Tiếp cận toàn diện bệnh lý động mạch chủ: kinh nghiệm tại Trung Tâm Tim mạch Bv Đại học Y Dược TP.HCM

Đặt vấn đề: Bệnh lý động mạch chủ là một

trong những bệnh lý nặng, diễn biến đột ngột với

tiên lượng tử vong cao. Các liệu pháp điều trị bao

gồm phẫu thuật và can thiệp nội mạch, với ưu

điểm và nhược điểm riêng.

Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm điều trị

bệnh động mạch chủ tại Trung Tâm Tim mạch

BV ĐHYD TP.HCM.

Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu:

Mô tả loạt ca hồi cứu bệnh nhân điều trị bệnh

động mạch chủ tại bệnh viện ĐHYD TPHCM từ

tháng 8/2014 đến tháng 8/2019.

Kết quả: 67 bệnh nhân điều trị phẫu thuật

bệnh động mạch chủ, tuổi trung bình 65,6. Bóc

tách động mạch chủ loại A cấp tính chiếm 28

trường hợp, 39 trường hợp phình động mạch chủ

các vị trí. Tử vong 10,4%. Bên cạnh đó, có 112

bệnh nhân được can thiệp nội mạch điều trị bệnh

động mạch, tuổi trung bình 77,6 tuổi. Tử vong

sớm sau phẫu thuật có 11 trường hợp 9,8%. Có

10 trường hợp bị biến chứng dò nội mạch (8,9%).

Kết luận: Can thiệp nội mạch giúp cải

thiện tỉ lệ tử vong sớm, nhưng kết quả lâu dài của

phương pháp này có thể chưa ngang bằng phẫu

thuật. Cần có hệ thống cung cấp đầy đủ giải pháp

để giảm biến chứng và tử vong

pdf 9 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Tiếp cận toàn diện bệnh lý động mạch chủ: kinh nghiệm tại Trung Tâm Tim mạch Bv Đại học Y Dược TP.HCM", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tiếp cận toàn diện bệnh lý động mạch chủ: kinh nghiệm tại Trung Tâm Tim mạch Bv Đại học Y Dược TP.HCM

Tiếp cận toàn diện bệnh lý động mạch chủ: kinh nghiệm tại Trung Tâm Tim mạch Bv Đại học Y Dược TP.HCM
TIẾP CẬN TOÀN DIỆN BỆNH LÝ ĐỘNG MẠCH CHỦ: KINH NGHIỆM TẠI TRUNG TÂM TIM MẠCH... 
 59 
TIẾP CẬN TOÀN DIỆN BỆNH LÝ ĐỘNG MẠCH CHỦ: KINH NGHIỆM 
TẠI TRUNG TÂM TIM MẠCH BV ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HCM 
Võ Tuấn Anh*, Nguyễn Hoàng Định** 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Bệnh lý động mạch chủ là một 
trong những bệnh lý nặng, diễn biến đột ngột với 
tiên lượng tử vong cao. Các liệu pháp điều trị bao 
gồm phẫu thuật và can thiệp nội mạch, với ưu 
điểm và nhược điểm riêng. 
Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm điều trị 
bệnh động mạch chủ tại Trung Tâm Tim mạch 
BV ĐHYD TP.HCM. 
Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: 
Mô tả loạt ca hồi cứu bệnh nhân điều trị bệnh 
động mạch chủ tại bệnh viện ĐHYD TPHCM từ 
tháng 8/2014 đến tháng 8/2019. 
Kết quả: 67 bệnh nhân điều trị phẫu thuật 
bệnh động mạch chủ, tuổi trung bình 65,6. Bóc 
tách động mạch chủ loại A cấp tính chiếm 28 
trường hợp, 39 trường hợp phình động mạch chủ 
các vị trí. Tử vong 10,4%. Bên cạnh đó, có 112 
bệnh nhân được can thiệp nội mạch điều trị bệnh 
động mạch, tuổi trung bình 77,6 tuổi. Tử vong 
sớm sau phẫu thuật có 11 trường hợp 9,8%. Có 
10 trường hợp bị biến chứng dò nội mạch (8,9%). 
Kết luận: Can thiệp nội mạch giúp cải 
thiện tỉ lệ tử vong sớm, nhưng kết quả lâu dài của 
phương pháp này có thể chưa ngang bằng phẫu 
thuật. Cần có hệ thống cung cấp đầy đủ giải pháp 
để giảm biến chứng và tử vong. 
Từ khóa: Tiếp cận toàn diện, hội chứng 
động mạch chủ cấp, can thiệp nội mạch 
ABSTRACT 
Background – Objectives: Aortic disease, 
oftenly seen in the elderly, is a severe condition 
with high mortality and high surgical risk. 
Treatment modalities consists of surgery and 
endovascular repair, each has advantages and 
disadvantages. We summarized our experiences 
in treating aortic disease at the Heart Center, 
University Medical Center at Ho Chi Minh City 
Method: We prospective reviewed patients 
underwent aortic surgery and endovascular 
treatment at the University Medical Center at Ho 
Chi Minh City from 08/2014 to 08/2019. 
Results: 67 patients underwent aortic 
surgery at our center, group mean age was 65.6, 
male:female ratio was 1.4:1. 28 cases were acute 
loạiA dissection, the other 39 patients were 
diagnosed with aortic aneurysms at different part of 
the aorta. Early mortality was 10.4%, including 4 
arch replacement, 1 Bentall and 2 
thoracoabdominal aneurysms. 112 patients were 
treated endovascularly, group mean age was 77.6, 
male:female ratio was 1.6:1. Early mortality was 
9.8%, 10 endoleak was recorded (8.9%)1 
Conclusions: In our experiences with 
aortic procedures, the outcomes are slightly 
better in the endovascular group, comparing to 
the surgical cohort. A holistic approach is 
required to provide the best option for patients 
with this severe condition.. 
Key words: Holistic approach, acute aortic 
syndrome, endovascular repair. 
* Khoa Phẫu Thuật Tim mạch – Bệnh viện Đại học Y Dược TP. 
Hồ Chí Minh 
** Bộ môn Phẫu thuật Lồng ngực – Tim mạch – Đại học Y Dược 
TP. Hồ Chí Minh 
Người chịu trách nhiệm khoa học: Võ Tuấn Anh 
Ngày nhận bài: 01/05/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 15/05/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
 PGS.TS. Nguyễn Hữu Ước 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 60 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Bệnh lý động mạch chủ là một trong những 
bệnh lý nặng, diễn biến đột ngột với tiên lượng tử 
vong cao và thường xuất hiện trên những bệnh 
nhân lớn tuổi. Bệnh động mạch chủ là một phổ 
gồm các bệnh lý sau: Phình động mạch chủ 
(Aortic aneurysm), bóc tách động mạch chủ 
(aortic dissection), huyết khối thành động mạch 
chủ (Intramural hematoma), loét thành động 
mạch chủ (Pentrating atherosclerotic ulcer), giả 
phình động mạch chủ và các bất thường do bệnh 
lý di truyền (Hội chứng Marfan), và một số bệnh 
lý bẩm sinh (van động mạch chủ hai mảnh, hẹp 
ep động mạch chủ).(1) 
Ngày nay, với sự xuất hiện của can thiệp 
nội mạch, việc điều trị bệnh lý động mạch chủ đã 
có những bước tiến mạnh mẽ, giúp cải thiện tiên 
lượng sống ngắn hạn của bệnh nhân, đem lại 
những ưu điểm của phương pháp tiếp cận ít xâm 
lấn và cung cấp thêm một chọn lựa điều trị cho 
người bệnh. Đặc biệt ở nhóm bệnh nhân có nguy 
cơ phẫu thuật quá cao. 
Tuy vậy, bên cạnh những ưu thế rất tốt so 
với phẫu thuật, can thiệp nội mạch cũng không 
tránh khỏi những vấn đề tồn đọng của một 
phương pháp mới và đang phát triển: Tỉ lệ can 
thiệp lại ở những bệnh nhân được theo dõi dài 
hạn cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm 
phẫu thuật (2); các loại dò nội mạch khó giải 
quyết; các trường hợp giải phẫu của túi phình 
không thuận lợi cho can thiệp (cổ túi phình động 
mạch chủ bụng gập góc nhiều, ngắn, hoặc dạng 
không phù hợp). 
Chính vì vậy, dù mang tính chất xâm lấn 
nhiều hơn, phẫu thuật điều trị bệnh động mạch 
chủ vẫn giữ một vai trò quan trọng trong giai 
đoạn hiện nay nhờ vào ưu điểm giải quyết triệt để 
túi phình hoặc bóc tách, giúp cho tỉ lệ bệnh nhân 
cần can thiệp lại thấp hơn so với can thiệp nội 
mạch. Chúng tôi cho rằng, phẫu thuật và can 
thiệp nội mạch bệnh lý động mạch chủ không loại 
trừ lẫn nhau mà bổ trợ cho nhau, giúp nhà phẫu 
thuật động mạch chủ có thể có lựa chọn phù hợp 
và có tiên lượng tốt nhất cho người bệnh. 
Việc triển khai phẫu thuật và can thiệp nội 
mạch bệnh động mạch chủ cần được cân nhắc cẩn 
thận và nên được tiến hành ở các trung tâm có thể 
cung cấp tất cả các lựa chọn cho người bệnh cũng 
như có thể giải quyết các biến chứng có thể xảy 
ra nhằm tránh gây nguy hại cho những bệnh nhân 
vốn đã có tiên lượng tử vong cao. 
Chúng tôi tổng kết kinh nghiệm triển khai 
điều trị phẫu thuật và can thiệp bệnh lý động 
mạch chủ tại Trung Tâm Tim mạch BV Đại học 
Y Dược TP.HCM nhằm đánh giá chỉ định, kĩ 
thuật, kết quả bước đầu cũng như những bài học 
sơ khởi để góp phần hoàn thiện hơn chuyên môn 
về bệnh lý này tại trung tâm chúng tôi. 
Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả sớm của 
điều trị phẫu thuật và điều trị can thiệp nội mạch 
bệnh động mạch chủ tại Trung tâm Tim mạch BV 
Đại học Y Dược TP.HCM. 
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả 
hàng loạt ca. 
Trích lục dữ liệu hồ sơ bệnh án tại Trung 
tâm Tim Mạch, Bệnh viện Đại học Y Dược 
TP.HCM của các bệnh nhân được phẫu thuật và 
can thiệp nội mạch bệnh lý động mạch chủ trong 
thời gian từ tháng 08/2014 đến tháng 08/2019. 
Các kỹ thuật được thực hiện: 
Các kỹ thuật được thực hiện để điều trị 
bệnh lý động mạch chủ tại Trung tâm Tim mạch 
Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM bao gồm: 
- Phình gốc động mạch chủ: 
 Phẫu thuật Bentall ít xâm lấn qua đường 
mở ngực nửa trên xương ức. 
TIẾP CẬN TOÀN DIỆN BỆNH LÝ ĐỘNG MẠCH CHỦ: KINH NGHIỆM TẠI TRUNG TÂM TIM MẠCH... 
 61 
 Phẫu thuật Tirone David ít xâm lấn qua 
đường mở ngực nửa trên xương ức. 
- Phình động mạch chủ ngực lên: 
 Thay động mạch chủ ngực lên ít xâm lấn 
qua đường mở ngực nửa trên xương ức. 
- Phình quai động mạch chủ: 
 Thay toàn bộ quai động mạch chủ ít xâm 
lấn qua đường mở ngực nửa trên xương ức. 
 Tái tạo toàn phần quai động mạch chủ ít 
xâm lấn qua đường mở ngực nửa trên xương ức 
để hỗ trợ đặt ống ghép nội mạch tại vùng 0. 
 Tái tạo một phần quai động mạch chủ qua 
các đường mở ở cổ. 
 Tái tạo toàn bộ quai động mạch chủ 
không cần mở ngực bằng kĩ thuật ống khói qua 
thân động mạch cánh tay đầu để hỗ trợ đặt ống 
ghép nội mạch tại vùng 0. 
- Phình động mạch chủ ngực xuống: 
 Phẫu thuật thay động mạch chủ ngực 
xuống có hoặc không có sự hỗ trợ của tim phổi 
nhân tạo. 
 Can thiệp nội mạch cho phình động mạch 
chủ ngực xuống. 
- Phình động mạch chủ ngực bụng – Phình 
động mạch chủ bụng trên thận: 
 Phẫu thuật thay động mạch chủ ngực bụng 
với sự hỗ trợ của tim phổi nhân tạo. 
 Hiện tại Trung tâm Tim mạch chưa triển 
khai các loại stent graft có nhánh dành cho phình 
động mạch chủ ngực bụng. 
- Phình động mạch chủ bụng sát động mạch 
thận: 
 Phẫu thuật thay động mạch chủ bụng. 
 Can thiệp nội mạch động mạch chủ bụng 
kèm stent động mạch thận dạng ống khói. 
- Phình động mạch chủ bụng dưới thận: 
 Phẫu thuật thay động mạch chủ bụng dưới 
thận qua đường xuyên phúc mạc hoặc đường sau 
phúc mạc. 
 Can thiệp nội mạch động mạch chủ bụng 
dưới thận. 
- Bóc tách động mạch chủ ngực loạiA: 
 Phẫu thuật thay gốc/động mạch chủ 
lên/quai động mạch chủ. 
 Can thiệp nội mạch thì 2 cho phần bóc 
tách của động mạch chủ ngực xuống. 
- Bóc tách động mạch chủ ngực loạiB: 
 Can thiệp nội mạch điều trị bóc tách động 
mạch chủ ngực loạiB bán cấp có hoặc không có 
biến chứng. 
 Can thiệp nội mạch điều trị bóc tách động 
mạch chủ ngực loại B mạn tính. 
Hình 1: Can thiệp điều trị phình quai động mạch chủ có tái tạo toàn phần quai động mạch chủ 
không mở ngực bằng phương pháp ống khói ở thân tay đầu 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 62 
Hình 2: Phẫu thuật điều trị bóc tách động mạch chủ cấp tính 
KẾT QUẢ 
Phẫu thuật: 
Từ tháng 8/2014 đến tháng 8/2019, có 67 bệnh nhân được phẫu thuật động mạch chủ tại Trung 
tâm Tim mạch bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, tuổi trung bình của nhóm là 65.6 tuổi, tỉ lệ 
nam:nữ = 1.4:1. Bóc tách động mạch chủ loại A cấp tính chiếm 28 trường hợp, 39 trường hợp còn lại 
là phình động mạch chủ các vị trí từ gốc động mạch chủ đến động mạch chủ bụng dưới thận. 
Bảng 1. Số lượng phẫu thuật điều trị bệnh động mạch chủ 
Vị trí phẫu thuật Số lượng 
Động mạch chủ lên đơn thuần và gốc động mạch chủ (Bentall hoặc Tirone David) 21 
Quai động mạch chủ + Động mạch chủ lên 18 
Động mạch chủ ngực xuống 3 
Động mạch chủ ngực bụng 6 
Động mạch chủ bụng dưới thận 19 
Tổng 67 
Tử vong có 7 trường hợp (10,4%), trong đó 
4 trường hợp thay quai động mạch chủ, 1 trường 
hợp phẫu thuật Bentall và hai trường hợp phình 
động mạch chủ ngực bụng. Các trường hợp thay 
quai động mạch chủ tử vong đều có tai biến mạch 
máu não sau phẫu thuật, bệnh nhân không tỉnh 
hoặc yếu liệt và tử vong do viêm phổi vi khuẩn và 
nấm. 1 trường hợp phình động mạch chủ ngực 
bụng đã vỡ và tim rời rạc, phẫu thuật cấp cứu 
trong tình trạng sốc giảm thể tích, bệnh nhân 
không cai được máy tim phổi nhân tạo, trường 
hợp còn lại bệnh nhân tử vong do hoại tử toàn bộ 
đại tràng sau phẫu thuật. 5/7 trường hợp tử vong 
là phẫu thuật cấp cứu, chiếm 71,4%. 
Can thiệp nội mạch: 
Từ tháng 8/2014 đến tháng 8/2019, có 112 
bệnh nhân được can thiệp nội mạch điều trị bệnh 
động mạch chủ tại Trung tâm Tim mạch bệnh 
viện Đại học Y Dược TP.HCM, tuổi trung bình 
của nhóm là 77,6 tuổi, tỉ lệ nam:nữ = 1,6:1. 
TIẾP CẬN TOÀN DIỆN BỆNH LÝ ĐỘNG MẠCH CHỦ: KINH NGHIỆM TẠI TRUNG TÂM TIM MẠCH... 
 63 
Bảng 2. Số lượng can thiệp nội mạch điều trị bệnh động mạch chủ 
Bệnh lý Phẫu thuật đi kèm Số lượng 
Phình động mạch chủ ngực Có stent thân tay đầu dạng ống khói 3 
Tái tạo 1 phần quai động mạch chủ 14 
Tái tạo toàn bộ quai động mạch chủ 6 
Không 12 
Bóc tách động mạch chủ 
loại B 
Tái tạo 1 phần quai động mạch chủ 17 
Không 12 
Phình động mạch chủ bụng Có stent vào động mạch thận dạng ống khói 2 
Không 46 
Tổng 112 
Tử vong sớm sau phẫu thuật có 11 trường 
hợp, chiếm tỉ lệ 9,8%. Trong đó có 5 trường hợp 
can thiệp quai động mạch chủ có tái tạo toàn 
phần hoặc bán phần quai. 4 bệnh nhân trong 
nhóm này bị tai biến mạch máu não sau phẫu 
thuật và bệnh nhân tử vong do nguyên nhân 
nhiễm trùng phổi do vi khuẩn và nấm. 1 trường 
hợp phình động mạch chủ vỡ vào khoang màng 
phổi can thiệp thành công nhưng có dò loạiII do 
động mạch liên sườn, bệnh nhân tử vong sau đó 
do hiện tượng vỡ phình tiếp tục diễn tiến. Có 1 
trường hợp phình động mạch chủ ngực xuống 
vỡ và tử vong trước khi bung stent. Có 5 
trường hợp phình động mạch chủ bụng tử vong, 
trong đó 1 trường hợp vỡ vào ổ bụng và 3 
trường hợp vỡ vào khoang sau phúc mạc. 1 
trường hợp còn lại là phình động mạch chủ 
bụng sát thận, có đặt 2 stent vào 2 động mạch 
thận dạng ống khói. Tuy trường hợp này là 
phẫu thuật chương trình, nhưng do thời gian 
phẫu thuật kéo dài, các thao tác khó khăn do 
cấu trúc túi phình phức tạp nên bệnh nhân có 
suy đa cơ quan tiến triển sau mổ và tử vong sau 
1 tuần điều trị. Như vậy, 10/11 trường hợp tử 
vong là can thiệp cấp cứu, chỉ có 1 trường hợp 
là can thiệp chương trình. 
Biến chứng dò nội mạch: Có 10 trường hợp bị biến chứng dò nội mạch (endoleak), chiếm 8.9%. 
Bảng 3. Dò nội mạch sau can thiệp 
Loại dò nội mạch Số lượng 
Dò loại IA 2 
Dò loại IB 1 
Dò loại II 6 
Dò loại III 0 
Dò loại IV 1 
Cả 3 trường hợp dò nội mạch loạiI đều được xử lý thành công ngay trong phẫu thuật. 5 trường 
hợp dò loạiII tự hết sau 6 tháng theo dõi, 1 trường hợp không tự hết và cần can thiệp. Dò loạiIV có 1 
trường hợp và được can thiệp thành công ngay trong phẫu thuật. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 64 
BÀN LUẬN 
Hai phương pháp điều trị bệnh lý động 
mạch chủ hiện nay là phẫu thuật và can thiệp nội 
mạch đều có những ưu điểm và nhược điểm 
riêng. Để tận dụng được tối đa hiệu quả và tránh 
các hậu quả nặng nề cho bệnh nhân, nhà phẫu 
thuật động mạch chủ phải dung hòa và tận dụng 
ưu điểm của từng phương pháp cũng như tránh 
các nhược điểm, không sa đà vào một phương 
pháp nào mà cần linh hoạt trong từng tình huống. 
Khi so sánh tỉ lệ tử vong sớm, chúng tôi 
nhận thấy nhóm can thiệp nội mạch có tỉ lệ tử 
vong thấp hơn so với nhóm phẫu thuật mở (9.8% 
so với 10.4%), tuy nhóm phẫu thuật mở có tuổi 
trung bình thấp hơn. Patel và cộng sự (3) theo dõi 
và so sánh kết quả sau 15 năm giữa can thiệp 
động mạch chủ và phẫu thuật động mạch chủ 
(nghiên cứu EVAR) cho thấy ở giai đoạn ngắn 
hạn, can thiệp nội mạch có kết quả tốt hơn với tỉ 
lệ tử vong thấp hơn. Tuy vậy, ở giai đoạn theo dõi 
trung hạn và dài hạn, đặc biệt sau 8 năm theo dõi, 
tỉ lệ tử vong của nhóm phẫu thuật lại thấp hơn có 
ý nghĩa thống kê so với nhóm can thiệp, cũng như 
tỉ lệ can thiệp lại trong nhóm stent graft cao hơn 
so với nhóm phẫu thuật. Các tác giả kết luận rằng 
can thiệp động mạch chủ bụng có hiệu quả cao 
hơn phẫu thuật ở giai đoạn sớm nhưng ở giai 
đoạn dài hạn thì hiệu quả thấp hơn. 
Bên cạnh đó, những giới hạn trong thời 
điểm hiện tại cũng làm một số các trường hợp 
phình động mạch chủ bụng không phù hợp cho 
can thiệp nội mạch, trong đó có các trường hợp 
cổ ngắn (< 15mm), cổ dạng thùng, cổ dạng hình 
thang hoặc hình thang ngược. Những trường hợp 
này đều nằm ngoài hướng dẫn sử dụng thiết bị 
(Instruction for use – IFU) của nhà sản xuất. Khi 
cố gắng thực hiện can thiệp nội mạch ở các 
trường hợp này, tỉ lệ tử vong cũng như dò nội 
mạch sẽ cao hơn và có khả năng gây nguy hiểm 
cho người bệnh (4). 
Đối với động mạch chủ ngực, Cheng và 
cộng sự thực hiện nghiên cứu gộp (meta analysis) 
và cho thấy can thiệp nội mạch có tỉ lệ tử vong 
ngắn hạn tốt hơn, ít các tai biến sau: Suy thận, liệt 
tủy, mổ lại do chảy máu, biến chứng tim mạch, 
viêm phổi, và thời gian nằm viện ngắn hơn so với 
nhóm phẫu thuật (5). Điều này có thể lý giải được 
vì đa số các trường hợp phẫu thuật động mạch 
chủ ngực, ngay cả với động mạch chủ ngực 
xuống đơn thuần, đều cần đến hoạt động của máy 
tim phổi nhân tạo. Việc sử dụng tuần hoàn ngoài 
cơ thể kéo dài sẽ dẫn đến các biến chứng nặng nề 
như tai biến mạch máu não, suy thận, viêm phổi, 
thở máy kéo dài và nhiễm trùng bệnh viện, những 
biến chứng này sẽ làm tăng tỉ lệ tử vong của 
những bệnh nhân phẫu thuật động mạch chủ. Tuy 
vậy, tỉ lệ dò nội mạch của phình động mạch chủ 
ngực là tương đối cao so với động mạch chủ 
bụng, Parmer và cộng sự cho thấy 29% các 
trường hợp can thiệp động mạch chủ ngực có dò 
nội mạch, trong đó có 40% là dò nội mạch loạiI, 
35% dò nội mạch loạiII, 20% dò nội mạch loạiIII 
và 5% có nhiều loại dò nội mạch cùng lúc (6). Dò 
nội mạch loại II trong can thiệp động mạch chủ 
ngực là loại dò nội mạch khó xử lý triệt để ngay 
tại thời điểm can thiệp, đa số các trường hợp này 
phải theo dõi trong 1 thời gian dài để túi phình 
huyết khối hoàn toàn và dò nội mạch tự hết. 
Bischoff cho thấy tỉ lệ dò nội mạch loạiII trong 
can thiệp phình động mạch chủ ngực khá cao 
trong lô nghiên cứu của mình (8.3%). Trong đó, 
nguyên nhân thường gặp nhất là do động mạch 
dưới đòn (43,3%) và do động mạch liên sườn 
(43,3%). Tuy ít được chú ý hơn dò nội mạch 
loạiI, dò nội mạch loạiII có thể là nguyên nhân 
gây ra tử vong ở các bệnh nhân phình động mạch 
chủ ngực vỡ do túi phình không hoàn toàn được 
TIẾP CẬN TOÀN DIỆN BỆNH LÝ ĐỘNG MẠCH CHỦ: KINH NGHIỆM TẠI TRUNG TÂM TIM MẠCH... 
 65 
cô lập khỏi dòng máu và vẫn được nuôi từ tuần 
hoàn bàng hệ của các mạch máu nhánh xung 
quanh, nhất là động mạch liên sườn. Trong lô 
nghiên cứu của chúng tôi, có một trường hợp tử 
vong sau can thiệp động mạch chủ ngực vỡ do 
dò nội mạch loạiII từ các động mạch liên sườn. 
Chính vì vậy, không nên chủ quan và cho rằng có 
thể theo dõi được loại dò nội mạch này, đặc biệt 
là trên các bệnh nhân có túi phình đã vỡ. 
Tai biến mạch máu não cũng là một vấn đề 
quan trọng cần được chú ý, kể cả trong phẫu thuật 
thay quai động mạch chủ cũng như phẫu thuật tái 
tạo bán phần/toàn phần quai động mạch chủ trong 
can thiệp nội mạch. Yoshitake báo cáo tỉ lệ tai 
biến mạch máu não không hồi phục ở nhóm bệnh 
nhân tái tạo quai động mạch chủ là 9,5% (7), tỉ lệ 
này của chúng tôi là 13%. Nguyên nhân thường 
gặp là do kẹp một bên động mạch cảnh trên bệnh 
nhân lớn tuổi, xơ vữa mạch máu lan tỏa, làm ảnh 
hưởng lưu lượng máu tưới lên não do khiếm 
khuyết từ tuần hoàn bàng hệ. Lưu lượng máu lên 
não có thể kiểm soát được thông qua đo độ bão 
hòa oxy qua não trán bằng hệ thống INVOSTM. 
Tuy vậy, đối với các trường hợp xơ vữa động 
mạch cảnh, đặc biệt ở các mảng xơ vữa không ổn 
định, động tác kẹp có thể làm bung mảng xơ vữa 
lên các động mạch não quan trọng (động mạch 
não giữa, động mạch não sau) mà hệ thống 
INVOSTM không phát hiện được. Vì vậy, cần hết 
sức chú ý thời gian kẹp, mức độ xơ vữa của vị trí 
kẹp nhằm hạn chế thấp nhất biến chứng gây tàn 
phế và tử vong hàng đầu này. 
Phẫu thuật cấp cứu cũng là yếu tố ảnh 
hưởng lên tiên lượng điều trị, kể cả nhóm can 
thiệp và phẫu thuật. 5/7, 10/11. Trong nhóm phẫu 
thuật, có 5/7 bệnh nhân tử vong là cấp cứu 
(71.4%) và 10/11 (91%) bệnh nhân tử vong khi 
can thiệp là cấp cứu. Trong báo cáo của Gupta và 
cộng sự (8), các tác giả so sánh tỉ lệ tử vong giữa 
phẫu thuật và can thiệp nội mạch ở nhóm bệnh 
nhân phình động mạch chủ bụng đã vỡ. Trong 
1447 bệnh nhân, 65.5% được phẫu thuật hở và 
34.5% được can thiệp nội mạch. Tỉ lệ tử vong 
trong vòng 30 ngày của các bệnh nhân này là 
47.9%, trong đó, tử vong của nhóm phẫu thuật hở 
là 52.8% và can thiệp nội mạch là 35.6% (p < 
0.0001). Tỉ lệ biến chứng hậu phẫu cũng rất cao ở 
các bệnh nhân này: Nhồi máu cơ tim cấp (26%), 
suy thận cần chạy thận (17%). 
Đối với động mạch chủ ngực, Jonker và 
cộng sự (9) cũng so sánh giữa phẫu thuật và can 
thiệp nội mạch trong những trường hợp phình 
động mạch chủ ngực vỡ. Trong tổng số 166 
trường hợp, 92 bệnh nhân được điều trị can thiệp 
nội mạch và 69 bệnh nhân được phẫu thuật mở. 
Tỉ lệ tử vong và biến chứng trong nhóm can thiệp 
là 21,7% so với 36,2% trong nhóm phẫu thuật. 
Như vậy, các tác giả cũng cho thấy tỉ lệ tử vong 
sớm ở các bệnh nhân thực hiện phẫu thuật cấp 
cứu ở động mạch chủ ngực là rất cao, đặc biệt 
trong nhóm phẫu thuật. 
Kết quả của chúng tôi khá tương đồng so 
với các tác giả trên, với tỉ lệ tử vong ngắn hạn 
trong nhóm can thiệp thấp hơn so với nhóm phẫu 
thuật. Tuy vậy, chúng tôi cần thêm thời gian để 
đánh giá tỉ lệ tử vong trung và dài hạn giữa hai 
nhóm này với nhau. 
Tuy không ghi nhận trường hợp nào trong 
lô nghiên cứu của chúng tôi, việc chuyển phẫu 
thuật hở cũng là một vấn đề quan trọng đối với 
các trường hợp thực hiện can thiệp nội mạch, đặc 
biệt là trong những trường hợp bóc tách động 
mạch chủ. Theo Chen và cộng sự (10), tỉ lệ bóc 
tách động mạch chủ loại A ngược dòng sau can 
thiệp nội mạch điều trị bóc tách loại B là 2,5%, 
với tỉ lệ tử vong lên đến 37,1%, đặc biệt là với 
các dụng cụ có giá đỡ không phủ ở phần đầu 
(bare stent). Ludovic Canaud và cộng sự (11) cho 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 66 
thấy trong lô nghiên cứu của mình, có 7/186 bệnh 
nhân (3,7%) can thiệp động mạch chủ ngực cần 
chuyển mổ hở, trong đó có 3 trường hợp bóc tách 
loại A ngược dòng, 1 trường hợp xẹp ống ghép, 1 
trường hợp kích thước túi phình tăng lên mà 
không có dò nội mạch, 1 trường hợp dò động 
mạch chủ - thực quản và 1 trường hợp nhiễm 
trùng ống ghép. 
Qua đó có thể thấy, chuyển phẫu thuật mở, 
tuy có tỉ lệ thấp, là một trong những vấn đề lớn 
của can thiệp nội mạch động mạch chủ. Biến 
chứng này thường xảy ra trên bàn can thiệp và 
đòi hỏi ê kíp thực hiện phải khẩn trương, là 
những phẫu thuật viên có kinh nghiệm trong phẫu 
thuật động mạch chủ, đồng thời có phương tiện 
hỗ trợ cần thiết, đặc biệt là hệ thống tim phổi 
nhân tạo và ECMO và đơn vị hồi sức mạnh, mới 
có thể có hy vọng cứu sống bệnh nhân. Không 
nên cho rằng can thiệp động mạch chủ là đơn 
giản, dễ thực hiện vì các thao tác đơn giản và 
đường cong huấn luyện ngắn hơn phẫu thuật 
động mạch chủ. 
Như vậy, qua kinh nghiệm bước đầu của 
Trung tâm Tim mạch BV Đại học Y Dược 
TPHCM, chúng tôi nhận thấy để tiếp cận và điều 
trị hiệu quả bệnh lý động mạch chủ, cần có một 
hệ thống hoàn chỉnh, có thể cung cấp được đầy 
đủ các giải pháp, bao gồm cả can thiệp và phẫu 
thuật toàn diện động mạch chủ trên bất kì vị trí 
nào nhằm giảm thiểu các biến chứng và tử vong 
cho bệnh nhân. 
KẾT LUẬN 
Bệnh động mạch chủ là một bệnh lý nặng, 
có nhiều biến chứng và tỉ lệ tử vong vẫn còn khá 
cao, đối với cả phẫu thuật và can thiệp nội mạch. 
Với ưu thế ít xâm lấn, nhanh chóng hơn, can 
thiệp nội mạch giúp cải thiện tỉ lệ tử vong sớm, 
nhưng kết quả lâu dài của phương pháp này có 
thể không bằng phẫu thuật với tỉ lệ tử vong và tỉ 
lệ can thiệp lại sau 10 năm cao hơn phẫu thuật. 
Cần có hệ thống hoàn chỉnh, cung cấp đầy đủ giải 
pháp, bao gồm can thiệp và phẫu thuật toàn diện 
bệnh động mạch chủ để giảm thiểu biến chứng và 
tử vong cho người bệnh. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Erbel R, Aboyans V, Boileau C, Bossone 
E, et al. (2014). 2014 ESC Guidelines on the 
diagnosis and treatment of aortic diseases: 
Document covering acute and chronic aortic 
diseases of the thoracic and abdominal aorta of 
the adult. The Task Force for the Diagnosis and 
Treatment of Aortic Diseases of the European 
Society of Cardiology (ESC). Eur Heart J. 
35(41):2873-926. 
2. Al-Jubouri M, Comerota AJ, Thakur S, 
Aziz F, et al. (2013). Reintervention after 
EVAR and open surgical repair of AAA: a 15-
year experience. Ann Surg. 258(4):652-7; 
discussion 657-8. 
3. Patel R, Sweeting MJ, Powell JT, 
Greenhalgh RM, et al. (2016). Endovascular 
versus open repair of abdominal aortic aneurysm 
in 15-years' follow-up of the UK endovascular 
aneurysm repair trial 1 (EVAR trial 1): a 
randomised controlled trial. Lancet. 
388(10058):2366-2374. 
4. Oliveira-Pinto J, Oliveira N, Bastos-
Goncalves F, Hoeks S, et al. (2017). Long-term 
results of outside "instructions for use" EVAR. J 
Cardiovasc Surg (Torino). 58(2):252-260. 
5. Cheng D, Martin J, Shennib H, Dunning 
J, et al. (2010). Endovascular aortic repair versus 
open surgical repair for descending thoracic 
aortic disease a systematic review and meta-
analysis of comparative studies. J Am Coll 
Cardiol. 55(10):986-1001. 
TIẾP CẬN TOÀN DIỆN BỆNH LÝ ĐỘNG MẠCH CHỦ: KINH NGHIỆM TẠI TRUNG TÂM TIM MẠCH... 
 67 
6. Parmer SS, Carpenter JP, Stavropoulos 
SW, Fairman RM, et al. (2006). Endoleaks after 
endovascular repair of thoracic aortic aneurysms. 
J Vasc Surg. 44(3):447-52. 
7. Yoshitake A, Hachiya T, Okamoto K, 
Kitahara H, et al. (2016). Postoperative Stroke 
after Debranching with Thoracic Endovascular 
Aortic Repair. Ann Vasc Surg. 36:132-138. 
8. Gupta PK, Ramanan B, Engelbert TL, 
Tefera G, et al. (2014). A comparison of open 
surgery versus endovascular repair of unstable 
ruptured abdominal aortic aneurysms. J Vasc 
Surg. 60(6):1439-45. 
9. Jonker FH, Verhagen HJ, Lin PH, 
Heijmen RH, et al. (2011). Open surgery versus 
endovascular repair of ruptured thoracic aortic 
aneurysms. J Vasc Surg. 53(5):1210-6. 
10. Chen Y, Zhang S, Liu L, Lu Q, et al. 
(2017). Retrograde Type A Aortic Dissection 
After Thoracic Endovascular Aortic Repair: A 
Systematic Review and Meta-Analysis. J Am 
Heart Assoc. 6(9). 
11. Canaud L, Alric P, Gandet T, Albat B, 
et al. (2011). Surgical conversion after thoracic 
endovascular aortic repair. J Thorac Cardiovasc 
Surg. 142(5):1027-31. 

File đính kèm:

  • pdftiep_can_toan_dien_benh_ly_dong_mach_chu_kinh_nghiem_tai_tru.pdf