Tình hình nhiễm HPV ở những phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Trung ương Huế

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ nhiễm HPV của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đến khám phụ khoa tại Bệnh

viện Trung ương Huế. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: thiết kế nghiên cứu cắt ngang được

thực hiện trên 235 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đã có quan hệ tình dục đến khám phụ khoa tại Bệnh

viện Trung ương Huế từ tháng 1 năm 2011 đến tháng 12 năm 2011. Những người phụ nữ này được

khám phụ khoa, lấy tế bào cổ tử cung và làm xét nghiệm PCR. Kết quả: Tỷ lệ nhiễm HPV chiếm

19,57%, trong các chủng HPV được tìm thấy, nhóm nguy cơ cao chiếm đa số với 56,1% đặc biệt là

các type 18, 16, 58 và chủ yếu là nhiễm phối hợp 2 type (43,48%). Nhóm tuổi có tỷ lệ nhiễm HPV

cao là từ 40-49, không gặp trường hợp nào ở nhóm tuổi <20 và="">60. Tỷ lệ nhiễm HPV cao ở nhóm

phụ nữ nông thôn, thấp ở thành thị và không có sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm theo nghề nghiệp.

Trong số những phụ nữ HPV (+), kết quả tế bào học: 41,30% viêm nhiễm và 34,78% Lsil, soi

CTC: 36,96% viêm lộ tuyến và 23,91% nghi ngờ K CTC xâm lấn. Kết luận: Tỷ lệ nhiễm HPV

chiếm 19,57%, nhóm nguy cơ cao chiếm đa số. Tế bào học của nhóm HPV (+) có 41,30% viêm

nhiễm và 34,78% Lsil. Ở nhóm HPV (+) có 23,91% hình ảnh nghi ngờ K CTC xâm lấn

pdf 5 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Tình hình nhiễm HPV ở những phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Trung ương Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tình hình nhiễm HPV ở những phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Trung ương Huế

Tình hình nhiễm HPV ở những phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Trung ương Huế
Hồ Thị Phương Thảo/Lê Minh Toàn/Đinh Thị Phương Minh/Phan Thị Hồng Ngọc/Trần Thị Kim Anh/Trần Thị Sơn Bằng l 187
TÌNH HÌNH NHIỄM HPV Ở NHỮNG PHỤ NỮ
ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
Hồ Thị Phương Thảo, Lê Minh Toàn, Đinh Thị Phương Minh, 
Phan Thị Hồng Ngọc, Trần Thị Kim Anh, Trần Thị Sơn Bằng
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ nhiễm HPV của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đến khám phụ khoa tại Bệnh 
viện Trung ương Huế. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: thiết kế nghiên cứu cắt ngang được 
thực hiện trên 235 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đã có quan hệ tình dục đến khám phụ khoa tại Bệnh 
viện Trung ương Huế từ tháng 1 năm 2011 đến tháng 12 năm 2011. Những người phụ nữ này được 
khám phụ khoa, lấy tế bào cổ tử cung và làm xét nghiệm PCR. Kết quả: Tỷ lệ nhiễm HPV chiếm 
19,57%, trong các chủng HPV được tìm thấy, nhóm nguy cơ cao chiếm đa số với 56,1% đặc biệt là 
các type 18, 16, 58 và chủ yếu là nhiễm phối hợp 2 type (43,48%). Nhóm tuổi có tỷ lệ nhiễm HPV 
cao là từ 40-49, không gặp trường hợp nào ở nhóm tuổi 60. Tỷ lệ nhiễm HPV cao ở nhóm 
phụ nữ nông thôn, thấp ở thành thị và không có sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm theo nghề nghiệp. 
Trong số những phụ nữ HPV (+), kết quả tế bào học: 41,30% viêm nhiễm và 34,78% Lsil, soi 
CTC: 36,96% viêm lộ tuyến và 23,91% nghi ngờ K CTC xâm lấn. Kết luận: Tỷ lệ nhiễm HPV 
chiếm 19,57%, nhóm nguy cơ cao chiếm đa số. Tế bào học của nhóm HPV (+) có 41,30% viêm 
nhiễm và 34,78% Lsil. Ở nhóm HPV (+) có 23,91% hình ảnh nghi ngờ K CTC xâm lấn.
Abstract: 
Prevalence of Human Papillomavirus in Reproductive Women examined in Hue Central 
Hospital
Objectives: To detect the prevalence of HPV in reproductive women who attended gynecologic 
out-patient section at Hue Central Hospital. Materials and methods: the cross-sectional study 
in 235 sexually active women who attended gynecologic out-patient section at Hue Central 
Hospital from January 2011 to December 2011. These women had gynecologic examinations, 
taken pap-smear and PCR testing. Results: HPV infection detected with PCR technique in 
19,57%, most often in the age group 40-49. High risk HPV types are 56,1%, especially type 16, 
18, 58. Co-infected with 2 types: 43,48%. The infection of different HPV types differs in region, 
non-differs in career. Conclusion: HPV infection detected with PCR technique: 19,57% and most 
of them are high-risk groups. Cytology of HPV group (+) is cervicitis (41.30%) and LSIL 
(34.78%). In the group of HPV (+), 23.91% suspected cervical cancer invasion.
Khoa Phụ Sản Bệnh viện Trung ương Huế
Đặt vấn đề
Ung thư cổ tử cung (CTC) hiện đứng hàng 
thứ hai trong số các ung thư của phụ nữ trên 
thế giới. Hằng năm có khoảng 520.000 trường 
hợp ung thư cổ tử cung mới mắc trên toàn 
thế giới gây tử vong trên 274.000 trường hợp. 
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 187-191, 2012
188 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Ước tính cứ mỗi 2 phút có 1 phụ nữ chết vì 
ung thư cổ tử cung trên thế giới 
Cho đến nay, HPV được xác định là 
nguyên nhân hàng đầu gây ra ung thư cổ 
tử cung vì ADN của vi rút hiện diện trong 
hầu hết các mẫu mô ung thư cổ tử cung. 
Các nghiên cứu bệnh chứng cho thấy 99,7%-
100% các trường hợp ung thư cổ tử cung 
có xét nghiệm ADN vi rút HPV dương 
tính so với 5%- 12% ở nhóm chứng không 
có ung thư cổ tử cung. Bên cạnh đó, nhiễm 
kéo dài các týp HPV có thể sẽ phát triển tới 
các tổn thương trong biểu mô CTC ở nhiều 
mức độ khác nhau. Khả năng diễn tiến đến 
ung thư cổ tử cung gấp 250 lần ở những 
trường hợp nhiễm HPV kéo dài so với người 
không bị nhiễm. 
Đã có rất nhiều nghiên cứu trong và 
ngoài nước tìm hiểu về dịch tễ học và vai trò 
gây bệnh của HPV, đặc biệt là khả năng sinh 
ung thư CTC. Từ một phân tích gộp của 78 
nghiên cứu trên thế giới đã ước tính tỷ lệ 
nhiễm HPV hiệu chỉnh chung trên toàn thế 
giới khoảng 10% (khoảng tin cậy 95% 10,2- 
10,7). Khi ước tính riêng cho từng vùng thì 
Châu Phi hiện có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất 
khoảng 22%, Trung Mỹ 20,4%, Bắc Mỹ 
11,3%, Châu Âu 8,1% và Châu Á 8% và týp 
thường gặp nhất là 16, 18 (5). Tỉ lệ nhiễm 
HPV và sự phân bố các týp nguy cơ rất khác 
nhau tuỳ thuộc vào vùng địa lý và dân số 
nghiên cứu.
Tại Việt Nam, cũng có những nghiên 
cứu về dịch tễ học của HPV điển hình là 
các nghiên cứu sau. Nguyễn Trọng Hiếu và 
cộng sự phối hợp với WHO năm 2002 phát 
hiện HPV bằng thử nghiệm PCR AND trên 
những phụ nữ bình thường, cho thấy tỉ lệ 
nhiễm HPV ở một quận nội thành TP HCM 
là 10,9% và ở Hà Nội là 2%. Do vậy, chúng 
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm 2 
mục tiêu:
1. Xác định tỷ lệ nhiễm và định danh 
type HPV ở các phụ nữ đến khám phụ khoa 
tại Bệnh viện Trung ương Huế.
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới 
tình hình nhiễm HPV.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu 
cắt ngang .
Đối tượng nghiên cứu
Gồm 235 phụ nữ đã có quan hệ tình dục 
đến khám phụ khoa tại Bệnh viện Trung ương 
Huế trong thời gian từ tháng 1/2011 đến hết 
tháng 12/2011
Tiêu chuẩn chọn bệnh:
− Phụ nữ đã có quan hệ tình dục trong 
độ tuổi từ 18 - 69.
− Đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi 
được giải thích mục đích nghiên cứu.
− Có trạng thái tinh thần bình thường và 
tình trạng sức khỏe cho phép tiến hành cuộc 
phỏng vấn.
Tiêu chuẩn loại trừ: Loại ra khỏi nghiên 
cứu những đối tượng có một trong các tiêu 
chuẩn sau:
− Phụ nữ có bệnh tâm thần.
− Phụ nữ có thai.
− Đang có bệnh lý cấp cứu.
− Không đủ điều kiện lấy bệnh phẩm 
như đang ra máu âm đạo, đang đặt thuốc 
âm đạo, hoặc đang viêm cấp âm đạo 
CTC
Thu thập số liệu: Các đối tượng thỏa tiêu 
chuẩn chọn mẫu được giải thích rõ mục tiêu 
nghiên cứu và ký tên vào bảng đồng thuận 
tham gia nghiên cứu. Sau đó được phỏng vấn 
qua bảng thu thập số liệu và khám phụ khoa 
cho chẩn đoán lâm sàng và phết CTC lấy mẩu 
làm xét nghiệm PCR ADN HPV. Định type 
HPV nếu dương tính.
Xử lý và phân tích số liệu: sử dụng phần 
mềm SPSS
Hồ Thị Phương Thảo/Lê Minh Toàn/Đinh Thị Phương Minh/Phan Thị Hồng Ngọc/Trần Thị Kim Anh/Trần Thị Sơn Bằng l 189
Kết quả
1. Tỉ lệ nhiễm HPV ở các đối tượng 
nghiên cứu
Nhiễm 
HPV
n Tỉ lệ %/ 
84 lượt 
nhiễm 
HPV
Tỉ lệ 
%/ 46 
phụ nữ 
nhiễm 
HPV
HPV 
( - )
189 
(80,43%)
HPV 
(+ )
6
11
16
18
31
35
39
42
45
51
58
59
66
81
46/235 
(19,57%)
6
19 
18
11
1
1
1
1
3
1
10
1
1
9
7,1
22,6
21,4
13,1
1,2
1,2
1,2
1,2
3,6
1,2
12,0
1,2
1,2
10,6
13,0
41,3
39,1
23,9
2,2
2,2
2,2
2,2
6,6
2,2
22,0
2,2
2,2
19,6
Tổng 235 100,0
Tỉ lệ nhiễm HPV chung là 19,57%. Các 
type nguy cơ cao: 16, 18, 31, 35, 39, 45, 51, 58, 
59 chiếm đa số, tỉ lệ là 56,1%
Tình hình nhiễm phối hợp các type
Nhiễm phối hợp 2 type chiếm tỉ lệ cao nhất.
Liên quan giữa nhiễm HPV với nhóm 
tuổi
 Nhóm tuổi 40-49 chiếm tỉ lệ cao nhất 
trong số những phụ nữ HPV (+).
Phân bố HPV theo địa dư
Khu vực 
sinh sống
HPV (+) / 
tổng số phụ 
nữ
Tỉ lệ %
Thành thị 19/137 13,87
Nông thôn 27/98 27,55
Tổng 46/235 19,57
Những phụ nữ sống ở nông thôn chiếm 
tỉ lệ cao hơn.
Phân bố theo nghề nghiệp
Nhiễm HPV phân bố đều ở các ngành nghề
Theo kết quả tế bào học
Tế bào học Số HPV 
(+)
Tỉ lệ %
Lành tính 4 8,70
Viêm nhiễm 19 41,30
Thiểu dưỡng 2 4,35
Ascus 3 6,52
Lsil 16 34,78
Chưa phát hiện tế 
bào lạ
2 4,35
Tổng 46 100,00
190 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Nhận xét: Những phụ nữ HPV (+) có tế bào 
học viêm nhiễm và Lsil chiếm tỉ lệ cao nhất.
Theo kết quả soi Cổ tử cung
Soi CTC Số HPV 
(+)
Tỉ lệ %
Bình thường 6 13,04
Viêm CTC 22 47,83
Nghi ngờ ung 
thư xâm lấn
11 23,91
Thiểu dưỡng 4 8,70
U nhú 3 6,52
Tổng 46 100,00
Những phụ nữ HPV (+) có hình ảnh 
Viêm lộ tuyến và nghi ngờ K CTC xâm lấn 
chiếm tỉ lệ cao nhất.
Bàn luận
Về tỷ lệ nhiễm HPV
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ 
nhiễm HPV phát hiện bằng kỹ thuật PCR 
là 19,57%. So với kết quả nghiên cứu của Lê 
Minh Nguyệt (2002), tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ 
nữ bình thường là 9,2%, một kết quả khác 
của tác giả Lê Trung Thọ khi khảo sát tại Hà 
Nội năm 2008 cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV là 
5,3%, của Trần Thị Lợi (2009) ở Thành phố Hồ 
Chí Minh Là 10,84%. Tỷ lệ nhiễm HPV trong 
nghiên cứu này cao hơn so với ước đoán của 
TCYTTG về tỷ lệ nhiễm HPV ở các nước đang 
phát triển (khoảng 15%). Sở dĩ như vậy vì các 
tác giả đó đều nghiên cứu ở cộng đồng còn 
nghiên cứu của chúng tôi lại tiến hành ở bệnh 
viện, những phụ nữ đến khám đa phần đều 
có bệnh lí về phụ khoa nên nguy cơ nhiễm 
HPV cũng cao hơn. 
Về tỷ lệ các type HPV nguy cơ cao và thấp
Trong nghiên cứu này, các type chiếm tỉ lệ 
cao là : 6, 11, 16, 18, 58. Trong đó nhóm nguy 
cơ cao gặp nhiều nhất với 56,1%. Kết quả 
nghiên cứu của chúng tôi tương đương với 
kết quả nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Nhung, 
Trương Thị Lợi. Theo các tác giả trong nước 
và nước ngoài, có >30 type HPV gây nhiễm 
khuẩn đường sinh dục và 15 trong số các type 
HPV được coi là gây ung thư cổ tử cung và có 
các tổn thương nội biểu mô độ cao (type 16, 
18, 31, 33, 45). Kết quả nghiên cứu cho thấy 
phụ nữ đến khám phụ khoa tại Bệnh viện 
Trung ương Huế nhiễm các type HPV nguy 
cơ cao là khá phổ biến, đặc biệt là các type 
16, 18 và 58 và nguy cơ ung thư cổ tử cung ở 
những phụ nữ này rất lớn vì theo các tác giả 
trong và ngoài nước, các type HPV nguy cơ 
cao là nguyên nhân trực tiếp gây ung thư cổ 
tử cung.
Về phân bố nhiễm HPV theo tuổi
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm 
tuổi nhiễm HPV nhiều nhất 40-49, không 
gặp ở nhóm tuổi 60. Kết quả nghiên 
cứu của chúng tôi có sự khác biệt với kết 
quả nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Nhung. 
Theo tác giả này, tỷ lệ nhiễm HPV cao nhất 
ở khoảng tuổi <20 (20%) và khoảng tuổi 
35-49, ở nhóm tuổi trên 60 vẫn gặp nhưng 
với tần suất thấp. Ở tác giả Lê Trung Thọ, 
nhóm tuổi 20-29 có tỉ lệ nhiễm HPV cao 
nhất, còn theo Trần Thị Lợi thì nhóm 30-39 
chiếm tỉ lệ cao nhất. Có sự khác biệt này vì 
các phụ nữ đến khám với chúng tôi ở độ 
tuổi trung niên chiếm phần đông nên khả 
năng phát hiện HPV (+) cũng nhiều hơn các 
độ tuổi khác.
Về các yếu tố liên quan khác
Trong nghiên cứu này, hầu hết số phụ nữ 
bị nhiễm HPV phối hợp nhiều type, trong đó 
nhiễm 2 type chiếm tỉ lệ cao nhất (43,48% ). Số 
phụ nữ nhiễm 4 type trở lên rất hiếm. Kết quả 
này có khác so với kết quả của Vũ Thị Nhung 
và một số tác giả khác ( tỉ lệ phụ nữ nhiễm đơn 
type cao hơn so với đa type).
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự 
khác biệt về tỷ lệ nhiễm HPV ở các nhóm đối 
tượng nông thôn, thành thị. Điều này cũng 
tương tự với nghiên cứu của một số tác giả 
khác. Tuy nhiên tỉ lệ nhiễm HPV trong nghiên 
cứu của chúng tôi gần như không có sự khác 
biệt về nghề nghiệp.
Hồ Thị Phương Thảo/Lê Minh Toàn/Đinh Thị Phương Minh/Phan Thị Hồng Ngọc/Trần Thị Kim Anh/Trần Thị Sơn Bằng l 191
Về liên quan giữa nhiễm HPV với kết 
quả tế bào học và soi CTC
Nghiên cứu của chúng tôi trên tổng số 
235 người đến khám phụ khoa có 46 phụ nữ 
nhiễm HPV. Trong đó, kết quả tế bào học của 
nhóm HPV (+) có tới 41,30% viêm nhiễm và 
34,78% Lsil, còn kết quả soi CTC thì viêm lộ 
tuyến và nghi ngờ K CTC xâm lấn chiếm tỉ 
lệ cao hơn cả ( 36,96% và 23,91% ).
Kết luận
Từ 46 phụ nữ nhiễm HPV trong tổng 
số 235 người đến khám phụ khoa tại Bệnh 
viện Trung ương Huế, chúng tôi rút ra kết 
luận sau :
− Tỷ lệ nhiễm HPV chiếm 19,57%, trong 
các chủng HPV được tìm thấy, nhóm nguy cơ 
cao chiếm đa số với 56,1% đặc biệt là các type 
18, 16, 58 và chủ yếu là nhiễm phối hợp 2 type 
(43,48%)
− Nhóm tuổi có tỷ lệ nhiễm HPV cao là từ 
40-49, không gặp trường hợp nào ở nhóm tuổi 
 60. Tỷ lệ nhiễm HPV cao ở nhóm phụ 
nữ nông thôn, thấp ở thành thị và không có 
sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm theo nghề nghiệp. 
− Kết quả tế bào học của nhóm HPV (+) 
có tới 41,30% viêm nhiễm và 34,78% Lsil, 
còn kết quả soi CTC thì viêm lộ tuyến và 
nghi ngờ K CTC xâm lấn chiếm tỉ lệ cao hơn 
cả ( 36,96% và 23,91% ).
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Bộ Y tế (2007), Sản phụ khoa, Nxb Y học, 
Hà Nội, tr.580-588. 
2. De Sanjose S, Diaz M, Castellsague X, 
et al (2007). Worldwide prevalence and 
genotype distribution of cervical human 
papillomavirus DNA in women with 
normal cytology. Lancet Infect Dis; 7:453 
3. Franco EL, Duarte-Franco, et al 
(2001). Epidemiology, prevention and the 
role of human papillomavirus infection. 
CMAJ. 164: 1017-25 
4. Green JB et al (2003). Human 
Papillomavirus infection and use of oral 
contraceptives. Bristish Journal of cancer. 
88(11): 1713-1720. 
5. Lê Trung Thọ (2008), Nghiên cứu tỷ lệ 
nhiễm HPV ở cộng đồng phụ nữ Hà Nội, 
tìm hiểu một số yếu tố liên quan. 
6. Nguyễn Chấn Hùng, Eric Suba và cộng 
sự (2001). Một số nhận định về dịch tễ 
học của CIN- Ung thư cổ tử cung trong 
chương trình tầm soát ung thư cổ tử cung 
Việt Mỹ, Hội thảo Việt Pháp 2001, 21-31. 
7. Scheurer ME (2005). Human 
papillomavirus infection: biology, 
epidemiology, and prevention. Int 
Gynecol Cancer. 15: 727-746. 
8. Trần Thị Lợi (2009), Tỷ lệ nhiễm Human 
Papiloma virus và các yếu tố liên quan 
của phụ nữ từ 18 đến 69 tuổi tại TP. HCM. 
9. Vũ Thị Nhung (2006). Khảo sát tình hình 
nhiễm các type HPV ở phụ nữ thành phố 
Hồ Chí Minh bằng kỹ thuật sinh học 
phân tử. Đề tài cấp sở, 55.

File đính kèm:

  • pdftinh_hinh_nhiem_hpv_o_nhung_phu_nu_den_kham_tai_benh_vien_tr.pdf