Tìm hiểu giá trị của supar niệu trong bệnh hội chứng thận hư lần đầu ở trẻ em
Mục tiêu: Khảo sát nồng độ suPAR niệu (soluble urokinase plasminogen activator) trước điều trị với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và mức độ đáp ứng điều trị giai đoạn sớm trong bệnh hội chứng thận hư (HCTH) tiên phát lần đầu ở trẻ em. Phương pháp:Nghiên cứu theo dõi dọc các trường hợp bệnh. Kết quả: Nghiên cứu trên 30 trẻ em được chẩn đoán HCTH lần đầu có theo dõi tại Trung tâm Nhi khoa Huế và khoa Nhi bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế, thấy nồng độ suPAR/creatinin niệu 2712±2217 pg/mg (605-11443 pg/ mg), nồng độ suPAR niệu/ creatinin niệu ở nhóm bệnh nhi 1-6 tuổi cao hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh nhi 7-15 tuổi, không có sự khác biệt giữa nhóm có đái máu và không đái máu. Nồng độ suPAR/ creatinin niệu không mối liên quan có ý nghĩa với albumin máu, mức lọc cầu thận và protein niệu. Sau giai đoạn tấn công, 100% bệnh nhi đáp ứng hoàn toàn với điều trị nên nồng độ suPAR niệu/creatinin niệu không giúp dự báo đáp ứng sau giai đoạn điều trị tấn công ở bệnh nhi HCTH
Tóm tắt nội dung tài liệu: Tìm hiểu giá trị của supar niệu trong bệnh hội chứng thận hư lần đầu ở trẻ em
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 73 TÌM HIỂU GIÁ TRỊ CỦA suPAR NIỆU TRONG BỆNH HỘI CHỨNG THẬN HƯ LẦN ĐẦU Ở TRẺ EM Lê Thỵ Phương Anh*1, Hoàng Thị Thủy Yên1, Trần Kiêm Hảo2, Phan Thị Minh Phương1, Nguyễn Thị Diễm Chi2, Nguyễn Thị Hồng Đức2, 1. Trường Đại học Y Dược Huế, Đại học Huế 2. Bệnh viện Trung ương Huế DOI: 10.47122/vjde.2020.43.10 ABSTRACT Research on the value of urinary supar in childhood nephrotic syndrome Objectives: To investigate the concentration of urinary soluble urokinase plasminogen activator pretreatment with clinical, paraclinical and treatment response in children with primary nephrotic syndrome. Methods: Longitudinal follow-up study. Results: A study of over 30 children diagnosed with nephrotic syndrome for the first time was followed up at Hue Pediatric Center and Pediatrics Departement of Hue University of Medicine and Pharmacy. Urinary suPAR/ creatinine 2712 ± 2217 pg / mg (605- 11443 pg / mg), urinary suPAR / creatinine concentration in children1-6 years old was significantly higher than in group 7-15 years old, there was no signifficant difference between hematuria and non-hematuria group. Urinary suPAR / creatinine concentration was not significantly associated with plasma albumin, glomerular filtration rate and proteinuria. After the initial steroid course (2 months), 100% patients respond completely to treatment. So urinary suPAR / creatinine concentrations do not help predict the response after the initial steroid course in childhood nephrotic syndrome. Conclusions: Urinary suPAR / creatinine levels has no relationship with hematuria, albuminemia, proteinuria. Pre- treatment urinary suPAR / creatinine levels do not help predict the ability to respond to early treatment. More research is needed to understand the role of suPARuria in chilhood nephrotic syndrome. Keywords: soluble urokinase plasminogen activator, urinary suPAR, childhood nephrotic syndrome, response to treatment. TÓM TẮT Mục tiêu: Khảo sát nồng độ suPAR niệu (soluble urokinase plasminogen activator) trước điều trị với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và mức độ đáp ứng điều trị giai đoạn sớm trong bệnh hội chứng thận hư (HCTH) tiên phát lần đầu ở trẻ em. Phương pháp:Nghiên cứu theo dõi dọc các trường hợp bệnh. Kết quả: Nghiên cứu trên 30 trẻ em được chẩn đoán HCTH lần đầu có theo dõi tại Trung tâm Nhi khoa Huế và khoa Nhi bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế, thấy nồng độ suPAR/creatinin niệu 2712±2217 pg/mg (605-11443 pg/ mg), nồng độ suPAR niệu/ creatinin niệu ở nhóm bệnh nhi 1-6 tuổi cao hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh nhi 7-15 tuổi, không có sự khác biệt giữa nhóm có đái máu và không đái máu. Nồng độ suPAR/ creatinin niệu không mối liên quan có ý nghĩa với albumin máu, mức lọc cầu thận và protein niệu. Sau giai đoạn tấn công, 100% bệnh nhi đáp ứng hoàn toàn với điều trị nên nồng độ suPAR niệu/creatinin niệu không giúp dự báo đáp ứng sau giai đoạn điều trị tấn công ở bệnh nhi HCTH. Kết luận: Nồng độ suPAR niệu/ creatinin niệu không có mối liên quan với đái máu, albumin máu, protein niệu. Nồng độ suPAR niệu/ creatinin niệu trước điều trị không giúp tiên đoán khả năng đáp ứng điều trị giai đoạn sớm. Cần nhiều nghiên cứu hơn để hiểu thêm về vai trò của suPAR niệu ở HCTH trẻ em. Từ khóa: soluble urokinase plasminogen activator, suPAR niệu, hội chứng thận hư trẻ em, đáp ứng điều trị. Chịu trách nhiệm chính: Lê Thỵ Phương Anh Ngày nhận bài: 27/10/2020 Ngày phản biện khoa học: 01/11/2020 Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 74 Ngày duyệt bài: 12/12/2020 Email:[email protected] Điện thoại: 0902343156 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh cầu thận xơ hóa cục bộ (FSGS Focal segmental glomerulosclerosis) là một nhóm bệnh HCTH dai dẵng, kháng corticoid. Xu và cộng sự là một trong những người đầu tiên mô tả vai trò của uPAR trong tổn thương cầu thận. Ở chuột thí nghiệm, uPAR biểu hiện mạnh ở tế bào nội mô, biểu mô và gian mạch. Những tác giả đó thấy rằng uPAR có thể liên quan đến sự xóa bỏ chân các túc bào và tách khỏi màng đáy cầu thận. [1]uPAR gắn và hoạt hóa αβ3- intergrin ở túc bào, dẫn đến hoạt hóa men GTPase Rac-1, làm thay đổi tính di động của cá túc bào, làm xóa bỏ các tế bào có chân. Tiếp theo đó là các nghiên cứu của các nhóm tác giả: Segarra (2014)[2], Palacios (2013)[3], Huang (2014) nhận xét rằng suPAR niệu tăng đặc hiệu ở nhóm FSGS tiên phát và có liên quan đến mức độ nặng của bệnh [4] Trong đó đáng chú ý là nghiên cứu của Fujimoto và cộng sự (2014) thấy suPAR huyết thanh ở nhóm chứng là 1595 (1435- 1922) pg/ml, ở bệnh nhân HCTH tiên phát là 3208 (2683-4340) pg/ml; suPAR nước tiểu ở nhóm bình thường là 1186 (1072-1615) pg/mg creatinin niệu, ở bệnh HCTH tiên phát là 3194 (2395-4347)pg/mg creatinin niệu. Nồng độ suPAR huyết thanh và nước tiểu là một chỉ số hữu ích giúp đánh giá đáp ứng điều trị ở bệnh nhân HCTH tiên phát, giúp phân biệt MCD và FSGS ở giai đoạn sau điều trị. Ngoài ra suPAR huyết thanh và nước tiểu có liên quan với đáp ứng điều trị lâu dài ở HCTH tiên phát [5]. Nghiên cứu suPAR niệu có những lợi điểm hơn so với suPAR huyết thanh như sau: (1)- suPAR niệu được đánh giá dựa vào chỉ số suPAR niệu/ creatinin niệu nên nó giảm ảnh hưởng của việc giảm mức lọc cầu thận lên nồng độ suPAR. (2)- Nghiên cứu của Wei và Zhang nêu ra suPAR có thể được sản xuất bởi túc bào bị tổn thương nên xét nghiệm suPAR niệu sẽ bao gồm cả suPAR huyết thanh và suPAR từ túc bào. Điều này giúp tách biệt tổn thương FSGS rõ hơn các bệnh lý ngoài thận khác.(3)- Các dạng đơn vị của suPAR muốn gây tổn thương cầu thận phải qua được màng lọc cầu thận, nên việc định lượng suPAR niệu sẽ phản ánh rõ ràng hơn mối liên quan giữa suPAR và tổn thương cầu thận. (4)- Ảnh hưởng của suPAR lên cầu thận tùy thuộc vào ngưỡng nồng độ suPAR nên việc định lượng suPAR niệu sẽ tránh được sự chồng chéo lên nhau của suPAR huyết thanh và giúp cho việc phân tách tổn thương FSGS rõ ràng hơn. [3], [4],[5], [6], [7] Tổn thương chủ yếu của HCTH trẻ em là tổn thương tối thiểu (MCD: minimal change disease) và bệnh cầu thận xơ hóa cục bộ, trong bệnh FSGS thường dai đẵng và đa phần tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối. Các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới đều nói lên vai trò của suPAR niệu trong chẩn đoán thể xơ hóa cục bộ, như vậy nó cũng có thể liên quan đến khả năng đáp ứng điều trị. Vì vậy mục đích của nghiên cứu của chúng tôi là để tìm hiểu mối liên quan của suPAR niệu với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đáp ứng điều trị giai đoạn sớm ở bệnh HCTH lần đầu. 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu mô tả theo dõi dọc 30 bệnh nhi được chẩn đoán và điều trị HCTH tại phòng Nhi Thận - Nội Tiết - Thần Kinh, Trung tâm Nhi khoa Nhi Bệnh viện Trung ương Huế và Khoa Nhi, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế 2.1. Thời gian nghiên cứu: 3/2019 – 3/2020. 2.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh: Bệnh nhi được chẩn đoán HCTH theo tiêu chuẩn: - Protein niệu ≥ 50 mg/kg/24giờ hoặc tỷ lệ protein/ creatinine niệu > 200 mg/mmol - Albumin máu giảm < 25 g/L. - Mắc bệnh lần đầu. Không có các biểu hiện lâm sàng ngoài thận như ban cánh bướm, ban vòng, ban xuất huyết dạng bốt, đau khớp Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 75 2.3. Tiêu chuẩn loại trừ: - Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu. Bệnh nhân không điều trị theo đúng phác đồ. 2.4. Các bước tiến hành Bệnh nhi được làm xét nghiệm suPAR nước tiểu khi chẩn đoán lần đầu và trước khi điều trị.Xét nghiệm suPAR niệu, protein niệu, creatinin niệu được thực hiện trên cùng 1 mẫu nước tiểu trước điều trị của bệnh nhân. suPAR niệu định lượng bằng phương pháp ELISA tại phòng xét nghiệm của Khoa Sinh lý bệnh- Miễn dịch tại trường Đại học Y Dược Huế.Theo dõi dọc đáp ứng điều trị của bệnh nhân sau 6 -8 tuần điều trị tấn công với prednisolone 2mg/kg/ ngày. Định nghĩa đáp ứng điều trị: - Đáp ứng hoàn toàn: protein/creatinin niệu < 20mg/mmol, hoặc que thử ở dạng vết trong 3 ngày liên tục. - Đáp ứng 1 phần: protein niệu giảm hơn 50% so với giá trị ban đầu và protein/creatinin niệu ở khoảng 20- 200mg/mmol. - Không đáp ứng: protein niệu không giảm hơn 50% so với giá trị ban đầu hoặc protein niệu dai dẵng> 200mg/mmol. 2.5. Xử lí số liệu: bằng phần mềm SPSS. 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu Tỷ lệ nam mắc HCTH nhiều hơn so với nữ với tỷ lệ 2/1.Nhóm tuổi phát hiện HCTH nhiều nhất là 1-6 tuổi, chiếm 66,70%, nhóm 2-10 tuổi là 13,3%, nhóm 11-15 tuổi là 20%. Tuổi trung bình phát hiện bị HCTH là 5,00 ± 2,90 tuổi; nhỏ nhất là 2 tuổi và lớn nhất là 15 tuổi. Đái máu gặp 2/30 bệnh nhân (6,7%). Nồng độ Protein niệu/ creatinin niệu 0,76 ± 0,79(0,23- 3,10) mg/mmol.Nồng độ Albumin máu 15,6 ±4,4 g/l.Nồng độ creatinin máu là 33,5± 18,5 (16- 109) µmol/l. Sau điều trị tấn công 6-8 tuần 100% đáp ứng hoàn toàn. 3.2. Nồng độ suPAR ở bệnh nhi HCTH trước điều trị Bảng 1. Nồng độ suPAR nước tiểu bệnh nhân HCTH lần đầu. Nồng độ suPAR niệu Trung bình Min Max Nồng độ suPAR niệu (pg/ml) 12300±3200 5724 18084 Nồng độ suPAR/creatinin niệu(pg/ mg) 2712±2217 605 11443 3.3. Mối liên quan giữa suPAR/ creatinin niệu với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng khác Bảng 2. Mối liên quan giữa suPAR niệu với một số đặc điểm lâm sàng Nhóm tuổi Đái máu suPAR/ creatinin niệu (pg/ mg) p 1-6 Có n=0 0 p = 0,03<0.05 Không n=20 3284 ±2504 (710-11443) 7-15 Có n=2 1549±705 (605-2681) Không n=8 1636±567 (1235- 2038) Bảng 3. Mối liên quan giữa suPAR/creatinin niệu với một số đặc điểm cận lâm sàng suPAR/ creatinin niệu p Albumin máu rs= -0,105 0,579 Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 76 Mức lọc cầu thận rs=-0,259 0,213 Protein niệu rs= -0,106 0,413 3.4. Mối liên quan giữa suPAR niệu với đáp ứng điều trị Bảng 4. Mối liên quan giữa suPAR niệu với đáp ứng điều trị Đáp ứng điều trị suPAR/creatinin niệu p Sau 2 tháng n=30 Đáp ứng hoàn toàn n=30 2712±2217 pg/mg Đáp ứng 1 phần n=0 0 Không đáp ứng n= 0 0 4. BIỆN LUẬN Đây là một nghiên cứu tiến cứu đa trung tâm, thực hiện định lượng nồng độ suPAR niệu ở bệnh nhi ở Việt nam mắc HCTH lần đầu, chưa điều trị. Thực tế ở trẻ em, thể giải phẩu bệnh hay gặp của HCTH là tổn thương tối thiểu (đa số) và xơ hóa cầu thận cục bộ. Về lâm sàng và cận lâm sàng, hai thể bệnh này lúc khởi bệnh khá giống nhau, chỉ khác về đáp ứng lâu dài và tiên lượng suy thận mạn về sau. Với mục đích tìm hiểu liệu có yếu tố miễn dịch nào có thể giúp phân biệt hai nhóm thể giải phẫu bệnh này ngay từ đầu không, chúng tôi đã tiến hành xét nghiệm nồng độ suPAR niệu của bệnh nhân lúc khởi bệnh, sau đó theo dõi dọc đáp ứng điều trị để xem liệu nồng độ suPAR ban đầu có khác biệt để tiên đoán đáp ứng điều trị về sau. Hiện nay, các báo cáo về suPAR ở HCTH trẻ em khá ít. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: Nồng độ suPAR niệu trung bình 12300±3200pg/ml (5724-18084 pg/ml). Nồng độ suPAR/creatinin niệu 2712±2217 pg/mg (605-11443 pg/ mg). Kết quả này có thấp hơn so với nghiên cứu của Fujimoto là 3194 (2395-4347)pg/mg creatinin niệu [5]. Tuy nhiên nghiên cứu này được thực hiện ở người lớn, nơi mà tổn thương xơ hóa cầu thận gặp khá cao. Về mối tương quan giữa suPAR niệu và đái máu, chúng tôi nhận thấy suPAR niệu không có khác biệt giữa những bệnh nhi có trên 6 tuổi có hay không có biểu hiện đái máu (p=), điều đặc biệt là suPAR niệu ở bệnh nhi dưới 6 tuổi, không đái máu (tuổi hay gặp của thể tổn thương tối thiểu) lại cao hơn có ý nghĩa so với nhóm trẻ trên 6 tuổi. Điều này có vẻ mâu thuẫn với các nghiên cứu ở trên khi nhấn mạnh rằng suPAR niệu có thể là marker giúp xác định thể xơ hóa cầu thận. Hoặc do nhóm nghiên cứu của chúng tôi ở trẻ em, tỉ lệ bệnh cầu thận xơ hóa không cao nên có sự khác biệt. Về mối tương quan giữa suPAR niệu với các yếu tố cận lâm sàng, chúng tôi nhận thấy suPAR niệu không có mối tương quan với creatinin máu (rs=-0.259.p=0.213), albumin máu (rs= -0.105, p= 0.579) và protein niệu (- 0.106, p= 0.413). Nghiên cứu của Fujimoto thấy suPAR niệu có mối tương quan thuận với protein niệu (rs=0,5, p= 0,003), và không có mối tương quan vói mức lọc cầu thận.[5] Huang và các cộng sự công bố rằng suPAR niệu có mối liên quan thuận với protein niệu (rs=0,287, p=0,024), liên quan nghịch với albumin máu (r=-0,269, p=0,034) ở bệnh nhân FSGS tiên phát nhưng không liên quan ở bệnh nhân tổn thương tối thiểu (r= 0,192, p=0,529), bệnh cầu thận màng (r= -0,189, p=0,399), bệnh FSGS thứ phát (r=-0,264, p= 0,384). Cũng không có mối liên quan giữa mức lọc cầu thận và suPAR niệu.[4]. Đánh giá suPAR niệu với mức độ đáp ứng điều trị. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng, sau giai đoạn tấn công (2 tháng) 100% đáp ứng hoàn toàn với liệu pháp corticoid.Trong nghiên cứu của Fujimoto và cộng sự, họ thấy rằng suPAR niệu trước điều trị tăng cao nhưng không có sự khác biệt giữa các nhóm FSGS, MCD và bệnh cầu thận màng. Tuy Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 77 nhiên, suPAR niệu chỉ giảm sau điều trị ở nhóm HCTH đáp ứng điều trị và nhóm MCD, không giảm ở nhóm FSGShay bệnh cầu thận màng. Họ kết luận rằng suPAR niệu trước điều trị không giúp ích tiên đoán đáp ứng điều trị cũng như phân biệt FSGS và MCD. [5]. Huang và cộng sự nghiên cứu ở 16 bệnh nhân trong khoảng thời gian trung bình 80 tuần, thấy rằng nồng độ suPAR niệu ban đầu không khác biệt giữa nhóm đáp ứng điều trị hoàn toàn và không đáp ứng hoàn toàn. Ở nhóm đáp ứng hoàn toàn, suPAR niệu sau thời gian theo dõi giảm có ý nghĩa thống kê với p= 0,017, và tăng có ý nghĩa ở nhóm không đáp ứng hoàn toàn, FSGS với p=0,031.[4] Vậy nồng độ suPAR ban đầu không có ý nghĩa tiên lượng đáp ứng điều trị ở HCTH trẻ em. Kết luận này đặt ra cho chúng tôi một câu hỏi mới là liệu có phải suPAR niệu là marker cho FSGS tiên phát hay không? Hay nhóm bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi đều là MCD hoặc thời gian theo dõi của nhóm chúng tôi còn khá ngắn. Trong các nghiên cứu của Huang và Fujimoto đều gợi ý suPAR niệu có thể là marker giúp chẩn đoán FSGS vậy thì thời điểm xét nghiệm để có giá trị chẩn đoán là vào thời điểm nào sẽ có giá trị nhất? Chúng tôi nghĩ cần có nhiều nghiên cứu hơn về suPAR niệu ở HCTH trẻ em trong tương lai. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Xu Y. et al.(2001), Induction of urokinase receptor expression in nephrotoxic nephritis. Exp Nephrol (9): pp.397–404. 2. Segarra A. et al.(2014), Value of soluble urokinase receptor serum levels in the differential diagnosis between idiopathic and secondary focal segmental glomerulosclerosis. Nefrologia. 34(1): pp.53-61. 3. Palacios C.R.F. et al.(2013), Urine But Not Serum Soluble Urokinase Receptor (suPAR) May Identify Cases of Recurrent FSGS in Kidney Transplant Candidates. Transplantation. 96(4): pp.394–399. 4. Huang J. et al.(2014), Urinary soluble urokinase receptor levels are elevated and pathogenic in patients with primary focal segmental glomerulosclerosis. BMC Medicine. 12: pp.1-11. 5. Fujimoto K.et al.(2014), Clinical significance of serum and urinary soluble urokinase receptor (suPAR) in primary nephrotic syndrome and MPO-ANCA- associated glomerulonephritis in Japanese. Clin Exp Nephrol: pp.1-11. 6. Schlondorff D.(2014), Are serum suPAR determinations by current ELISA methodology reliable diagnostic biomarkers for FSGS? Kidney International: pp.499–501. 7. Sever S., et al.(2013), Is There Clinical Value in Measuring suPAR Levels in FSGS? Clin J Am Soc Nephrol. 8(pp.1273–1275).
File đính kèm:
tim_hieu_gia_tri_cua_supar_nieu_trong_benh_hoi_chung_than_hu.pdf

