Tìm hiểu giá trị của supar niệu trong bệnh hội chứng thận hư lần đầu ở trẻ em

Mục tiêu: Khảo sát nồng độ suPAR niệu (soluble urokinase plasminogen activator) trước điều trị với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và mức độ đáp ứng điều trị giai đoạn sớm trong bệnh hội chứng thận hư (HCTH) tiên phát lần đầu ở trẻ em. Phương pháp:Nghiên cứu theo dõi dọc các trường hợp bệnh. Kết quả: Nghiên cứu trên 30 trẻ em được chẩn đoán HCTH lần đầu có theo dõi tại Trung tâm Nhi khoa Huế và khoa Nhi bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế, thấy nồng độ suPAR/creatinin niệu 2712±2217 pg/mg (605-11443 pg/ mg), nồng độ suPAR niệu/ creatinin niệu ở nhóm bệnh nhi 1-6 tuổi cao hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh nhi 7-15 tuổi, không có sự khác biệt giữa nhóm có đái máu và không đái máu. Nồng độ suPAR/ creatinin niệu không mối liên quan có ý nghĩa với albumin máu, mức lọc cầu thận và protein niệu. Sau giai đoạn tấn công, 100% bệnh nhi đáp ứng hoàn toàn với điều trị nên nồng độ suPAR niệu/creatinin niệu không giúp dự báo đáp ứng sau giai đoạn điều trị tấn công ở bệnh nhi HCTH

pdf 5 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Tìm hiểu giá trị của supar niệu trong bệnh hội chứng thận hư lần đầu ở trẻ em", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tìm hiểu giá trị của supar niệu trong bệnh hội chứng thận hư lần đầu ở trẻ em

Tìm hiểu giá trị của supar niệu trong bệnh hội chứng thận hư lần đầu ở trẻ em
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
73 
TÌM HIỂU GIÁ TRỊ CỦA suPAR NIỆU 
TRONG BỆNH HỘI CHỨNG THẬN HƯ LẦN ĐẦU Ở TRẺ EM 
Lê Thỵ Phương Anh*1, Hoàng Thị Thủy Yên1, Trần Kiêm Hảo2, 
Phan Thị Minh Phương1, Nguyễn Thị Diễm Chi2, Nguyễn Thị Hồng Đức2, 
1. Trường Đại học Y Dược Huế, Đại học Huế 
2. Bệnh viện Trung ương Huế 
DOI: 10.47122/vjde.2020.43.10 
ABSTRACT 
Research on the value of urinary supar 
in childhood nephrotic syndrome 
Objectives: To investigate the concentration 
of urinary soluble urokinase plasminogen 
activator pretreatment with clinical, paraclinical 
and treatment response in children with primary 
nephrotic syndrome. Methods: Longitudinal 
follow-up study. Results: A study of over 30 
children diagnosed with nephrotic syndrome for 
the first time was followed up at Hue Pediatric 
Center and Pediatrics Departement of Hue 
University of Medicine and Pharmacy. Urinary 
suPAR/ creatinine 2712 ± 2217 pg / mg (605-
11443 pg / mg), urinary suPAR / creatinine 
concentration in children1-6 years old was 
significantly higher than in group 7-15 years 
old, there was no signifficant difference 
between hematuria and non-hematuria group. 
Urinary suPAR / creatinine concentration was 
not significantly associated with plasma 
albumin, glomerular filtration rate and 
proteinuria. After the initial steroid course (2 
months), 100% patients respond completely to 
treatment. So urinary suPAR / creatinine 
concentrations do not help predict the response 
after the initial steroid course in childhood 
nephrotic syndrome. Conclusions: Urinary 
suPAR / creatinine levels has no relationship 
with hematuria, albuminemia, proteinuria. Pre-
treatment urinary suPAR / creatinine levels do 
not help predict the ability to respond to early 
treatment. More research is needed to 
understand the role of suPARuria in chilhood 
nephrotic syndrome. 
Keywords: soluble urokinase plasminogen 
activator, urinary suPAR, childhood nephrotic 
syndrome, response to treatment. 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Khảo sát nồng độ suPAR niệu 
(soluble urokinase plasminogen activator) 
trước điều trị với các đặc điểm lâm sàng, cận 
lâm sàng và mức độ đáp ứng điều trị giai 
đoạn sớm trong bệnh hội chứng thận hư 
(HCTH) tiên phát lần đầu ở trẻ em. Phương 
pháp:Nghiên cứu theo dõi dọc các trường 
hợp bệnh. Kết quả: Nghiên cứu trên 30 trẻ em 
được chẩn đoán HCTH lần đầu có theo dõi tại 
Trung tâm Nhi khoa Huế và khoa Nhi bệnh 
viện Trường Đại học Y Dược Huế, thấy nồng 
độ suPAR/creatinin niệu 2712±2217 pg/mg 
(605-11443 pg/ mg), nồng độ suPAR niệu/ 
creatinin niệu ở nhóm bệnh nhi 1-6 tuổi cao 
hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh nhi 7-15 
tuổi, không có sự khác biệt giữa nhóm có đái 
máu và không đái máu. Nồng độ suPAR/ 
creatinin niệu không mối liên quan có ý nghĩa 
với albumin máu, mức lọc cầu thận và protein 
niệu. Sau giai đoạn tấn công, 100% bệnh nhi 
đáp ứng hoàn toàn với điều trị nên nồng độ 
suPAR niệu/creatinin niệu không giúp dự báo 
đáp ứng sau giai đoạn điều trị tấn công ở bệnh 
nhi HCTH. Kết luận: Nồng độ suPAR niệu/ 
creatinin niệu không có mối liên quan với đái 
máu, albumin máu, protein niệu. Nồng độ 
suPAR niệu/ creatinin niệu trước điều trị 
không giúp tiên đoán khả năng đáp ứng điều 
trị giai đoạn sớm. Cần nhiều nghiên cứu hơn 
để hiểu thêm về vai trò của suPAR niệu ở 
HCTH trẻ em. 
Từ khóa: soluble urokinase plasminogen 
activator, suPAR niệu, hội chứng thận hư trẻ 
em, đáp ứng điều trị. 
Chịu trách nhiệm chính: Lê Thỵ Phương 
Anh 
Ngày nhận bài: 27/10/2020 
Ngày phản biện khoa học: 01/11/2020 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
74 
Ngày duyệt bài: 12/12/2020 
Email:[email protected] 
Điện thoại: 0902343156 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Bệnh cầu thận xơ hóa cục bộ (FSGS Focal 
segmental glomerulosclerosis) là một nhóm 
bệnh HCTH dai dẵng, kháng corticoid. Xu và 
cộng sự là một trong những người đầu tiên 
mô tả vai trò của uPAR trong tổn thương cầu 
thận. Ở chuột thí nghiệm, uPAR biểu hiện 
mạnh ở tế bào nội mô, biểu mô và gian mạch. 
Những tác giả đó thấy rằng uPAR có thể liên 
quan đến sự xóa bỏ chân các túc bào và tách 
khỏi màng đáy cầu thận. [1]uPAR gắn và 
hoạt hóa αβ3- intergrin ở túc bào, dẫn đến 
hoạt hóa men GTPase Rac-1, làm thay đổi 
tính di động của cá túc bào, làm xóa bỏ các tế 
bào có chân. Tiếp theo đó là các nghiên cứu 
của các nhóm tác giả: Segarra (2014)[2], 
Palacios (2013)[3], Huang (2014) nhận xét 
rằng suPAR niệu tăng đặc hiệu ở nhóm FSGS 
tiên phát và có liên quan đến mức độ nặng 
của bệnh [4] 
Trong đó đáng chú ý là nghiên cứu của 
Fujimoto và cộng sự (2014) thấy suPAR 
huyết thanh ở nhóm chứng là 1595 (1435-
1922) pg/ml, ở bệnh nhân HCTH tiên phát là 
3208 (2683-4340) pg/ml; suPAR nước tiểu ở 
nhóm bình thường là 1186 (1072-1615) 
pg/mg creatinin niệu, ở bệnh HCTH tiên phát 
là 3194 (2395-4347)pg/mg creatinin niệu. 
Nồng độ suPAR huyết thanh và nước tiểu là 
một chỉ số hữu ích giúp đánh giá đáp ứng 
điều trị ở bệnh nhân HCTH tiên phát, giúp 
phân biệt MCD và FSGS ở giai đoạn sau điều 
trị. Ngoài ra suPAR huyết thanh và nước tiểu 
có liên quan với đáp ứng điều trị lâu dài ở 
HCTH tiên phát [5]. 
Nghiên cứu suPAR niệu có những lợi điểm 
hơn so với suPAR huyết thanh như sau: (1)- 
suPAR niệu được đánh giá dựa vào chỉ số 
suPAR niệu/ creatinin niệu nên nó giảm ảnh 
hưởng của việc giảm mức lọc cầu thận lên 
nồng độ suPAR. (2)- Nghiên cứu của Wei và 
Zhang nêu ra suPAR có thể được sản xuất bởi 
túc bào bị tổn thương nên xét nghiệm suPAR 
niệu sẽ bao gồm cả suPAR huyết thanh và 
suPAR từ túc bào. Điều này giúp tách biệt tổn 
thương FSGS rõ hơn các bệnh lý ngoài thận 
khác.(3)- Các dạng đơn vị của suPAR muốn 
gây tổn thương cầu thận phải qua được màng 
lọc cầu thận, nên việc định lượng suPAR niệu 
sẽ phản ánh rõ ràng hơn mối liên quan giữa 
suPAR và tổn thương cầu thận. (4)- Ảnh 
hưởng của suPAR lên cầu thận tùy thuộc vào 
ngưỡng nồng độ suPAR nên việc định lượng 
suPAR niệu sẽ tránh được sự chồng chéo lên 
nhau của suPAR huyết thanh và giúp cho việc 
phân tách tổn thương FSGS rõ ràng hơn. [3], 
[4],[5], [6], [7] 
Tổn thương chủ yếu của HCTH trẻ em là 
tổn thương tối thiểu (MCD: minimal change 
disease) và bệnh cầu thận xơ hóa cục bộ, 
trong bệnh FSGS thường dai đẵng và đa phần 
tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối. Các 
nghiên cứu của các tác giả trên thế giới đều 
nói lên vai trò của suPAR niệu trong chẩn 
đoán thể xơ hóa cục bộ, như vậy nó cũng có 
thể liên quan đến khả năng đáp ứng điều trị. 
Vì vậy mục đích của nghiên cứu của chúng 
tôi là để tìm hiểu mối liên quan của suPAR 
niệu với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng 
và đáp ứng điều trị giai đoạn sớm ở bệnh 
HCTH lần đầu. 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG 
PHÁP NGHIÊN CỨU 
Nghiên cứu mô tả theo dõi dọc 30 bệnh 
nhi được chẩn đoán và điều trị HCTH tại 
phòng Nhi Thận - Nội Tiết - Thần Kinh, 
Trung tâm Nhi khoa Nhi Bệnh viện Trung 
ương Huế và Khoa Nhi, Bệnh viện Trường 
Đại học Y Dược Huế 
2.1. Thời gian nghiên cứu: 3/2019 – 
3/2020. 
2.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh: Bệnh nhi 
được chẩn đoán HCTH theo tiêu chuẩn: 
- Protein niệu ≥ 50 mg/kg/24giờ hoặc tỷ lệ 
protein/ creatinine niệu > 200 mg/mmol 
- Albumin máu giảm < 25 g/L. 
- Mắc bệnh lần đầu. Không có các biểu 
hiện lâm sàng ngoài thận như ban cánh 
bướm, ban vòng, ban xuất huyết dạng bốt, 
đau khớp 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
75 
2.3. Tiêu chuẩn loại trừ: 
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia 
nghiên cứu. Bệnh nhân không điều trị theo 
đúng phác đồ. 
2.4. Các bước tiến hành 
Bệnh nhi được làm xét nghiệm suPAR 
nước tiểu khi chẩn đoán lần đầu và trước khi 
điều trị.Xét nghiệm suPAR niệu, protein niệu, 
creatinin niệu được thực hiện trên cùng 1 mẫu 
nước tiểu trước điều trị của bệnh nhân. 
suPAR niệu định lượng bằng phương pháp 
ELISA tại phòng xét nghiệm của Khoa Sinh 
lý bệnh- Miễn dịch tại trường Đại học Y 
Dược Huế.Theo dõi dọc đáp ứng điều trị của 
bệnh nhân sau 6 -8 tuần điều trị tấn công với 
prednisolone 2mg/kg/ ngày. 
Định nghĩa đáp ứng điều trị: 
- Đáp ứng hoàn toàn: protein/creatinin 
niệu < 20mg/mmol, hoặc que thử ở dạng vết 
trong 3 ngày liên tục. 
- Đáp ứng 1 phần: protein niệu giảm hơn 
50% so với giá trị ban đầu và 
protein/creatinin niệu ở khoảng 20-
200mg/mmol. 
- Không đáp ứng: protein niệu không giảm 
hơn 50% so với giá trị ban đầu hoặc protein 
niệu dai dẵng> 200mg/mmol. 
2.5. Xử lí số liệu: bằng phần mềm SPSS. 
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
3.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 
Tỷ lệ nam mắc HCTH nhiều hơn so với nữ với tỷ lệ 2/1.Nhóm tuổi phát hiện HCTH nhiều 
nhất là 1-6 tuổi, chiếm 66,70%, nhóm 2-10 tuổi là 13,3%, nhóm 11-15 tuổi là 20%. Tuổi trung 
bình phát hiện bị HCTH là 5,00 ± 2,90 tuổi; nhỏ nhất là 2 tuổi và lớn nhất là 15 tuổi. 
Đái máu gặp 2/30 bệnh nhân (6,7%). Nồng độ Protein niệu/ creatinin niệu 0,76 ± 0,79(0,23-
3,10) mg/mmol.Nồng độ Albumin máu 15,6 ±4,4 g/l.Nồng độ creatinin máu là 33,5± 18,5 (16-
109) µmol/l. Sau điều trị tấn công 6-8 tuần 100% đáp ứng hoàn toàn. 
3.2. Nồng độ suPAR ở bệnh nhi HCTH trước điều trị 
Bảng 1. Nồng độ suPAR nước tiểu bệnh nhân HCTH lần đầu. 
 Nồng độ suPAR niệu 
Trung bình Min Max 
Nồng độ suPAR niệu 
(pg/ml) 
12300±3200 
5724 18084 
Nồng độ suPAR/creatinin 
niệu(pg/ mg) 
2712±2217 
605 11443 
3.3. Mối liên quan giữa suPAR/ creatinin niệu với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng 
khác 
Bảng 2. Mối liên quan giữa suPAR niệu với một số đặc điểm lâm sàng 
Nhóm tuổi Đái máu suPAR/ creatinin niệu (pg/ mg) p 
1-6 Có n=0 0 p = 0,03<0.05 
Không n=20 3284 ±2504 (710-11443) 
7-15 Có n=2 1549±705 (605-2681) 
Không n=8 1636±567 (1235- 2038) 
Bảng 3. Mối liên quan giữa suPAR/creatinin niệu với một số đặc điểm cận lâm sàng 
 suPAR/ creatinin niệu p 
Albumin máu rs= -0,105 0,579 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
76 
Mức lọc cầu thận rs=-0,259 0,213 
Protein niệu rs= -0,106 0,413 
3.4. Mối liên quan giữa suPAR niệu với đáp ứng điều trị 
Bảng 4. Mối liên quan giữa suPAR niệu với đáp ứng điều trị 
Đáp ứng điều trị suPAR/creatinin niệu p 
Sau 2 tháng 
n=30 
Đáp ứng hoàn toàn n=30 2712±2217 pg/mg 
 Đáp ứng 1 phần n=0 0 
Không đáp ứng n= 0 0 
4. BIỆN LUẬN 
Đây là một nghiên cứu tiến cứu đa trung 
tâm, thực hiện định lượng nồng độ suPAR 
niệu ở bệnh nhi ở Việt nam mắc HCTH lần 
đầu, chưa điều trị. 
Thực tế ở trẻ em, thể giải phẩu bệnh hay 
gặp của HCTH là tổn thương tối thiểu (đa số) 
và xơ hóa cầu thận cục bộ. Về lâm sàng và 
cận lâm sàng, hai thể bệnh này lúc khởi bệnh 
khá giống nhau, chỉ khác về đáp ứng lâu dài 
và tiên lượng suy thận mạn về sau. Với mục 
đích tìm hiểu liệu có yếu tố miễn dịch nào có 
thể giúp phân biệt hai nhóm thể giải phẫu 
bệnh này ngay từ đầu không, chúng tôi đã tiến 
hành xét nghiệm nồng độ suPAR niệu của 
bệnh nhân lúc khởi bệnh, sau đó theo dõi dọc 
đáp ứng điều trị để xem liệu nồng độ suPAR 
ban đầu có khác biệt để tiên đoán đáp ứng 
điều trị về sau. 
Hiện nay, các báo cáo về suPAR ở HCTH 
trẻ em khá ít. Kết quả nghiên cứu của chúng 
tôi cho thấy: Nồng độ suPAR niệu trung bình 
12300±3200pg/ml (5724-18084 pg/ml). Nồng 
độ suPAR/creatinin niệu 2712±2217 pg/mg 
(605-11443 pg/ mg). Kết quả này có thấp hơn 
so với nghiên cứu của Fujimoto là 3194 
(2395-4347)pg/mg creatinin niệu [5]. Tuy 
nhiên nghiên cứu này được thực hiện ở người 
lớn, nơi mà tổn thương xơ hóa cầu thận gặp 
khá cao. 
Về mối tương quan giữa suPAR niệu và 
đái máu, chúng tôi nhận thấy suPAR niệu 
không có khác biệt giữa những bệnh nhi có 
trên 6 tuổi có hay không có biểu hiện đái máu 
(p=), điều đặc biệt là suPAR niệu ở bệnh nhi 
dưới 6 tuổi, không đái máu (tuổi hay gặp của 
thể tổn thương tối thiểu) lại cao hơn có ý 
nghĩa so với nhóm trẻ trên 6 tuổi. Điều này có 
vẻ mâu thuẫn với các nghiên cứu ở trên khi 
nhấn mạnh rằng suPAR niệu có thể là marker 
giúp xác định thể xơ hóa cầu thận. Hoặc do 
nhóm nghiên cứu của chúng tôi ở trẻ em, tỉ lệ 
bệnh cầu thận xơ hóa không cao nên có sự 
khác biệt. 
Về mối tương quan giữa suPAR niệu với 
các yếu tố cận lâm sàng, chúng tôi nhận thấy 
suPAR niệu không có mối tương quan với 
creatinin máu (rs=-0.259.p=0.213), albumin 
máu (rs= -0.105, p= 0.579) và protein niệu (-
0.106, p= 0.413). Nghiên cứu của Fujimoto 
thấy suPAR niệu có mối tương quan thuận với 
protein niệu (rs=0,5, p= 0,003), và không có 
mối tương quan vói mức lọc cầu thận.[5] 
Huang và các cộng sự công bố rằng suPAR 
niệu có mối liên quan thuận với protein niệu 
(rs=0,287, p=0,024), liên quan nghịch với 
albumin máu (r=-0,269, p=0,034) ở bệnh 
nhân FSGS tiên phát nhưng không liên quan 
ở bệnh nhân tổn thương tối thiểu (r= 0,192, 
p=0,529), bệnh cầu thận màng (r= -0,189, 
p=0,399), bệnh FSGS thứ phát (r=-0,264, p= 
0,384). Cũng không có mối liên quan giữa 
mức lọc cầu thận và suPAR niệu.[4]. 
Đánh giá suPAR niệu với mức độ đáp ứng 
điều trị. 
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng, 
sau giai đoạn tấn công (2 tháng) 100% đáp 
ứng hoàn toàn với liệu pháp corticoid.Trong 
nghiên cứu của Fujimoto và cộng sự, họ thấy 
rằng suPAR niệu trước điều trị tăng cao 
nhưng không có sự khác biệt giữa các nhóm 
FSGS, MCD và bệnh cầu thận màng. Tuy 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
77 
nhiên, suPAR niệu chỉ giảm sau điều trị ở 
nhóm HCTH đáp ứng điều trị và nhóm MCD, 
không giảm ở nhóm FSGShay bệnh cầu thận 
màng. Họ kết luận rằng suPAR niệu trước 
điều trị không giúp ích tiên đoán đáp ứng điều 
trị cũng như phân biệt FSGS và MCD. [5]. 
Huang và cộng sự nghiên cứu ở 16 bệnh nhân 
trong khoảng thời gian trung bình 80 tuần, 
thấy rằng nồng độ suPAR niệu ban đầu không 
khác biệt giữa nhóm đáp ứng điều trị hoàn 
toàn và không đáp ứng hoàn toàn. Ở nhóm 
đáp ứng hoàn toàn, suPAR niệu sau thời gian 
theo dõi giảm có ý nghĩa thống kê với p= 
0,017, và tăng có ý nghĩa ở nhóm không đáp 
ứng hoàn toàn, FSGS với p=0,031.[4] 
Vậy nồng độ suPAR ban đầu không có ý 
nghĩa tiên lượng đáp ứng điều trị ở HCTH trẻ 
em. Kết luận này đặt ra cho chúng tôi một câu 
hỏi mới là liệu có phải suPAR niệu là marker 
cho FSGS tiên phát hay không? Hay nhóm 
bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi đều là 
MCD hoặc thời gian theo dõi của nhóm 
chúng tôi còn khá ngắn. Trong các nghiên cứu 
của Huang và Fujimoto đều gợi ý suPAR niệu 
có thể là marker giúp chẩn đoán FSGS vậy thì 
thời điểm xét nghiệm để có giá trị chẩn đoán 
là vào thời điểm nào sẽ có giá trị nhất? 
Chúng tôi nghĩ cần có nhiều nghiên cứu 
hơn về suPAR niệu ở HCTH trẻ em trong 
tương lai. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Xu Y. et al.(2001), Induction of urokinase 
receptor expression in nephrotoxic 
nephritis. Exp Nephrol (9): pp.397–404. 
2. Segarra A. et al.(2014), Value of soluble 
urokinase receptor serum levels in the 
differential diagnosis between idiopathic 
and secondary focal segmental 
glomerulosclerosis. Nefrologia. 34(1): 
pp.53-61. 
3. Palacios C.R.F. et al.(2013), Urine But 
Not Serum Soluble Urokinase Receptor 
(suPAR) May Identify Cases of Recurrent 
FSGS in Kidney Transplant Candidates. 
Transplantation. 96(4): pp.394–399. 
4. Huang J. et al.(2014), Urinary soluble 
urokinase receptor levels are elevated 
and pathogenic in patients with primary 
focal segmental glomerulosclerosis. BMC 
Medicine. 12: pp.1-11. 
5. Fujimoto K.et al.(2014), Clinical 
significance of serum and urinary soluble 
urokinase receptor (suPAR) in primary 
nephrotic syndrome and MPO-ANCA-
associated glomerulonephritis in 
Japanese. Clin Exp Nephrol: pp.1-11. 
6. Schlondorff D.(2014), Are serum suPAR 
determinations by current ELISA 
methodology reliable diagnostic 
biomarkers for FSGS? Kidney 
International: pp.499–501. 
7. Sever S., et al.(2013), Is There Clinical 
Value in Measuring suPAR Levels in 
FSGS? Clin J Am Soc Nephrol. 
8(pp.1273–1275). 

File đính kèm:

  • pdftim_hieu_gia_tri_cua_supar_nieu_trong_benh_hoi_chung_than_hu.pdf