Tình hình hội chứng Rubella bẩm sinh tại phòng sơ sinh - khoa phụ sản - Bệnh viện Trung Ương Huế

Phụ nữ mắc Rubella khi mang thai có khả năng sinh con bị các dị tật bẩm sinh cao. Virus

Rubella đi qua máu mẹ nhiễm vào thai nhi gây nhiễm trùng bào thai và gây hội chứng

Rubella bẩm sinh ở trẻ, chiếm đến 90% khi mẹ nhiễm Rubella ở những tháng đầu của thai

kỳ. Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của hội chứng Rubella bẩm

sinh ở trẻ sơ sinh tại Phòng sơ sinh – Khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế. Đối tượng

và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả 92 trẻ sơ sinh được chẩn đoán hội chứng

Rubella bẩm sinh và có tiến hành đầy đủ các xét nghiệm: Huyết học, Vi sinh, Sinh hóa và

chẩn đoán hình ảnh từ tháng 4 – 12/2011.

pdf 5 trang phuongnguyen 540
Bạn đang xem tài liệu "Tình hình hội chứng Rubella bẩm sinh tại phòng sơ sinh - khoa phụ sản - Bệnh viện Trung Ương Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tình hình hội chứng Rubella bẩm sinh tại phòng sơ sinh - khoa phụ sản - Bệnh viện Trung Ương Huế

Tình hình hội chứng Rubella bẩm sinh tại phòng sơ sinh - khoa phụ sản - Bệnh viện Trung Ương Huế
142 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập10, Số 03, Tháng 7- 2012
TÌNH HÌNH HỘI CHỨNG RUBELLA BẨM SINH TẠI 
PHÒNG SƠ SINH – KHOA PHỤ SẢN – BỆNH VIỆN 
TRUNG ƯƠNG HUẾ
Nguyễn Thị Hoài Thanh, Lê Minh Toàn, Hoàng Thị Liên Châu, 
Trần Thị Hoàn, Hoàng Thị Bích Ngọc, Nguyễn Thị Diệp Lê 
Tóm tắt
Phụ nữ mắc Rubella khi mang thai có khả năng sinh con bị các dị tật bẩm sinh cao. Virus 
Rubella đi qua máu mẹ nhiễm vào thai nhi gây nhiễm trùng bào thai và gây hội chứng 
Rubella bẩm sinh ở trẻ, chiếm đến 90% khi mẹ nhiễm Rubella ở những tháng đầu của thai 
kỳ. Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của hội chứng Rubella bẩm 
sinh ở trẻ sơ sinh tại Phòng sơ sinh – Khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế. Đối tượng 
và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả 92 trẻ sơ sinh được chẩn đoán hội chứng 
Rubella bẩm sinh và có tiến hành đầy đủ các xét nghiệm: Huyết học, Vi sinh, Sinh hóa và 
chẩn đoán hình ảnh từ tháng 4 – 12/2011. Kết quả: 88,1% mẹ nhiễm Rubella ở quý I và 11,9% 
ở quý II của thai kỳ; 90,2% dấu chứng về da; 64,1% sơ sinh nhẹ cân; 16,3% dấu chứng về thị 
giác; 13% dấu chứng về thính giác; 78,3% tim bẩm sinh; 67,3% dị tật bẩm sinh não; 68,8% 
IgG dương tính; 18,4% IgM dương tính; 43,5% công thức máu có tiểu cầu thấp. Kết luận: 
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của hội chứng Rubella bẩm sinh rất đa dạng. Tỷ lệ dị tật 
bẩm sinh cao khi mẹ nhiễm Rubella trong ba tháng đầu của thai kỳ.
Abstract: 
Clinical and paraclinical characteristics of congenital rubella syndrome at neonate 
section - gyn-ob department - Hue central hospital.
Women infected with rubella during pregnancy are likely to have children of high birth 
defects. Rubella virus via mother blood infect the fetus and cause congenital rubella 
syndrome in newborn, accounting for up to 90% when maternal rubella infection in the 
early months of pregnancy. Objective: To study clinical and paraclinical characteristics 
of congenital rubella syndrome at neonate section - GYN-OB Department - Hue Central 
Hospital. Subjective and Methods: The descriptive study on 92 newborns diagnosed with 
congenital rubella syndrome and having a full range of tests: Hematology, Microbiology, 
Biochemistry and Imaging from April to december 2011. Results: 88.1% maternal rubella 
infection in the first semester and 11.9% in the second semester of pregnancy; 90.2% having 
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 142-146, 2012
Nguyễn Thị Hoài Thanh/ Lê Minh Toàn/ Hoàng Thị Liên Châu/ Trần Thị Hoàn/ Hoàng Thị Bích Ngọc/ Nguyễn Thị Diệp Lêl 143
skin symptoms; 64.1% low birth weight; 16.3% visual defect symptoms, 13% hearing defect; 
78.3% congenital heart defects; 67.3% of congenital brain malformations; 68.8% IgG positive; 
18.4% IgM positive; 43.5% having low platelet in blood counts. Conclusion: The clinical and 
paraclinical features of congenital rubella syndrome is very diverse. The rate of birth defects 
when mothers infected with rubella in the first semester of pregnancy is high.
Khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế
Đặt vấn đề
Rubella bẩm sinh là một hội chứng gây 
hậu quả nặng nề và đặc thù nhất của bệnh 
rubella khiến y học phải đặc biệt quan tâm 
và đặt vấn đề phòng ngừa chủ động.
Virus rubella từ máu mẹ qua nhau thai 
vào thai nhi trong giai đoạn khởi phát và 
toàn phát của bệnh. Virus có hướng tính 
cao và có khả năng phá hủy hay ức chế 
phân bào của một số dòng tế bào non của 
phôi thai, nhất là trong giai đoạn 3 tháng 
đầu của thai kỳ và đây là nguyên nhân 
những dị tật bẩm sinh cho thai nhi[3]. 
Những bà mẹ mắc rubella trong 3 tháng 
đầu thai kỳ nguy cơ thai nhi bị dị tật bẩm 
sinh lên đến 50 – 80% trường hợp nhiễm 
virus. Trong 3 tháng tiếp theo nguy cơ này 
khoảng 10 – 30%[8]. Trẻ bị nhiễm rubella 
trước khi sinh có nguy cơ bị một hoặc 
nhiều dị tật, bệnh lý bẩm sinh như: hở hẹp 
van tim, tồn tại ống động mạch, đục thủy 
tinh thể, điếc, các dị tật về xương dài, bại 
não, dị dạng ở não, phổi, cơ khớp, mắt, 
chậm phát triển về thâm thần, thể lực, có 
vấn đề ở gan, lá lách
Tại khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương 
Huế trong khoảng thời gian từ tháng 4/2011 
đến tháng 12/2011 số trẻ sơ sinh có hội chứng 
Rubella bẩm sinh chiếm tỷ lệ khá cao. Vì vậy, 
chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mục tiêu 
xác định một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm 
sàng của hội chứng Rubella bẩm sinh. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các trẻ sơ 
sinh được chẩn đoán là Rubella bẩm sinh tại 
Phòng Sơ sinh – Khoa Phụ sản Bệnh viện 
Trung ương Huế từ tháng 4/2011 đến tháng 
12/2011. 
Chẩn đoán Rubella dựa vào: 
- Mẹ được chẩn đoán nhiễm Rubella 
trong thai kỳ qua lâm sàng và xét nghiệm 
định lượng nồng độ IgM, IgG trong máu.
- Sơ sinh có một trong các triệu chứng 
sau: bệnh lý tim mạch, dị dạng não, đục 
thủy tinh thể, giảm thính giác, nhẹ cân, ban 
xuất huyết ngoài da.
- IgG, IgM dương tính.
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt 
ngang
Kết quả nghiên cứu:
Đặc điểm lâm sàng:
Bảng 1. Tiền sử nhiễm Rubella của mẹ
Nhiễm 
Rubella
Tần suất Tỷ lệ %
3 tháng đầu 81 88,1
3 tháng 
giữa
11 11,9
3 tháng cuối 0 0,0
Tổng 92 100
Có 88,1% trường hợp mẹ nhiễm Rubella 
trong ba tháng đầu thai kỳ
Bảng 2. Phân bố theo giới tính
Giới Tần suất Tỷ lệ %
Nam 41 44,6
Nữ 51 55,4
Tổng 92 100
144 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập10, Số 03, Tháng 7- 2012
Tỷ lệ trẻ sơ sinh nam là 44,6% và sơ sinh 
nữ là 55,4%
Bảng 3. Cân nặng khi sinh
Cân nặng 
khi sinh
Tần suất Tỷ lệ
<1500gr 8 8,7
1500gr – 
2500gr
51 55,4
>2500gr 33 35, 9
Tổng 92 100
Sơ sinh nhẹ cân chiếm 64,1% trẻ có hội 
chứng Rubella bẩm sinh
Bảng 4. Ban xuất huyết ngoài da
Ban xuất 
huyết
Tần suất Tỷ lệ
Có ban xuất 
huyết
82 90,2
Không có 
ban xuất 
huyết
10 9,8
Tổng 92 100
Có 90,2% sơ sinh nhiễm Rubella có dấu 
chứng về da
Bảng 5. Bệnh lý tim bẩm sinh
Tim bẩm 
sinh
Tần suất Tỷ lệ
Có 72 78,3
Không 20 21,7
Tổng 92 100
Tỷ lệ trẻ sơ sinh bị dị tật tim bẩm sinh là 
78,3%
Bảng 6. Khuyết tật ở mắt
Khuyết tật 
mắt Tần suất Tỷ lệ
Có 15 16,3
Không 77 83,7
Tổng 92 100
Có 16,3% trẻ sơ sinh có khuyết tật ở mắt
 Bảng 7. Giảm thính giác
Giảm thính 
giác
Tần suất Tỷ lệ
Có 12 13,1
Không 80 86,9
Tổng 92 100
Giảm thính giác gặp ở 13,1% trẻ sơ sinh
Đặc điểm cận lâm sàng:
Bảng 8. Kết quả siêu âm tim
Kết quả 
siêu âm tim
Tần suất Tỷ lệ
Còn ống 
động mạch
67 72,8
Hở van 2 lá, 
3 lá
11 11,9
Còn lỗ Botal 2 2,2
Còn ống động mạch chiếm 72,8% trong 
các loại tim bẩm sinh 
Bảng 9. Bất thường não trên siêu âm
Dị dạng 
não
Tần suất Tỷ lệ
Có 62 67,3
Không 30 32,7
Tổng 92 100
Có 67,3% trẻ sơ sinh có dị tật não
Nguyễn Thị Hoài Thanh/ Lê Minh Toàn/ Hoàng Thị Liên Châu/ Trần Thị Hoàn/ Hoàng Thị Bích Ngọc/ Nguyễn Thị Diệp Lêl 145
Bảng 10. Công thức tiểu cầu
Số lượng 
tiểu cầu Tần suất Tỷ lệ
< 100.000/
ml 40 43,5
> 100.000/
ml 52 56,5
Tổng 92 100
Số lượng tiểu cầu giảm ở 43,5% trường 
hợp
Bảng 11. IgM và IgG trong huyết thanh
IgM và IgG Tần suất Tỷ lệ
IgM (+) IgG (+) 17 18,4
IgM (-) IgG (+) 75 81,6
Tổng 92 100
Tỷ lệ IgM (+) IgG (+) chiếm 18,4%.
Bàn luận
Nghiên cứu 92 trẻ sơ sinh có hội chứng 
Rubella bẩm sinh chúng tôi nhận thấy.
Có đến 88,1% là từ các bà mẹ bị nhiễm 
Rubella trong 3 tháng đầu của thai kỳ, tỷ lệ 
này tương đương với nghiên cứu của Vũ 
Quốc Kỳ, Viện Pasteur thành phố Hồ Chí 
Minh năm 2006 là 90% [1]. Trong nghiên 
cứu này chúng tôi nhận thấy không có sự 
chênh lệch tỷ lệ giữa nam và nữ trong hội 
chứng Rubella bẩm sinh và chúng tôi cũng 
chưa tìm thấy tài liệu nào nghiên cứu về vấn 
đề này.
Có 64,1% sơ sinh có hội chứng Rubella 
bẩm sinh cân nặng < 2500gr và ban xuất 
huyết ngoài da chiếm tỷ lệ đến 90,2%. Tỷ 
lệ trẻ sơ sinh có cân nặng < 2500gr cao vì 
nhiễm Rubella là một trong những nguyên 
nhân gây sinh non và cân nặng thấp lúc sinh 
[2],[4],[6]. 90,2% trẻ sơ sinh nhiễm Rubella 
trong nghiên cứu của chúng tôi có ban xuất 
huyết ngoài da rất điển hình và đó cũng 
chính là một trong những dấu hiệu chỉ điểm 
đầu tiên để chúng tôi hướng đến chẩn đoán 
hội chứng Rubella bẩm sinh [5].
Tỷ lệ dị tật tim bẩm sinh trong nghiên 
cứu của chúng tôi là 78,3% cao hơn nhiều so 
với ghi nhận trong SOGC Clinical practice 
Guidelines (2008) chỉ là 10 – 20%, trong đó 
còn ống động mạch chiếm tỷ lệ cao nhất 
trong các loại dị tật bẩm sinh tim, với kích 
thước lớn nhât là 4,5mm, tiếp theo là hở van 
2 lá, van 3 lá, chỉ có 2 trường hợp còn lỗ botal 
chiếm tỷ lệ 2,2%. Ngoài ra trên một trẻ sơ 
sinh có thể kết hợp hai hay ba hình thái dị 
tật của tim.
Về khuyết tật ở mắt chúng tôi ghi nhận 
15 trường hợp có khuyết tật về mắt trong 
đó chủ yếu là đuc thủy tinh thể chiếm tỷ lệ 
16,3%, điều này phù hợp với nghiên cứu của 
Reef SE, Plotkin S và cộng sự [10].
Nghiên cứu 92 trường hợp nhiễm 
Rubella bẩm sinh chúng tôi chỉ ghi nhận 
được 12 trường hợp giảm thích giác qua 
thăm khám tại chỗ, tỷ lệ này có thể cao hơn 
nếu có sự phối hợp tốt với bác sỹ khoa Tai 
– Mũi – Họng. Tuy nhiên tất cả các trường 
hợp được chẩn đoán Rubella bẩm sinh đều 
được chúng tôi hẹn tái khám để tầm soát 
về thị giác và thính giác sau khi trẻ xuất 
viện.
Có 67,3% trường hợp bất thường não 
trên hình ảnh siêu âm với hình ảnh điển 
hình là vôi hóa đồi thị hai bên dạng rẽ quạt, 
một số trường hợp có kèm xuất huyết não- 
màng não múc độ từ nhẹ đến trung bình.
Tiểu cầu giảm trong ngày đầu sau sinh 
gặp trong 43,5%, có trường hợp chỉ giảm 
tiểu cầu đơn thuần nhưng có trường hợp 
giảm tiểu cầu kèm theo giảm hồng cầu, 
giảm Hemglobin nhẹ.
Về định lượng nồng độ IgM và IgG 
trong huyết tương chúng tôi ghi nhận chỉ 
có 17 trường hợp IgM dương tính trong 
tất cả 92 trường hợp IgG dương tính. 
Trong khi IgG là kháng thể từ mẹ truyền 
sang thì IgM là kháng thể đặc hiệu ở 
trẻ sơ sinh, kháng thể này không qua rau 
146 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập10, Số 03, Tháng 7- 2012
thai, sự hiện diện của nó là do hệ miễn dịch 
tổng hợp được từ khi trẻ chưa ra đời [9].
Kết luận
Qua nghiên cứu 92 trẻ sơ sinh có hội 
chứng Rubella bẩm sinh tại Phòng sơ sinh – 
Khoa Phụ sản – Bệnh viện Trung ương Huế 
chúng tôi rút ra kết luận sau:
- Tỷ lệ trẻ sơ sinh có hội chứng Rubella 
bẩm sinh cao khi mẹ bị nhiễm Rubella trong 
ba tháng đầu của thai kỳ.
- Đặc điểm lâm sàng thường gặp của 
hội chứng Rubella bẩm sinh là nhẹ cân, ban 
xuất huyết điển hình ngoài da, tim bẩm sinh 
trong đó còn ống động mạch chiếm tỷ lệ cao 
nhất. Ngoài ra còn có dị tật ở mắt như đục 
thủy tinh thể và giảm thính giác.
- Dị tật não trên siêu âm chiếm 67,3% 
trường hợp, chủ yếu là vôi hóa đồ thị hai bên 
dạng rẽ quạt và giảm tiểu cầu trong 43,5% 
trường hợp.
Kiến nghị
Bệnh Rubella là loại bệnh do virus gây ra, 
lành tính nhưng rất nguy hiểm đối với phụ 
nữ có thai vì sẽ dẫn đến hội chứng Rubella 
bẩm sinh cho trẻ. Do đó cần tuyên truyền 
rộng rãi cho mọi phụ nữ trong độ tuổi sinh 
đẻ tiêm vaccine dự phòng và nếu bị nhiễm 
Rubella trong thai kỳ nên đến khám tại các 
cơ sở y tế để được tư vấn, chẩn đoán và xử 
trí tốt nhất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Quốc Kỳ. Tình hình nhiễm Rubella 
tại viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh. 
2006: 1-2.
2. Banerji A, Ford-Jones EL, Kelly E, 
Robinson JL. Congenital rubella 
syndrome despite maternal antibodies. 
CMAJ 2005 Jun 21;172(13):1678–9.
3. Edlich RF, Winters KL, Long WB 3rd, 
Gubler KD. Rubella and congenital 
rubella (German measles). J Long Term 
Eff Med Implants 2005;15(3):319–28.
4. Williams Obstetrics. 21st ed. Cunningham 
FG, Hauth JC, Leveno KJ, Gilstrap L 
III, Bloom SL, Wenstrom KD, eds. New 
York: McGraw-Hill Medical Publishing 
Division. 2001:1467
5. Gabbe SG, Niebyl JR, Simpson JL, 
eds. Obstetrics-normal and problem 
pregnancies. 4th ed. New York: Churchill 
Livingstone, Inc. 2002:1328–30.
6. Ozsoylu S, Kanra G, Sava G. 
Thrombocytopenic purpura related 
to rubella infection. Pediatrics 
1978;62:567–9.
7. Bayer WL, Sherman FE, Michaels RH, 
Szeto IL, Lewis JH. Purpura in congenital 
and acquired rubella. N Engl J Med. 
1965;273(25):1362–6.
8. Miller E, Cradock-Watson JE, Pollack TM. 
Consequences of confirmed maternal 
rubella at successive stages of pregnancy. 
Lancet. 1982;2:781–4.
9. Gregg NM. Congenital cataract following 
German measles in the mother. Trans Am 
Ophthalmol Soc. 1941;3:35.
10. Reef SE, Plotkin S, Cordero JF, Katz 
M, Cooper L, Schwartz B, et al. 
Preparing for congenital syndrome 
elimination: summary of the Workshop 
on Congenital Rubella Syndrome 
Elimination in the United States. Clin 
Infect Dis. 2000;31:85–95.

File đính kèm:

  • pdftinh_hinh_hoi_chung_rubella_bam_sinh_tai_phong_so_sinh_khoa.pdf