thuốc phá thai nội khoa. Để kiểm tra việc phá 
thai đã thành công hay chưa thông qua kết quả đánh 
giá mức độ giảm của lượng βhCG so với lần thứ 1. 
Trong 241 khách hàng của nhóm thay thế, 100% xét 
nghiệm βhCG tại bệnh viện có kết quả > 500 đơn vị 
βhCG, chứng tỏ chẩn đoán có thai là 100%. Sau 2 
tuần dùng thuốc phá thai, kết quả thử βhCG lần 2 
tại nhà chỉ có 238 khách hàng thực hiện (mất dấu 3 
khách hàng). Kết quả cho thấy có 17 khách hàng là 
lượng βhCG > 500 đơn vị, không giảm hoặc giảm it 
sau phá thai bằng thuốc. Kết hợp với kết quả việc trả 
lời bảng kiểm trong bộ câu hỏi tại nhà thì cán bộ y 
tế yêu cầu 18 khách hàng phải quay lại khám. Trên 
thực tế có 24 khách hàng đến khám lại, trong đó có 
2 người (8,3%) đến trước hẹn, 18 người (75%) đến 
theo yêu cầu của cán bộ y tế sau khi gọi điện thoại 
và 4 trường hợp (16,7%) do chính phụ nữ yêu cầu, 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 147 - 151, 2016
151
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Nguyễn Thị Như Ngọc, đến trước hẹn 11,9%, đến 
do cán bộ y tế yêu cầu sau khi gọi điện thoại 77,0% 
(5). Lý do quay lại phòng khám là 16,7% do thai còn 
phát triển, 50% do nghi ngờ sót sản phẩm thụ thai, và 
33,3% là ra máu kéo dài. 
Trong 24 trường hợp quay lại, có 6 trường hợp 
(25%) không làm gì, 8 trường hợp (33,3%) hút lại 
buồng tử cung, 10 trường hợp (41,7%) bổ sung 
misoprostol. Điều này chứng tỏ việc kết hợp giữa 
que thử thai và bộ câu hỏi là phát hiện đúng 18 
trường hợp cần phải can thiệp.
Khi được kiểm định bằng khi bình phương không 
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm về 
lý do và nguyên nhân đến khám lại với p<0,05. Kết 
quả này tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Thị 
Như Ngọc và Nguyễn Thị Hồng Minh (5) (6)
Kết quả cho thấy, không phải tất cả các phụ nữ 
tái khám đều cần thiết phải can thiệp, Trong nghiên 
cứu này chỉ có 9% (24/247) cần được chăm sóc bổ 
sung sau phá thai nội khoa tương đương 11,4% trong 
nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Minh (5, 6).
Giá trị của bảng kiềm và que thử thai bán định 
lượng, trong 241 khách hàng ở nhóm thay thế thì 
kết quả chẩn đoán có thai bằng que thử thai bán 
định lượng 100% cho kết quả βhCG > 500UI/l. 
Sau khi dùng thuốc 14 ngày kết quả thử thai lần 
2 cho thấy có 17 trường hợp βhCG có giá trị từ 
500- 10.000 đơn vị và 17 khách hàng này phải 
đến khám lại. Kết hợp với việc gọi điện phỏng vấn 
khách hàng trả lời bảng kiểm cho thấy 1 trường 
hợp khách hàng cần đến khám lại. Như vậy tổng 
số có 18 khách hàng trong nhóm thay thế được 
yêu cầu phải đến khám lại chiếm 7,6%. Kết quả 
của que thử thai và bảng kiểm là phù hợp nhau kết 
quả này phù hợp với các nghiên cứu đã được tiến 
hành trong nước và thế thời về que thử thai bán 
định lượng (5, 6).
Trong 242 khách hàng của nhóm chuẩn có 
234 khách hàng đến khám lại và 8 khách hàng bị 
mất dâu. Trong 234 khách hàng đến khám có 29 
khách hàng cần can thiệp, 1 trường hợp theo dõi 
thêm không xử trí gì. Nguyên nhân đến khám lại 
do có 2 trường hợp thai còn phát triển và 26 trường 
hợp (86,7%) nghi ngờ sót sản phẩm thụ thai.
5. Kết luận
− Nghiên cứu chỉ ra sử dụng test thử thai bán định 
lượng và bộ câu hỏi tự trả lởi có độ an toàn và hiệu 
quả cao với độ nhậy 98,3%, độ đặc hiệu 100%;
− Chỉ có 7,6% phụ nữ cần can thiệp phá sau 
phá thai nội khoa trong số phụ nữ đến khám lại, 
do đó sử dụng bảng kiểm và test thử thai bán định 
lượng góp phần giảm tải cho các cơ sở dịch vụ 
cung cấp phương pháp phá thai bằng thuốc.
Tài liệu tham khảo
1. Hướng dẫn chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe 
sinh sản. 2007.
2. Schaff EA, Fielding SL, Westhoff C, Ellertson C, Eisinger SH, 
Stadalius LS, et al. Vaginal misoprostol administered 1, 2, or 3 days 
after mifepristone for early medical abortion: A randomized trial. Jama. 
2000;284(15):1948-53.
3. Creinin MD, Fox MC, Teal S, Chen A, Schaff EA, Meyn LA, et al. 
A randomized comparison of misoprostol 6 to 8 hours versus 24 hours 
after mifepristone for abortion. Obstetrics and gynecology. 2004;103(5 
Pt 1):851-9.
4. Henderson JT, Hwang AC, Harper CC, Stewart FH. Safety of 
mifepristone abortions in clinical use. Contraception. 2005;72(3):175-8.
5. Ngoc NT, Shochet T, Raghavan S, Blum J, Nga NT, Minh NT, 
et al. Mifepristone and misoprostol compared with misoprostol alone 
for second-trimester abortion: a randomized controlled trial. Obstetrics 
and gynecology. 2011;118(3):601-8.
6. Nguyễn Thị Hồng Minh. So sánh hai phương pháp phối hợp 
Mifepristone và Misoprostol và Misoprostol đơn thuần để phá thai 
sớm cho tuổi thai hết 7 tuần. Đại học Y Hà Nội: Đại học Y Hà 
Nôi.; 2004.

File đính kèm:

  • pdftinh_kha_thi_cua_mot_phuong_thuc_thay_the_so_voi_kham_theo_d.pdf