Tình hình bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi đồng bào dân tộc Khmer, tỉnh Trà Vinh
Nghiên cứu được thực hiện trên đồng bào cao tuổi Khmer
tỉnh Trà Vinh, xác định tỷ lệ bệnh tăng huyết áp. Nghiên
cứu điều tra ngang ở 134 người. Kết quả cho tỷ lệ bệnh
tăng huyết áp ở đồng bào Khmer cao tuổi là 62,0%. Chỉ số
HATT trung bình 138,7±23,7mmHgmmHg, trong đó nam
142,5±26,0mmHg cao hơn nữ 134,5±20,4mmHg. Sau khi
phân tích đa biến, nghiên cứu xác định có sự tương quan có
ý nghĩa thống kê chỉ số huyết áp tâm thu với giới tính, chế độ
ăn mỡ, lạm dụng rượu và hút thuốc lá, p<>
Bạn đang xem tài liệu "Tình hình bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi đồng bào dân tộc Khmer, tỉnh Trà Vinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Tình hình bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi đồng bào dân tộc Khmer, tỉnh Trà Vinh
SỐ 37 - Tháng 3+4/2017 Website: yhoccongdong.vn 9 2017JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE TÌNH HÌNH BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP Ở NGƯỜI CAO TUỔI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER, TỈNH TRÀ VINH Nguyễn Thanh Bình1, Nguyễn Văn Tập1, Trần Văn Hưởng2, Lê Thị Ngọc1 TÓM TẮT Nghiên cứu được thực hiện trên đồng bào cao tuổi Khmer tỉnh Trà Vinh, xác định tỷ lệ bệnh tăng huyết áp. Nghiên cứu điều tra ngang ở 134 người. Kết quả cho tỷ lệ bệnh tăng huyết áp ở đồng bào Khmer cao tuổi là 62,0%. Chỉ số HATT trung bình 138,7±23,7mmHgmmHg, trong đó nam 142,5±26,0mmHg cao hơn nữ 134,5±20,4mmHg. Sau khi phân tích đa biến, nghiên cứu xác định có sự tương quan có ý nghĩa thống kê chỉ số huyết áp tâm thu với giới tính, chế độ ăn mỡ, lạm dụng rượu và hút thuốc lá, p<0,05. Từ khóa: Người cao tuổi, đồng bào dân tộc Khmer, dịch tễ học. ABSTRACT SITUATION OF HYPERTENTION OF KHMER’S ELDERLY PEOPLE, TRA VINH PROVINCE The study was conducted in 134 elderly Khmer people in Tra Vinh province to learn about the distribution of blood pressure index and hypertension status. Results for prevalence of hypertension in elderly people is 62.0% Khmer. HATT average index 138.7 ± 23,7mmHgmmHg, in which men and women 142.5 ± 134.5 ± 26,0mmHg 20,4mmHg higher. After multivariate analysis, the study identified a correlation with statistical significance index with the systolic blood pressure, fat diets, alcohol abuse and smoking, p <0.05. Keywords: Elders, ethnic Khmer, epidemyology. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Bộ Y tế, tính đến năm 2030, số người từ 60 tuổi trở lên ở Việt Nam chiếm 18,3% dân số, tốc độ lão hoá đang gia tăng nhanh chóng. Đồng bào dân tộc Khmer cư trú tập trung trong các phum sóc, thường cách xa trung tâm kinh tế xã hội nên còn gặp khó khăn hạn chế trong tiếp cận các tiến bộ xã hội cũng như chăm sóc y tế [1], nghiên cứu giúp xác định tỷ lệ bệnh tăng huyết áp và mô tả chỉ số huyết áp tâm thu ở cộng đồng người cao tuổi Khmer. Qua đó, địa phương sẽ đề ra phương hướng hỗ trợ, can thiệp kịp thời nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng đồng bào Khmer. II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng: Đồng bào dân tộc Khmer từ 60 tuổi trở lên, hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú từ 1 năm trở lên, tại tỉnh Trà Vinh, thời gian nghiên cứu: 2015 2.2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả Chọn mẫu: Thực hiện chọn mẫu ngẫu nhiên, tại 30 xã. Mỗi xã chọn 4 hộ gia đình có người cao tuổi, thực tế có 134 người cao tuổi Công cụ thu thập dữ liệu: Bộ câu hỏi soạn sẵn theo Tổ chức Y tế Thế giới. Các chỉ số nghiên cứu: Chế độ ăn nhiều mỡ: Chế độ ăn thường xuyên trên 25% lipid/ngày và trên 7% mỡ bão hòa hay trên 300 gam/người/ tháng, thường xuyên ăn mỡ động vật, chất béo trên 4 ngày/ tuần. Chế độ ăn rau quả: Có khi thường xuyên ăn rau, quả, giàu chất xơ trên 300 gam/người/ngày và trên 4 ngày/tuần. Chế độ ăn mặn: Có khi ăn những thức ăn mặn ≥ 3 ngày/ tuần hoặc sử dụng lượng muối mỗi ngày ≥ 5 gam bình quân cho mỗi người trong gia đình (tương đương 1 muỗi cà phê) Lạm dụng rượu: Uống ≥ 5 ly chuẩn (đối với nam), ≥ 4 ly chuẩn (đối với nữ) vào bất kỳ ngày nào trong tuần (01 đơn vị chuẩn tương đương 10g ethanol ~ 330ml bia, 30ml rượu mạnh, 120ml rượu vang). Hút thuốc lá: có khi có hút thuốc trong 12 tháng. Vận động thể lực: Là biến số nhị phân, dựa theo hướng dẫn của TCYTTG phân tích bộ câu hỏi toàn cầu (GPAQ) về hoạt động thể lực cho người trưởng thành. Có hoạt động thể lực khi hoạt động cường độ mạnh ≥ 75 phút/tuần hoặc ≥ 150 phút/tuần với hoạt động cường độ trung bình hoặc sự kết hợp cả hoạt động thể lực mạnh và cường độ trung bình đạt 600 MET-phút mỗi tuần. Tăng huyết áp: Theo tiêu chí của nghiên cứu tại Việt Nam là người có huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm 1. Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh 2. Trường Đại học Thăng Long, Hà Nội. Ngày nhận bài: 01/02/2017 Ngày phản biện: 10/02/2017 Ngày duyệt đăng: 15/2/2017 V IỆN SỨ C K HỎE CỘNG ĐỒ NG SỐ 37- Tháng 3+4/2017 Website: yhoccongdong.vn10 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC trương ≥ 90mmHg hoặc đang dùng thuốc điều trị tăng huyết áp hoặc tiền sử được thầy thuốc chẩn đoán tăng huyết áp. Béo phì: Chia theo chuẩn dành riêng cho người châu Á (IDI&WPRO): béo phì khi BMI từ 25 trở lên. Rối loạn lipid máu: Có rối loạn chuyển hóa bất kỳ một trong các thành phần: - Tăng Cholesterol toàn phần (>200 mg/dL); Tăng LDL - Cholesterol (>160 mg/dL); Tăng Triglyceride (>150 mg/dL); Giảm HDL - Cholesterol (<40 mg/dL). Rối loạn đường huyết: Tiêu chuẩn chẩn đoán của TCYTTG về bệnh đái tháo đường là khi glucose huyết tương ≥ 7.0mmol/l (126mg/dl). 2.4. Xử lý số liệu: Các số liệu được nhập liệu và phân tích theo phương pháp thống kê y học. Sử dụng phần mềm Stata12, Epi-Data. 2.5. Đạo đức trong nghiên cứu: Quyền lợi và thông tin cá nhân của đối tượng được bảo vệ theo đúng quy định. III. KẾT QUẢ 3.1. Tỷ lệ bệnh tăng huyết áp ngươi cao tuổi. Bảng 1: Phân độ tăng huyết áp tại thời điểm khảo sát theo JNC VII Mức huyết áp Tần số Tỷ lệ % Không THA Bình thường 24 17,9 Tiền THA 50 37,3 THA THA độ 1 36 26,9 THA độ 2 24 17,9 Đồng bào Khmer cao tuổi bị tăng huyết áp 44,8%. Sau khi điều tra tiền sử bệnh, nghiên cứu xác định thêm 23 người mắc tăng huyết áp và có đáp ứng điều trị. Kết quả chung có 83 người cao tuổi bị tăng huyết áp, tỷ lệ 62,0%, trong đó, tỷ lệ THA cũ 71,0%; tăng huyết áp mới mắc 29,0%. 3.2 Mối liên quan với bệnh tăng huyết áp và chỉ số huyết áp Bảng 2: Một số yếu tố liên quan đến chỉ số huyết áp tâm thu Nội dung Tổng n (%) Huyết áp tâm thu pm µ±SD k(TPV) Giới tính Nữ 64(47,7) 134,5±20,4 132,0(121,1;145,7) Nam 70(52,3) 142,5±26,0 138,7(128,5;155,0) <0,05 Chế độ ăn mỡ Không 105(78,4) 135,9±20,1 133,5(123,0;143,5) Có 29(21,6) 148,9±32,0 147,0(132,5;168,0) <0,05 Chế độ ăn rau quả Có 4(3,0) 130,0±3,5 130,0(127,2;132,7) Không 130(97,0) 139,0±24,0 137,0(123,0;149,0) >0,05 Chế độ ăn mặn Không 13(9,7) 130,2±17,7 124,5(122,0;135,5) Có 121(90,3) 140,0±24,1 137,5(124,0;149,0) >0,05 Lạm dụng rượu bia Không 120(89,5) 136,1±20,8 134,2(122,2;146,5) Có 14(10,5) 161,0±34,7 143,7(135,5;184,5) <0,05 Hút thuốc trong Không 79(59,0) 134,5±20,5 133,0(121,0;147,0) Có 55(41,0) 144,7±26,7 139,5(131,5;155,0) <0,05 Hoạt động thể lực Có 105(78,4) 137,2±22,6 135,0(123,5;146,0) Không 29(21,6) 144,0±27,0 143,5(123,0;165,5) >0,05 Tổng 134(100,0) 138,7±23,7 136,2(123,5;148,5) µ Trung bình; SD Độ lệch chuẩn; k Trung vị; TPV Tứ phân vị;pm Kiểm định Mann-Whitney. Một số yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với chỉ số huyết áp tâm thu là giới tính, chế độ ăn mỡ, lạm dụng rượu bia, hút thuốc lá với p<0,05. SỐ 37 - Tháng 3+4/2017 Website: yhoccongdong.vn 11 2017JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE Bảng 3. Một số yếu tố thực hành liên quan đến bệnh tăng huyết áp ở người Khmer Bảng 4: Một số chỉ số sinh hóa liên quan đến bệnh tăng huyết áp và chỉ số huyết áp tâm thu ở người Khmer Nội dung Không THA THA OR pc Tần số TL % Tần số TL % KTC95% Chế độ ăn mỡ Không 44 41,9 61 58,1 1 >0,05 Có 7 24,1 22 75,9 2,3 (0,8-6,8) Chế độ ăn rau quả Có 3 75,0 1 25,0 1 >0,05 Không 48 36,9 82 63,1 5,1 (0,4-272) Chế độ ăn mặn Không 7 53,8 6 46,2 1 >0,05 Có 44 36,4 77 63,6 2,0 (0,5-7,8) Lạm dụng rượu Không 46 38,3 74 61,7 1 >0,05 Có 5 35,7 9 64,3 1,1 (0,3-4,5) Hút thuốc lá Không 31 39,2 48 60,8 1 >0,05 Có 20 36,4 35 63,4 1,1 (0,5-2,4) Hoạt động thể lực Có 42 40,0 63 60,0 1 >0,05 Không 9 31,00 20 69,0 1,5 (0,6-4,0) Nội dung HATT THA OR 95% CIµ±SD k(TPV) p N (%) p Rối loạn lipid máu Không 135,5±23,6 137,0(121,5;146,0) 27(56,3) 1 Có 140,5±23,7 135,2(125,5;150,0) >0,05 56(65,1) >0,05 1,4 (0,6-3,1) Béo phì Không 135,9±22,9 133,5(122,0;145,0) 64(58,7) 1 Có 151,0±23,8 147,5(133,0;165,5) 0,05 2,2 (0,8-7,3) Rối loạn đường huyết Không 138,3±22,6 135,0(123,5;148,5) 72(61,5) 1 Có 141,6±31,0 139,5(131,5;148,0) >0,05 11(64,7) >0,05 1,1 (0,3-4,0) pc Kiểm định chi bình phương Tỷ lệ tăng huyết áp cao liên quan có ý nghĩa thống kê ở người có chế độ ăn mỡ động vật, ăn mặn, lạm dụng rượu, hút thuốc lá so với nhóm còn lại với p<0,05. µ Trung bình; SD Độ lệch chuẩn; k Trung vị; TPV Tứ phân vị;pm Kiểm định Mann-Whitney. Có mối liên quan giữa tăng huyết áp và một số chỉ số sinh hóa được khảo sát trong nghiên cứu với p<0,05. Mối tương quan huyết áp tâm thu với một số yếu tố qua mô hình phân tích đa biến. Bảng 5: Tương quan huyết áp tâm thu với một số yếu tố liên quan Biến số Hệ số tương quan r p Giới tính 0,1709 <0,05 Chế độ ăn mỡ 0,2264 <0,05 Lạm dụng rượu 0,3224 <0,05 Hút thuốc lá 0,2124 <0,05 Béo phì 0,0997 >0,05 Có sự tương quan có ý nghĩa thống kê giữa huyết áp tâm thu với giới, chế độ ăn mỡ, lạm dụng rượu và hút thuốc lá, p<0,05. IV. BÀN LUẬN 4.1. Tỷ lệ bệnh tăng huyết áp và phân phối chỉ số huyết áp tâm thu Đồng bào Khmer cao tuổi có 60 người bị tăng huyết áp, 44,8%, cao hơn nghiên cứu tại Huế năm 2013 của Hoàng Đức Thuận Anh trên người Kinh 35,6% [2]. Sau khi điều tra tiền sử bệnh, nghiên cứu xác định thêm 23 người mắc tăng huyết áp và có đáp ứng điều trị. Kết quả chung có 83 người cao tuổi bị tăng huyết áp, tỷ lệ 62,0%, trong đó, tỷ lệ THA cũ 71,0%; tăng huyết áp mới mắc 29,0%. Cuộc điều tra sát dinh dưỡng và sức khỏe quốc gia (NHANES) 2005-2010 trên 5797 người từ 60 tuổi trở lên tại Mỹ, cho tỷ lệ người bị tăng huyết áp là 65,0% [3]. Như vậy, tỷ lệ bệnh tăng huyết áp ở đồng bào cao tuổi Khmer cao hơn người Kinh, tương V IỆN SỨ C K HỎE CỘNG ĐỒ NG SỐ 37- Tháng 3+4/2017 Website: yhoccongdong.vn12 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC đồng với một số nghiên cứu cộng đồng nhiều chủng tộc trên thế giới. Trong hơn 20 năm qua, Ủy ban Quốc gia liên Mỹ (JNC) hướng dẫn tăng huyết áp, đã khuyến cáo ngưỡng huyết áp tâm thu là trên 140mmHg sẽ bắt đầu dùng thuốc hạ huyết áp. Tuy nhiên, báo cáo năm 2014 từ JNC 8 vừa đề nghị một mức huyết áp tâm thu ở người trên 60 tuổi cao hơn ngưỡng 150 mm Hg để bắt đầu điều trị [4]. 4.2. Mối liên quan với bệnh tăng huyết áp và chỉ số huyết áp Giới: Nghiên cứu cho tỷ lệ nam nữ tương đương (47,7%- 52,3%). Trung bình chỉ số HATT ở nam 142,5±26,0mmHg (vượt ngưỡng khuyến cáo 140/90mmHg theo JNCVII [4]) cao hơn nữ 134,5±20,4mmHg với p<0,05. Theo khuyến nghị JNC VIII năm 2014, kết quả nghiên cứu cho mức 25% nam giới đồng bào Khmer cao tuổi có chỉ số HATT từ 155mmHg cần được điều trị với thuốc. Với mức huyết áp trên, nam có tỷ lệ bệnh tăng huyết áp cao hơn nữ. Chế độ ăn mỡ. Tỷ lệ bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi có ăn mỡ 75,9% cao hơn người không ăn mỡ 58,1%. Kết quả tương tự nghiên cứu trên người cao tuổi tại Hà Nội của Trần Thanh Tú năm 2011 [5], cả 2 kết quả đều không tìm thấy mối liên quan tăng huyết áp với chế độ ăn mỡ động vật. Tuy nhiên, người cao tuổi có ăn mỡ động vật thì mức HATT cao hơn 13,5mmHg so với người không ăn mỡ với p<0,05. Chỉ số HATT trung bình ở người ăn mỡ cao 148,9±32,0mmHg cho thấy chế độ ăn mỡ động vật ở đồng bào Khmer gây ảnh hưởng đến tỷ lệ bệnh tăng huyết áp, tuy nhiên do mẫu nghiên cứu nhỏ nên mối liên quan chưa thực sự rõ ràng. Chế độ ăn rau quả. Tỷ lệ đồng bào Khmer cao tuổi ít ăn rau quả cao 97,0%. Trong số đó, trên một phần tư số người cao tuổi có chỉ số HATT cao, trên 149,0mmHg. Mặc khác, tỷ lệ tăng huyết áp ở đồng bào cao tuổi Khmer ít ăn rau quả 63,1% cao gấp 5 lần so với người có ăn. Như vậy, ăn đủ lượng rau quả hàng ngày là một trong những biện pháp giúp kiểm soát mức độ huyết áp, giúp phòng chống bệnh tăng huyết áp. Chế độ ăn mặn. Do vị trí địa lý giáp biển kèm theo lối sống đặc trưng khu vực miền Tây, tỷ lệ cao đồng bào Khmer cao tuổi có chế độ ăn mặn 90,3%. Theo nghiên cứu trên người cao tuổi tại Hà Nội của Trần Thanh Tú, người ăn mặn có tỷ lệ tăng huyết áp cao gấp 4,79 lần so với người không ăn mặn [5] với p<0,05. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ đồng bào Khmer tăng huyết áp có ăn mặn cao gấp 2 lần nhóm còn lại p>0,05. Cộng đồng đồng bào Khmer có nhiều nét đặc trưng về văn hoá, tần suất lễ hội diễn ra quanh năm. Do đó, tỷ lệ cao đồng bào Khmer có tình trạng lạm dụng rượu bia 10,5%. Tương tự với nghiên cứu Trần Thanh Tú tại Hà Nội [5] và nghiên cứu của Hoàng Đức Thuận Anh tại Huế [2], kết quả không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê bệnh tăng huyết áp với lạm dụng rượu bia p>0,05. Tuy nhiên, đồng bào cao tuổi Khmer có lạm dụng rượu bia cao hơn 9,5mmHg so với người còn lại với p<0,05. Chỉ số HATT trung bình ở người cao tuổi lạm dụng rượu bia cao 161,0±34,7mmHg. Như vậy, cần kiểm soát tình trạng lạm dụng rượu bia ở đồng bào Khmer nhằm kiểm soát tốt nhất tình trạng tăng huyết áp. Hút thuốc lá: Đồng bào Khmer hút thuốc lá từ sớm và kéo dài. Kết quả cho tỷ lệ đồng bào cao tuổi Khmer có hút thuốc lá trong 12 tháng qua 41,0%. Trong số người cao tuổi có hút thuốc, trên một phần hai số người có chỉ số HATT trên 140mmHg, p<0,05. Thuốc lá có tác động chậm, gây tăng chỉ số HATT lâu dài dẫn tới gây tăng tỷ lệ bệnh tăng huyết áp. Hoạt động thể lực: Tỷ lệ đồng bào cao tuổi Khmer có hoạt động thể lực 78,4%. Tỷ lệ bệnh tăng huyết áp ở người có hoạt động 69,0% cao hơn so với người không hoạt động 60,0% với p>0,05, tương tự kết quả trong nhiều nghiên cứu [2],[5]. Theo khuyến cáo, tập thể dục 30 phút mỗi ngày giúp giảm huyết áp tâm thu đi 4-9 mmHg. Nghiên cứu cho thấy người cao tuổi có hoạt động thể lực giảm HATT đi 8,5mmHg, p<0,05. Trong khi đó, người không hoạt động thể lực có chỉ số HATT trung bình cao 144,0±27,0mmHg và hơn một phần tư số người cao tuổi không hoạt động có mức HATT trên 165mmHg. Như vậy, hoạt động thường xuyên sẽ giúp kiểm soát tốt chỉ số huyết áp, qua đó giảm tỷ lệ bệnh tăng huyết áp. Chỉ số sinh hoá: Các chỉ số sinh hoá là kết quả phản ánh thực trạng hành vi lối sống ảnh hưởng đến sức khoẻ. Đối với bệnh tăng huyết áp, nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan với các chỉ số p>0,05, do tỷ lệ các rối loạn lipid, rối loạn đường huyết biểu hiện nhỏ trong cộng đồng nên cần một cỡ mẫu lớn hơn. Nghiên cứu cho thấy ở riêng người cao tuổi béo phì có chỉ số HATT cao hơn 14mmHg so với người không béo phì với p<0,05, hơn 25% đồng bào Khmer cao tuổi béo phì có chỉ số HATT vượt ngưỡng 165mmHg. Qua mô hình phân tích đa biến với 5 biến được đưa vào sau khi xét thấy mối liên quan độc lập với chỉ số HATT p<0,05. Kết quả cho 4 yếu tố có tác động làm gia tăng chỉ số huyết áp gồm giới tính, chế độ ăn nhiều mỡ, lạm dụng rượu bia, hút thuốc lá. Trong đó tác động mạnh nhất là lạm dụng rượu bia và tình trạng hút thuốc lá. Do đó, cần có những biện pháp kiểm soát tốt nhất các yếu tố đặc thù trên làm ảnh hưởng lên tỷ lệ bệnh trong cộng đồng. V. KẾT LUẬN Kết quả cho tỷ lệ bệnh tăng huyết áp ở đồng bào Khmer cao tuổi là 62,0%. Chỉ số HATT trung bình SỐ 37 - Tháng 3+4/2017 Website: yhoccongdong.vn 13 2017JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 138,7±23,7mmHgmmHg, trong đó nam 142,5±26,0mmHg cao hơn nữ 134,5±20,4mmHg. Sau khi phân tích đa biến, nghiên cứu xác định có sự tương quan có ý nghĩa thống kê chỉ số huyết áp tâm thu với giới, chế độ ăn mỡ, lạm dụng rượu và hút thuốc lá, p<0,05. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Trần Văn Ánh, Văn hóa phum sóc trong đời sống tinh thần của người Khmer Tây Nam Bộ. Di sản văn hóa phi vật thể, 2011. 3(36): p. tr. 48 - 52. 2. Hoàng Đức Thuận Anh, et al., Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp của người cao tuổi tại huyện Hương Thuỷ, Thừa Thiên Huế. Tạp chí Y học Thực hành, 2013. 876(số 7/2013): p. tr.135-138. 3. Shimbo, D., R.M. Tanner, and P. Muntner, Prevalence and characteristics of systolic blood pressure thresholds in individuals 60 years or older. JAMA Intern Med, 2014. 174(8): p. 1397-400. 4. Paul A. James, et al., 2014 Evidence-Based Guideline for the Management of High Blood Pressure in AdultsReport From the Panel Members Appointed to the Eighth Joint National Committee (JNC 8). JAMA, 2014. 311(5): p. pp.507-520. 5. Trần Thanh Tú, Phạm Thị Lan Liên, and Lach Chanthet, Tỷ lệ và một số yếu tốl liên quan đến tăng huyết áp ở người cao tuổi tại thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Hà Nội, năm 2011. Tạp chí Y học Thực hành, 2014. 914(số 4/2014): p. tr.94-97.
File đính kèm:
tinh_hinh_benh_tang_huyet_ap_o_nguoi_cao_tuoi_dong_bao_dan_t.pdf

