Tình hình sức khỏe ở người lao động tại nhà máy nhiệt điện Duyên hải tỉnh Trà Vinh

Mục tiêu: Nghiên cứu xác định tỷ lệ ba bệnh thường gặp nhất ở 360 người lao động tại nhà máy nhiệt điện

Duyên Hải tỉnh Trà Vinh năm 2018 và một số yếu tố liên quan đến các nhóm bệnh thường gặp.

Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả.

Kết quả: Tỷ lệ mắc bệnh viêm họng - Amiđan chiếm 28,3%, viêm dạ dày và tá tràng là 11,9%, tăng huyết

áp là 10,0%. Kết quả nghiên cứu tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa bệnh hệ tim mạch với nhóm

tuổi, tiền sử gia đình, yếu tố nguy cơ trong môi trường lao động của họ

pdf 6 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Tình hình sức khỏe ở người lao động tại nhà máy nhiệt điện Duyên hải tỉnh Trà Vinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tình hình sức khỏe ở người lao động tại nhà máy nhiệt điện Duyên hải tỉnh Trà Vinh

Tình hình sức khỏe ở người lao động tại nhà máy nhiệt điện Duyên hải tỉnh Trà Vinh
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 145 
TÌNH HÌNH SỨC KHỎE Ở NGƯỜI LAO ĐỘNG 
TẠI NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH 
Phạm Thị Phước*, Lê Thị Diễm Trinh*, Lê Văn Tâm*, Nguyễn Thanh Bình* 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Nghiên cứu xác định tỷ lệ ba bệnh thường gặp nhất ở 360 người lao động tại nhà máy nhiệt điện 
Duyên Hải tỉnh Trà Vinh năm 2018 và một số yếu tố liên quan đến các nhóm bệnh thường gặp. 
Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả. 
Kết quả: Tỷ lệ mắc bệnh viêm họng - Amiđan chiếm 28,3%, viêm dạ dày và tá tràng là 11,9%, tăng huyết 
áp là 10,0%. Kết quả nghiên cứu tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa bệnh hệ tim mạch với nhóm 
tuổi, tiền sử gia đình, yếu tố nguy cơ trong môi trường lao động của họ. 
Kết luận: Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa bệnh hệ hô hấp với tiền sử gia đình, yếu tố nguy cơ 
trong môi trường lao động của họ. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa bệnh hệ tiêu hóa với tiền sử gia 
đình, yếu tố nguy cơ trong môi trường lao động của họ. 
Từ khóa: tình hình sức khỏe, người lao động, ngành nhiệt điện 
ABSTRACT 
HEALTH SITUATION IN WORKER AT DUYEN HAI THERMAL POWER PLANT 
IN TRA VINH PROVINCE 
Pham Thi Phuoc, Le Thi Diem Trinh, Le Van Tam, Nguyen Thanh Binh 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 24 - No. 1 - 2020: 145 - 150 
Objectives: Study to determine the three most common diseases in 360 workers in Duyen Hai thermal 
power plant in Tra Vinh province in 2018 and some factors related to common diseases. 
Methods: Cross-sectional descriptive. 
Results: The incidence of sore throat – tonsil accounted for 28.3%, gartritis - duodenum inflammation was 
11.9%, blood pressure was 10.0%. The study results found a statistically significant relationship between 
cardiovarcular disease and age group, family history, risk factor in their working environment. 
Conclusions: There is a statistically significant association between respiratory disease and family history, 
risk factor in their working environment. There is a statistically significant association between gastrointestinal 
disease and family history, risk factor in their working environment. 
Key words: health situation, workers, thermal power industry 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Trên thế giới, các nguyên nhân gây tử vong 
hàng đầu trên toàn cầu năm 2004 chủ yếu do các 
bệnh sau: nhiễm trùng hô hấp dưới chiếm 6,2%, 
bệnh tiêu chảy chiếm 4,8%, rối loạn trầm cảm 
chiếm 4,3%, bệnh nhồi máu cơ tim là 4,1%. Tuy 
nhiên, dự báo năm 2030, gánh nặng bệnh tật 
được dự kiến thay đổi đáng kể theo các nhóm 
bệnh. Tỷ lệ gánh nặng bệnh tật của bệnh không 
truyền nhiễm dự kiến sẽ tăng 66% vào năm 2030 
so với năm 2004 và chiếm tỷ lệ cao nhất(1). 
Tại Việt Nam, mô hình bệnh tật thay đổi với 
tốc độ nhanh chóng. Tỷ lệ gánh nặng bệnh tật có 
sự thay đổi từ năm 2007 đến năm 2017, đặc biệt 
là nhóm bệnh không lây nhiễm. Tỷ lệ đái tháo 
đường tăng 51,7%, bệnh ung thư phổi tăng 
*Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: CN. Phạm Thị Phước ĐT: 0388054129 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 146 
41,1%, đột quỵ tăng 15,9%. Các bệnh này gây 
ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc 
sống của bệnh nhân nếu không được phát hiện 
sớm, theo dõi, điều trị và chăm sóc lâu dài(2). 
Việc xác định tỷ lệ các bệnh hay nhóm bệnh 
thường gặp trong một cộng đồng hay một nhóm 
người trong cộng đồng sẽ phản ánh trung thực 
về điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, chính trị, 
môi trường tại một thời điểm nhất định của cộng 
đồng đó. Tạo cơ sở khoa học cho các nhà quản 
lý, hoạch định chính sách y tế đưa ra các biện 
pháp và chiến lược chăm sóc sức khỏe ban đầu 
một cách hợp lý và có hiệu quả(3). 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Công nhân làm việc trong nhà máy Nhiệt 
điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh ít nhất một năm 
tại thời điểm nghiên cứu. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Cắt ngang mô tả. 
Cỡ mẫu 
Chọn mẫu theo mô tả công thức, tính cỡ mẫu 
theo công thức sau: 
n = 




 ()

α: Sai lầm loại 1 => 0,05. 
/: Trị số từ phân phối chuẩn => 1,96. 
P: Tỷ lệ ước lượng kết cuộc trong dân số => 
Chọn p=0,3 (Do đa số các bệnh thường gặp 
trong cộng đồng tại Trà Vinh dao động 
khoảng 30%(4,5,6). 
d: Sai số của ước lượng => 0,05. 
Vậy n= 323. 
Để đảm bảo cỡ mẫu do mất mẫu, bỏ cuộc và 
đồng thời thỏa mãn các yêu cầu về vấn đề đạo 
đức trong nghiên cứu nên dự trù mất mẫu 10% 
=> n= 360 công nhân được đưa vào thu thập và 
xử lý dữ liệu. 
Kỹ thuật chọn mẫu 
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu 
nhiên hệ thống. 
Biến số nghiên cứu 
Các biến số nền, các biến số bệnh, các biến số 
về công việc. 
Công cụ thu thập dữ liệu 
Bộ câu hỏi phỏng vấn được soạn sẵn. 
Phương pháp thu thập dữ liệu 
Phỏng vấn trực tiếp đối tượng bằng bộ câu 
hỏi soạn sẵn có cấu trúc. 
Phân tích và xử lý số liệu 
Nhập liệu bằng Epidata 13.1 và phân tích số 
liệu bằng phần mềm Stata 14. 
Y đức 
Được sự chấp thuận của Hội đồng đạo đức 
trong nghiên cứu y sinh học Đại học Y Dược 
Thành Phố Hồ Chí Minh số 76/ĐHYD-HĐĐĐ kí 
vào ngày 08/03/2018. 
KẾT QUẢ 
Kết quả nghiên cứu ghi nhận được tỷ lệ 3 
bệnh mà người lao động mắc nhiều nhất trên đối 
tượng ngành nhiệt điện là Viêm họng chiếm 
28,3%, viêm dạ dày và tá trang là 11,9%, tăng 
huyết áp là 10,0% (Bảng 1). 
Bảng 1: Tỷ lệ 3 bệnh thường gặp nhất ở người lao động 
Bệnh Tần số (n = 360) Tỷ lệ (%) 
Viêm họng 102 28,3 
Viêm dạ dày – tá tràng 43 11,9 
Tăng huyết áp 36 10,0 
Có mối liên quan giữa tỷ lệ bệnh tăng huyết 
áp của người lao động và nhóm tuổi. Nhóm tuổi 
càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp càng 
tăng. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 
p=0,001 (Bảng 2). 
Có mối liên quan giữa tỷ lệ bệnh tăng huyết 
áp của người lao động và tiền sử gia đình bị tăng 
huyết áp. Người lao động có gia đình bị tăng 
huyết áp thì xu hướng tăng huyết áp cao gấp 
10,82 lần (KTC 95%, 5,12 – 22,86) so với người 
không có gia đình bị tăng huyết áp. Sự khác biệt 
này có ý nghĩa thống kê p <0,001. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 147 
Có mối liên quan giữa tỷ lệ bệnh tăng huyết 
áp của người lao động và yếu tố nguy cơ trong 
công việc của người lao động. Những người cảm 
thấy khó chịu với các yếu tố nguy cơ có xu 
hướng bị tăng huyết áp cao gấp 8,139 (KTC 95%, 
3,48 – 19,05) so với những người không thấy khó 
chịu với yếu tố nguy cơ nào. Sự khác biệt này có 
ý nghĩa thống kê p <0,001. 
Bảng 2: Mối liên quan giữa bệnh hệ tim mạch và một số yếu tố 
Đặc tính 
Bệnh hệ tim mạch 
p PR (KTC 95%) 
Có n (%) Không n (%) 
Nhóm tuổi 
< 30 tuổi 
30 – 39 tuổi 
>= 40 tuổi 
14 (6,2) 
15 (13,8) 
7 (28,0) 
212 (93,8) 
94 (86,2) 
18 (72,0) 
0,001** 
1 
2,14 (1,44 – 3,18) 
4,29 (1,68 – 1,94) 
Tiền sử gia đình 
Không 
Có 
8 (2,9) 
28 (31,8) 
264 (97,1) 
60 (68,2) 
<0,001 
1 
10,82 (5,12 – 22,86) 
Yếu tố nguy cơ 
Không 
Có 
6 (2,7) 
30 (21,9) 
217 (97,3) 
107 (78,1) 
<0,001 
1 
8,139 (3,48 – 19,05) 
**Chi bình phương, có khuynh hướng 
Bảng 3: Mối liên quan giữa bệnh hệ hô hấp và một số yếu tố 
Đặc tính Bệnh hệ hô hấp 
P PR (KTC 95%) 
 Có n (%) Không n (%) 
Tiền sử gia đình 
Không 
Có 
70 (26,2) 
60 (64,5) 
197 (73,8) 
33 (35,5)) 
<0,001 
1 
2,461 (1,91 – 3,16) 
Yếu tố nguy cơ 
Không 
Có 
53 (23,8) 
77 (56,2) 
170 (76,2) 
60 (43,8) 
<0,001 
1 
2,365 (1,79 – 3,12) 
Có mối liên quan giữa tỷ lệ bệnh hô hấp ở 
người lao động với tiền sử gia đình mắc các 
bệnh về đường hô hấp. Những người có người 
thân mắc các bệnh hô hấp thì có xu hướng mắc 
bệnh hô hấp cao gấp 2,461 lần (KTC 95%, 1,91 – 
3,16) so với người không có người thân mắc 
bệnh hô hấp. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống 
kê với p <0,001 (Bảng 3). 
Có mối liên quan giữa tỷ lệ bệnh hệ hô hấp ở 
người lao động và yếu tố nguy cơ trong môi 
trường lao động của họ. Người lao động làm 
việc trong môi trường có yếu tố nguy cơ thì có 
xu hướng mắc bệnh hệ hô hấp cao gấp 2,365 lần 
so với người lao động làm việc trong môi trường 
mà họ cảm thấy không có yếu tố nguy cơ. Sự 
khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p <0,001. 
Có mối liên quan giữa tỷ lệ bệnh về đường 
tiêu hóa ở người lao động và yếu tố tiền sử bệnh 
đường tiêu hóa của gia đình. Người lao động có 
người thân mắc các bệnh về đường tiêu hóa thì 
có xu hướng mắc các bệnh tiêu hóa gấp 3,101 lần 
(KTC 95%, 2,12 – 4,53) so với người mà không có 
người thân mắc bệnh về tiêu hóa. Sự khác biệt 
này có ý nghĩa thống kê p <0,001 (Bảng 4). 
Có mối liên quan giữa tỷ lệ người lao động 
mắc các bệnh hệ tiêu hóa với yếu tố nguy cơ 
trong môi trường lao động của họ. Những người 
cảm nhận khó chịu với yếu tố nguy cơ có trong 
môi trường lao động của họ có xu hướng mắc 
bệnh hệ tiêu hóa cao gấp 1,628 so với những 
người cảm thấy không có khó chịu với yếu tố 
nguy cơ. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 
với p = 0,018. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 148 
Bảng 4: Mối liên quan giữa bệnh hệ tiêu hóa và một số yếu tố 
Đặc tính 
Bệnh hệ tiêu hóa 
P PR (KTC 95%) 
Có n (%) Không n (%) 
Tiền sử gia đình 
Không 
Có 
42 (14,5) 
32 (45,1) 
247 (85,5) 
39 (54,9) 
<0,001 
1 
3,101 (2,12 – 4,53) 
Yếu tố nguy cơ 
Không 
Có 
37 (16,6) 
37 (27,0) 
186 (83,4) 
100 (73,0) 
0,018 
1 
1,628 (1,09 – 2,44) 
BÀN LUẬN 
Mối liên quan giữa bệnh hệ tim mạch và một 
số yếu tố 
Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan có ý 
nghĩa thống kê giữa tỷ lệ bệnh tăng huyết áp của 
người lao động và nhóm tuổi. Nhóm tuổi càng 
cao thì tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp càng tăng. 
Kết quả này gần với một số nghiên cứu, theo kết 
quả nghiên của Nguyễn Thanh Bình năm 2017 ở 
người dân tộc Khmer tại Trà Vinh hay nghiên 
cứu của Ngụy Văn Đôn năm 2012 tại Bình 
Phước ở người dân tộc s’tiêng, và nghiên cứu 
của Nguyễn Dung 2012 tại Huế thì tăng huyết 
áp có mối liên quan với nhóm tuổi, nhóm tuổi 
càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp càng 
tăng(4,7,8). 
Có mối liên quan giữa tỷ lệ bệnh tăng huyết 
áp của người lao động và tiền sử gia đình bị tăng 
huyết áp. Người lao động có gia đình bị tăng 
huyết áp thì xu hướng tăng huyết áp cao gấp 
10,82 lần (KTC 95%, 5,12 – 22,86) so với người 
không có người thân bị tăng huyết áp. Sự khác 
biệt này có ý nghĩa thống kê p <0,001. Mối liên 
quan này cũng được tìm thấy ở nhiều nghiên 
cứu như nghiên cứu của Nguyễn Dung, Tô Văn 
Hải(8,9). Tính di truyền cũng đã được xác định 
trong bệnh tăng huyết áp, qua các nghiên cứu di 
truyền quần thể, nghiên cứu trên trẻ sinh đôi 
cũng như nghiên cứu phả hệ(10). 
Có mối liên quan giữa tỷ lệ bệnh tăng huyết 
áp của người lao động và yếu tố nguy cơ trong 
công việc của người lao động. Những người cảm 
thấy khó chịu với các yếu tố nguy cơ có xu 
hướng bị tăng huyết áp cao gấp 8,139 (KTC 95%, 
3,48 – 19,05) so với những người không thấy khó 
chịu với yếu tố nguy cơ nào. Sự khác biệt này có 
ý nghĩa thống kê p <0,001. Qua kết quả nghiên 
cứu cho thấy, tăng huyết áp cũng chịu sự ảnh 
hưởng của yếu tố môi trường. Theo nghiên cứu 
của Đào Văn Quang (2013) cho thấy, môi trường 
có tác động mạnh mẽ tới bệnh tăng huyết áp. 
Theo Bộ Y tế thì yếu tố tinh thần cũng là một 
trong các nguyên nhân gây bệnh tăng huyết 
áp(11). Do đó, môi trường không được trong sạch 
làm cho người lao động cảm thấy khó chịu, 
không thoải mái khi làm việc cũng gây nên bệnh 
tăng huyết áp là điều dễ hiểu. 
Mối liên quan giữa bệnh hệ hô hấp và một số 
yếu tố 
Có mối liên quan giữa tỷ lệ bệnh hô hấp ở 
người lao động với tiền sử gia đình mắc các 
bệnh về đường hô hấp. Những người có người 
thân mắc các bệnh hô hấp thì có xu hướng mắc 
bệnh hô hấp cao gấp 2,461 lần (KTC 95%, 1,91 – 
3,16) so với người không có người thân mắc 
bệnh hô hấp. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống 
kê với p <0,001. Theo nghiên cứu của Nguyễn 
Quốc Thái và Vũ Văn Thành thì viêm họng, 
viêm hô hấp là do vi khuẩn, virus (cúm, 
Rhinovirus, liên cầu khuẩn nhóm A...) và hầu 
như các loại virus này có khả năng lây từ người 
này sang người khác qua đường tiêu hóa và hô 
hấp(12). Đối tượng nghiên cứu có thể sinh sống 
cùng hay tiếp xúc với người thân bị mắc bệnh 
viêm họng dễ bị lây. Do đó, có mối liên quan 
giữa bệnh viêm họng và tiền sử gia đình mắc 
bệnh này. 
Có mối liên quan giữa tỷ lệ bệnh hệ hô hấp ở 
người lao động và yếu tố nguy cơ trong môi 
trường lao động của họ. Người lao động làm 
việc trong môi trường có yếu tố nguy cơ thì có 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 149 
xu hướng mắc bệnh hệ hô hấp cao gấp 2,365 lần 
so với người lao động làm việc trong môi trường 
mà họ cảm thấy không có yếu tố nguy cơ. Sự 
khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p <0,001. 
Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Hoa (2018) cũng 
cho thấy mối liên quan này: Nhóm công nhân 
phơi nhiễm với vi khí hậu và bụi có tỷ lệ mắc các 
bệnh viêm mũi họng cao hơn (80,40%) và tỷ lệ 
bệnh viêm mũi họng cao 66 gấp 1,1 đến 1,4 lần 
so với nhóm công nhân làm việc ở nơi có các yếu 
tố vi khí hậu và bụi hàm lượng trong giới hạn 
cho phép, tỷ lệ mắc thấp hơn (64,74%)(13). Viêm 
hô hấp là một trong các bệnh có liên quan mật 
thiết với tình trạng môi trường. Môi trường càng 
ô nhiễm thì khả năng con người mắc các bệnh về 
hô hấp là rất cao. 
Mối liên quan giữa bệnh hệ tiêu hóa và một số 
yếu tố 
Có mối liên quan giữa tỷ lệ bệnh về đường 
tiêu hóa ở người lao động và yếu tố tiền sử bệnh 
đường tiêu hóa của gia đình. Người lao động có 
người thân mắc các bệnh về đường tiêu hóa thì 
có xu hướng mắc các bệnh tiêu hóa gấp 3,101 lần 
(KTC 95%, 2,12 – 4,53) so với người mà không có 
người thân mắc bệnh về tiêu hóa. Sự khác biệt 
này có ý nghĩa thống kê p <0,001. Tại Hoa kỳ, cứ 
ước tính 70 – 80% bệnh nhân bị loét dạ dày - tá 
tràng thì có đến 60 – 70% là do bị nhiễm 
H.pylori. Đây là loại vi khuẩn có thể lây lan qua 
đường tiêu hóa(14). Vì vậy, người lao động có 
người thân mắc bệnh viêm dạ dày – tá tràng thì 
khả năng họ bị lây nhiễm là rất cao. Bệnh tiêu 
chảy cũng là một trong các bệnh có khả năng lây 
lan nhanh, đặc biệt lây qua đường ăn uống, dịch 
thải từ người bệnh do nhiễm rotavirus hay 
nhiễm khuẩn, ngộ độc do nấm và thuốc(15). 
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ 
lệ người lao động mắc các bệnh hệ tiêu hóa với 
yếu tố nguy cơ trong môi trường lao động của 
họ. Những người cảm nhận khó chịu với yếu tố 
nguy cơ có trong môi trường lao động của họ có 
xu hướng mắc bệnh hệ tiêu hóa cao gấp 1,628 
lần so với những người cảm thấy không có khó 
chịu với yếu tố nguy cơ. Môi trường có các yếu 
tố nguy cơ sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ tới sức khỏe 
của con người. Theo thông tin từ thư viện Y tế 
Quốc gia Mỹ, khi môi trường càng ô nhiễm thì 
khả năng xâm nhập và tác động vào cơ thể con 
người của các loại vi khuẩn, virus càng nhanh 
chóng. Chúng có thể xâm nhập qua thức ăn, 
nước uống hay không khí kích thích sự bài tiết 
nước và ion Clo trong lòng ruột, làm cho niêm 
mạc bị tổn thương hay bị viêm gây ra các triệu 
chứng tiêu chảy(15). 
KẾT LUẬN 
Tỷ lệ 3 bệnh thường gặp nhất ở người lao 
động và một số yếu tố liên quan. 
Tỷ lệ 3 bệnh mà người lao động mắc nhiều 
nhất qua khảo sát trên đối tượng lao động ngành 
nhiệt điện là: Viêm họng - Amiđan chiếm 28,3%, 
viêm dạ dày và tá tràng là 11,9%, tăng huyết áp 
là 10,0%. Nghiên cứu tìm ra mối liên quan có ý 
nghĩa thống kê giữa bệnh tăng hệ tim mạch với 
nhóm tuổi, tiền sử gia đình và yếu tố nguy cơ 
trong môi trường lao động của họ. Có mối liên 
quan có ý nghĩa thống kê giữa bệnh tăng hệ hô 
hấp, bệnh hệ tiêu hóa với tiền sử gia đình và yếu 
tố nguy cơ trong môi trường lao động của họ. 
KIẾN NGHỊ 
Qua kết quả nghiên cứu chúng tôi có một số 
kiến nghị: Đơn vị nhà máy nhiệt điện cần cải tiến 
kỹ thuật, đảm bảo môi trường làm việc an toàn 
và giảm thiểu các yếu tố nguy cơ trong môi 
trường lao động (Tỷ lệ tiếng ồn lên đến 27,5%, 
bụi 21,9%, nhiệt 13,1%, hóa chất 4,2% và điện 
trường 1,9%). 
Trạm y tế hay các cơ sở y tế khu vực, cũng 
như bộ phận y tế của nhà máy cần tăng cường 
và nâng cao trình độ chuyên môn, giáo dục sức 
khỏe cho mọi người để hướng đến là nơi thăm 
khám sức khỏe đầu tiên của con người khi gặp 
các vấn đề sức khỏe. Đồng thời người lao động 
cần chủ động tìm hiểu thông tin về sức khỏe 
cũng như đi khám sức khỏe định kì để phát hiện 
và điều trị kịp thời các vấn đề sức khỏe (tỷ lệ 
người lao động không biết tình trạng sức khỏe 
của mình lên đến 31,4%). 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 150 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. World Health Organization (2004). "Global burden desease", 
part 4, pp.44. Healthinfo. 
2. IHME Measuring what metters (2018). "Institute for Health 
Metrics and Evaluation". University of Washington. URL: 
www.healthdata.org/vietnam. 
3. Nguyễn Gia Khánh (2007). Báo cáo khoa học: Xây dựng và 
đánh giá phương pháp nghiên cứu mô hình bệnh tật và tử 
vong người Viêt Nam những năm đầu thế kỷ XXI. 
4. Nguyễn Thanh Bình (2017). "Thực trạng bệnh tăng huyết áp ở 
người khmer tỉnh trà vinh và hiệu quả một số biện pháp can 
thiệp". Luận án Tiến sĩ Y tế Công công, Viện vệ sinh dịch tễ 
Trung Ương. 
5. Lý Thị Chi Mai, Huỳnh Thanh Liêm (2012). "Nghiên cứu tình 
hình mắc bệnh nhiễm khuẩn cấp tính và một số yếu tố liên 
quan ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Châu Thành tỉnh Trà 
Vinh". Trung tâm Y tế dự phòng Trà Vinh, pp.4 -9. 
6. Cao Mỹ Phượng, Nguyễn Văn Lơ, Hồ Minh Xuân, cộng sự 
(2013). "Nghiên cứu tỷ lệ tăng huyết áp và liên quan với một số 
yếu tố nguy cơ ở người từ 40 tuổi trở lên tại tỉnh Trà Vinh năm 
2012". Tim mạch học Việt Nam, pp.65. 
7. Ngụy Văn Đôn (2012). "Tỷ lệ tăng huyết áp và một số yếu tố 
liên quan ở người dân tộc s'tiêng trưởng thành tại xã Thiện 
Hưng, Bù Đốp, Bình Phước năm 2012". Kỷ yếu Hội nghị khoa 
học Viện - Trường Tây Nguyên-Khánh Hòa lần thứ I, pp.1-7. 
8. Nguyễn Dung (2012). "Nghiên cứu tình hình bệnh tăng huyết 
áp tại thành phố huế và thị xã hương thuỷ, tỉnh thừa thiên huế 
năm 2011". Y học Thực hành, pp.805. 
9. Tô Văn Hải (2002). "Điều tra về tăng huyết áp ở cộng đồng Hà 
Nội". Tim mạch học, 29:105 - 108. 
10. Châu Ngọc Hoa (2012). "Bệnh học nội khoa", phần 1, pp.49 - 
64. Nhà xuát bản Y học chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh. 
11. Bộ Y tế (2017). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp, 
pp.1-10. Quyết định số 3192/QĐ - BYT. 
12. Vũ Văn Thành (2009). "Nghiên cứu căn nguyên gây nhiễm 
trùng hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Nha Trang năm 
2009". Viện vệ sinh dịch tễ Trung Ương, pp.10 - 19. 
13. Lê Thị Thanh Hoa (2018). "Thực trạng các bệnh hô hấp và kết 
quả một số giải pháp can thiệp ở công nhân khai thác than mỡ 
tại Thái Nguyên". Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công 
nghệ cấp Đại học - Đại học Thái Nguyên, Trường Đại học Y 
Dược. 
14. Hess JM, Lowell MJ (2013). "Esophagus, Stomach, and 
Duodenum". Semanticscholar, 5(89):1 - 12. 
15. U.S National Library of Medicine (2018). "Diarrhea". Medline 
Plus, https://medlineplus.gov/diarrhea.html. 
Ngày nhận bài báo: 02/08/2019 
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2019 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2020 

File đính kèm:

  • pdftinh_hinh_suc_khoe_o_nguoi_lao_dong_tai_nha_may_nhiet_dien_d.pdf