Tỉ lệ trầm cảm trong ba tháng cuối thai kỳ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Phụ sản TP. Cần Thơ

Đặt vấn đề: Trầm cảm trước sinh (TCTS) là rối loạn tâm thần thường gặp trong thai kỳ. Theo Hiệp hội

Sản phụ khoa Hoa Kỳ, tỉ lệ trầm cảm trước sinh là 10-16%, gia tăng nhiều nguy cơ cho cả mẹ và thai như sinh

non, thai nhẹ cân, thai chậm tăng trưởng trong tử cung, mẹ tăng cân ít và tăng nguy cơ tự sát. Tại Việt Nam

chưa có nhiều nghiên cứu về tỉ lệ trầm cảm trước sinh.

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ trầm cảm ở thai phụ trong ba tháng cuối thai kỳ bằng công cụ sàng lọc Edinburgh

Postnatal Depression Scale (EPDS) và các yếu tố liên quan.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 291 thai phụ mang thai trong

ba tháng cuối thai kỳ tại khoa Khám bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ. Sàng lọc trầm cảm bằng thang

EPDS. Kết quả sàng lọc có triệu chứng trầm cảm ở điểm cắt EPDS ≥10 điểm trở lên

pdf 6 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Tỉ lệ trầm cảm trong ba tháng cuối thai kỳ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Phụ sản TP. Cần Thơ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỉ lệ trầm cảm trong ba tháng cuối thai kỳ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Phụ sản TP. Cần Thơ

Tỉ lệ trầm cảm trong ba tháng cuối thai kỳ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Phụ sản TP. Cần Thơ
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 174 
TỈ LỆ TRẦM CẢM TRONG BA THÁNG CUỐI THAI KỲ 
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TP. CẦN THƠ 
Đàm Như Bình1, Nguyễn Hữu Trung2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Trầm cảm trước sinh (TCTS) là rối loạn tâm thần thường gặp trong thai kỳ. Theo Hiệp hội 
Sản phụ khoa Hoa Kỳ, tỉ lệ trầm cảm trước sinh là 10-16%, gia tăng nhiều nguy cơ cho cả mẹ và thai như sinh 
non, thai nhẹ cân, thai chậm tăng trưởng trong tử cung, mẹ tăng cân ít và tăng nguy cơ tự sát. Tại Việt Nam 
chưa có nhiều nghiên cứu về tỉ lệ trầm cảm trước sinh. 
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ trầm cảm ở thai phụ trong ba tháng cuối thai kỳ bằng công cụ sàng lọc Edinburgh 
Postnatal Depression Scale (EPDS) và các yếu tố liên quan. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 291 thai phụ mang thai trong 
ba tháng cuối thai kỳ tại khoa Khám bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ. Sàng lọc trầm cảm bằng thang 
EPDS. Kết quả sàng lọc có triệu chứng trầm cảm ở điểm cắt EPDS ≥10 điểm trở lên. 
Kết quả: Tỷ lệ thai phụ trầm cảm trong ba tháng cuối thai kỳ là 27,1%. Các yếu tố liên quan gồm có nhóm 
tuổi mẹ từ 25-34, mang thai ngoài ý muốn, mâu thuẫn với chồng, thai phụ ít được gia đình quan tâm. 
Kết luận: Trầm cảm trong ba tháng cuối thai kỳ chiếm tỉ lệ cao. Cần quan tâm nhiều hơn trong sàng lọc 
trầm cảm trước sanh trong quá trình khám thai định kỳ. Việc sử dụng thang đánh giá trầm cảm EPDS có thể 
được thực hiện trong quá trình khám thai định kỳ. 
Từ khóa: trầm cảm trước sinh, EPDS 
ABSTRACT 
PREVALENCE AND ASSOCIATED FACTORS OF ANTENATAL DEPRESSIVE SYMTOMPS 
IN THE THIRD TRIMESTER 
Dam Nhu Binh, Nguyen Huu Trung 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 174 - 179 
Backgrounds: Antenatal Depression (AD) is a common mental disorder in pregnancy. According to The 
American College of Obstetricians and Gynecologists (ACOG), the prevalence of AD is approximately 10-16%, 
untreated maternal depression is associated with an increased in adverse pregnancy outcomes, including 
premature birth, low birthweight infants, fetal growth restrictions, poor maternal weight gain, suicide ideation. 
There is little study about the prevalence of antenatal depression in Vietnam. 
Objectives: To determine the prevalence and associated factors with antenatal depression in the third 
trimester of pregnancy by using EPDS. 
Methods: A cross-sectional study designed on 291 women in the third trimester of pregnancy at Can tho 
OB/GYN Hospital. The Edinburgh Postnatal Depression Scale (EPDS) was used to screen depressive symptoms. 
We set the cut-off ≥10 to identify depressive symptoms. 
Result: Prevalence of antenatal depression in the third trimester of pregnancy is 27,1%. The associated 
factors include age group 25-34, unplanned pregnancy, marital conflict, lack of family support. 
Conclusion: The prevalence of antenatal depression in the third trimester was high. For early detection, 
1Bệnh viện Phụ Sản TP Cần Thơ 2Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: TS.BS. Nguyễn Hữu Trung ĐT: 0913931988 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 175 
screening for depression during the routine antenatal care should be promoted. Our study suggests that EPDS 
can be a standardised screening tool for antenatal depression in the routine antenatal care. 
Keywords: antenatal depression, Edinburgh Postnatal Depression Scale (EPDS) 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Theo ước tính của tổ chức Y tế thế giới, đến 
năm 2030 các rối loạn tâm thần, trong đó có trầm 
cảm, sẽ vượt qua tai nạn giao thông và bệnh lý 
tim mạch trở thành gánh nặng bệnh tật hàng 
đầu(1). Tại Mỹ, tỉ lệ mắc trầm cảm ở người lớn là 
17%, trong đó phụ nữ cao gấp 2 lần so với nam, 
gây ra nhiều gánh nặng về mặt kinh tế(2). Đặc 
biệt, thai phụ là nhóm đối tượng có nguy cơ bị 
ảnh hưởng bởi các rối loạn tâm thần vì có nhiều 
sự thay đổi về sinh lý, giải phẫu khi mang thai, 
đưa đến một thai kỳ nhiều nguy cơ và kết cục 
xấu cho trẻ sơ sinh. 
Theo thống kê của Hiệp hội Sản phụ khoa 
Hoa Kỳ (ACOG) tỉ lệ mắc trầm cảm ở thai phụ là 
10-16% với nguy cơ tự sát cao, gia tăng nhiều rủi 
ro trong thai kỳ: sinh non, thai nhẹ cân, thai 
chậm tăng trưởng trong tử cung, trẻ có chứng rối 
loạn tập trung(2). 
Việc chẩn đoán sớm và sàng lọc các rối loạn 
trầm cảm trong thai kỳ đã được Hội Sản Phụ 
khoa Hoa kỳ khuyến cáo thực hiện ít nhất một 
lần trong giai đoạn chu sinh nhằm phát hiện 
sớm và điều trị kịp thời(3). Tiêu chuẩn vàng chẩn 
đoán trầm cảm là DSM-4 hoặc DSM-5, công cụ 
sàng lọc thường được sử dụng nhất để tầm soát 
trầm cảm chu sinh là bảng câu hỏi Edinburgh 
Postnatal Depression Scale (EPDS), Patient 
Depression Questionaire (PHQ-9). 
Tỉ lệ trầm cảm trước sinh có sự khác biệt 
trong các nghiên cứu, tỉ lệ này dao động trong 
khoảng 7%-20% ở các nước có thu nhập cao, 
trong khi ở các nước có thu nhập trung bình và 
thấp, tỉ lệ trầm cảm trước sinh trên 20%(4). Việt 
Nam là một nước có thu nhập trung bình với tỉ 
lệ trầm cảm trước sinh dao động từ 5%-25%(5,6). 
Tại TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội tỉ lệ trầm 
cảm lần lượt là 6,6% và 13%(7). Tại Việt Nam, 
chưa có nhiều nghiên cứu cũng như quan tâm về 
trầm cảm trước sinh vì đa phần các nghiên cứu 
đều tập trung vào trầm cảm sau sinh. Vì vậy, 
thống kê về tỉ lệ trầm cảm trước sinh và các yếu 
tố liên quan là một vấn đề thiết thực, cần được 
khảo sát và phân tích nhằm tạo nền tảng trong 
chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em một cách 
toàn diện, cũng như giảm tử vong mẹ trong 
tương lai. Tuy nhiên, tại bệnh viện Phụ Sản 
Thành Phố (TP) Cần Thơ, chưa có nghiên cứu 
nào về trầm cảm trước sinh. Từ đó, nghiên cứu 
"tỉ lệ trầm cảm ở thai phụ trong ba tháng cuối 
thai kỳ và các yếu tố liên quan tại bệnh viện Phụ 
sản TP. Cần Thơ" được thực hiện với mong 
muốn làm cơ sở cho các nhà lâm sàng quan tâm 
nhiều hơn đến vấn đề này. 
Mục tiêu 
Xác định tỉ lệ trầm cảm ở thai phụ trong ba 
tháng cuối thai kỳ bằng công cụ sàng lọc EPDS 
tại bệnh viện Phụ sản TP. Cần Thơ (BVPSTPCT). 
Xác định các yếu tố liên quan đến trầm cảm 
ở thai phụ trong ba tháng cuối thai kỳ tại bệnh 
viện Phụ sản TP. Cần Thơ. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Thai phụ có tuổi từ 18 trở lên, mang đơn 
thai, tuổi thai từ 29 đến 40 tuần dựa vào siêu âm 
quý I. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 
12/2019 đến tháng 5/2020 tại khoa Khám 
BVPSTPCT. 
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
Thai phụ có tuổi từ 18 trở lên, mang đơn 
thai, tuổi thai từ 29 đến 40 tuần dựa vào siêu âm 
quý I, có khả năng đọc hiểu Tiếng Việt, đồng ý 
tham gia nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Các thai phụ thuộc nhóm thai kỳ nguy cơ 
cao như tiền sản giật, tăng huyết áp, đái tháo 
đường thai kỳ, dọa sinh non, thiểu ối, đa ối. 
Các thai phụ có siêu âm bất thường hình thái 
thai dựa vào siêu âm quý II. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 176 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu cắt ngang. 
Cỡ mẫu 
Được tính theo công thức tính cỡ mẫu, ước 
lượng một tỉ lệ với độ chính xác tuyệt đối: 
n=
z2 (1-a / 2)p(1- p)
d2
Trong đó: 
n: cỡ mẫu, d: độ chính xác tuyệt đối, d = 0,05. 
α: xác suất sai lầm loại I, α = 0,05, với độ tin 
cậy 95% do đó Z0,975=1,96. 
p: Tỉ lệ ước lượng của bệnh trong quần thể. 
Tỉ lệ thay đổi theo các nghiên cứu khác nhau, 
lấy p=0,254 theo nghiên cứu của tác giả 
Marlise L (2017)(8). Cỡ mẫu tối thiểu được tính 
là 291 trường hợp. 
Phương pháp chọn mẫu 
Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn. 
Phương pháp thực hiện 
Chúng tôi sử dụng thang đánh giá trầm cảm 
trước sinh và sau sinh EPDS. Thang đo bao gồm 
10 câu hỏi, tìm hiểu về cảm nhận của phụ nữ 
trong vòng 7 ngày vừa qua bao gồm tâm trạng 
phiền muộn, cảm giác bị tội, lo âu và ý tưởng tự 
sát. Mỗi câu hỏi gồm 4 lựa chọn trả lời, tính theo 
thang điểm từ 0 đến 3 điểm, trong đó: câu 1,2 và 
4: cách tính điểm cho các đáp án tăng dần từ 0 
đến 3; câu 3, 5 đến 10 được cho điểm ngược lại, 
điểm số cho câu trả lời giảm dần từ 3 đến 0 điểm 
cho đáp án cuối. 
Chúng tôi sử dụng bản dịch sang tiếng Việt 
đã được chuẩn hóa của tác giả Trần Tuấn và 
cộng sự vào năm 2011, tác giả đã đưa ra khuyến 
cáo thang EPDS là công cụ dùng để sàng lọc 
trầm cảm trước sinh và sau sinh là phù hợp 
nhất(9). Điểm cắt EPDS ≥10 điểm để xác định thai 
phụ có triệu chứng trầm cảm dựa trên khuyến 
cáo từ một nghiên cứu do Bộ Y Tế Australia thực 
hiện trên đối tượng là người Việt Nam, là 
ngưỡng cắt tối ưu để không bỏ sót các trường 
hợp trầm cảm(10). 
Tất cả các thai phụ đến khám thai tại phòng 
khám khoa Khám bệnh viện Phụ sản TP. Cần 
Thơ từ 7g00 đến 16g00 hằng ngày (từ thứ hai 
đến thứ sáu) từ tháng 12/2019 đến tháng 5/2020. 
Các đối tượng thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu và 
đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được chúng tôi 
cho ký bảng đồng thuận tham gia nghiên cứu và 
tiến hành phỏng vấn dựa trên bộ câu hỏi soạn 
sẵn. Người phỏng vấn sẽ hỏi trực tiếp, câu trả lời 
của thai phụ được người phỏng vấn điền vào 
bảng thu thập số liệu theo ý của người tham gia. 
Sau đó thai phụ tự điền bộ câu hỏi sàng lọc trầm 
cảm trong lúc mang thai EPDS. Bảng câu hỏi 
trầm cảm theo thang EPDS: gồm 10 câu hỏi, ghi 
nhận có trầm cảm không dựa trên điểm số 
EPDS. Biến số kết cục chính của nghiên cứu là 
trầm cảm Có và Không, nếu điểm EPDS ≥10 sẽ 
được xác định là có trầm cảm, nếu <10 điểm là 
không trầm cảm, và chúng tôi tư vấn cho thai 
phụ và gia đình đến khám tại bệnh Viện Tâm 
Thần TP. Cần Thơ và được bác sĩ chuyên khoa 
tâm thần tiến hành chẩn đoán xác định lại dựa 
trên tiêu chuẩn DSM-5. Số liệu được thu thập 
bằng cách sử dụng bảng thu thập số liệu, lấy 
những thông tin trực tiếp từ phỏng vấn. 
Phân tích gồm 3 bước: 
Bước 1: thống kê mô tả 
Bước 2: Phân tích đơn biến bằng hồi quy 
logistic đơn biến với biến số kết cục chính là 
trầm cảm, sau đó chọn biến số có p<0,25 đưa vào 
phân tích đa biến. 
Bước 3: Phân tích đa biến và kiểm soát các 
yếu tố nhiễm. Tính POR hiệu chỉnh. 
Xử lý số liệu 
Tất cả phép kiểm được thực hiện với độ tin 
cậy 95%. 
Số liệu thu thập được sẽ được mã hóa và xử 
lý bằng phần mềm IBM SPSS phiên bản 25. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 602/ĐHYD-HĐĐĐ, 
ngày 11/11/2019. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 177 
KẾT QUẢ 
Trong thời gian từ tháng 12/2019 đến tháng 
5/2020, 291 thai phụ tuổi thai từ 29 đến 40 tuần 
đến khám thai định kỳ tại BVPSTPCT thỏa tiêu 
chuẩn chọn mẫu tham gia vào nghiên cứu. 79 
thai phụ có triệu chứng trầm cảm chiếm tỷ lệ 
27,1% (95%KTC: 26,7-27,8). Kết quả qua phân 
tích đa biến về các yếu tố liên quan đến trầm 
cảm trong ba tháng cuối được trình bày trong 
Bảng 1. 
Kết quả phân tích đa biến cho thấy các yếu 
liên quan với trầm cảm trong ba tháng cuối 
thai kỳ gồm: tuổi mẹ, tình trạng mang thai 
ngoài ý muốn hay có chủ ý, tình trạng mâu 
thuẩn với chồng, việc có người tin tưởng chia 
sẻ khó khăn, sự quan tâm của gia đình. Những 
bà mẹ có độ tuổi từ 25-34 tuổi có nguy cơ bị 
trầm cảm cao gấp khoảng 4,14 lần (KTC 95%: 
1,35-12,69) so với những bà mẹ có độ tuổi từ 35 
tuổi trở lên. Những bà mẹ mang thai ngoài ý 
muốn có nguy cơ bị trầm cảm trong ba tháng 
cuối cao gấp 2,62 lần (KTC 95% (1,13-6,06) so 
với những bà mẹ mang thai chủ ý. 
Bảng 1: Phân tích đa biến các yếu tố và trầm cảm trong ba tháng cuối thai kỳ 
Đặc điểm 
Trầm cảm 
POR (95%CI) P (**) Có 
N=79(%) 
Không 
N=242(%) 
Tuổi mẹ 
<25 
25-34 
35 
13(16,5) 
58(73,4) 
8(10,1) 
38(17,9) 
29(60,8) 
45(21,2) 
2,14(0,57-8,05) 
4,14(1,35-12,69) 
1 
0,258 
0,013 
Thai ngoài ý muốn 
Có 
Không 
53(67,1) 
26(32,9) 
191(90,1) 
21(9,9) 
2,62(1,13-6,06) 
1 
0,024 
Mâu thuẫn với chồng 
Thường xuyên 
Thỉnh thoảng 
Hiếm khi 
4(5,1) 
20(25,3) 
55(69,6) 
9(4,2) 
20(9,4) 
183(86,3) 
1,08(0,22-5,36) 
3,97(1,45-10,34) 
1 
0,923 
0,007 
Người tin tưởng chia sẻ 
Có 
Không 
28(35,4) 
51(64,6) 
34(16) 
178(84) 
2,69(1,20-6,03) 
1 
0,016 
Gia đình quan tâm 
Luôn luôn 
Thường xuyên 
Thỉnh thoảng 
Hiếm khi 
36(45,6) 
30(38) 
10(12,7) 
3(3,8) 
168(79,2) 
31(14,6) 
9(4,2) 
4(1,9) 
1 
3,21(1,35-7,62) 
4,29(1,28-14,37) 
4,14(0,57-30,06) 
0,008 
0,018 
0,161 
BÀN LUẬN 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, với tổng 
số có 291 thai phụ tham gia nghiên cứu, tỉ lệ 
trầm cảm trong ba tháng cuối thai kỳ ở thai 
phụ là 27,1%. Kết quả nghiên cứu của chúng 
tôi tương đồng với kết quả của tác giả Castro C 
(2016), Yingchun Z (2015) và Jiarui Chen (2019) 
có tỉ lệ trầm cảm ba tháng cuối thai kỳ lần lượt 
là 27,93%, 28,5% và 29,6(11,12). Tuy nhiên, tỉ lệ 
trầm cảm của chúng tôi lại cao hơn một số 
nghiên cứu (Bảng 2). 
Chúng tôi sử dụng ngưỡng cắt thấp hơn 
ngưỡng cắt của tác giả Felix AO tại Úc, ngưỡng 
cắt 10 điểm trở lên chúng tôi xác định trầm cảm 
trong khi tác giả Felix AO chọn ngưỡng cắt từ 13 
điểm trở lên. Mặc khác, có thể do sự khác biệt về 
tuyển chọn đối tượng, nghiên cứu chúng tôi 
chọn các thai phụ ở tam cá nguyệt thứ 3, trong 
khi tác giả Felix AO chọn các đối tượng đã sinh 
con và thực hiện phỏng vấn. Nghiên cứu của tác 
giả Felix AO thực hiện tại Úc là một nước thu 
nhập trung bình cao, trong khi nghiên cứu của 
chúng tôi thực hiện tại Việt Nam là một nước có 
thu nhập trung bình thấp, các y văn cũng tìm 
thấy rằng tỉ lệ trầm cảm trước sinh ở các nước 
thu nhập trung bình thấp cao hơn so với các 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 178 
nước có thu nhập cao(14). 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, độ tuổi 
trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 
29,45 5,51 tuổi, trong đó thai phụ trẻ tuổi 
nhất là 19 tuổi và tuổi lớn nhất là 45. Trong đó, 
nhóm tuổi 25-34 chiếm tỉ lệ trầm cảm cao nhất 
(73,5%), kế đến là nhóm <25 tuổi chiếm 16,5% 
và thấp nhất là nhóm 35 tuổi chiếm 10,1%. 
Kết quả phân tích đơn biến cho thấy nhóm 
tuổi mẹ từ 25-34 có mối liên quan có ý nghĩa 
thống kê với tỉ lệ trầm cảm trong thai kỳ, so 
với nhóm tuổi ≥35 tuổi, thì nhóm 25-34 tăng 
nguy cơ trầm cảm lên 4,2 lần với POR=4,14 
(95%CI: 1,35-12,69), sau khi đưa vào mô hình 
đa biến thì nhóm tuổi 25-34 vẫn có mối liên 
quan có ý nghĩa thống kê với p <0,05. 
Bảng 2: Tỉ lệ trầm cảm trong ba tháng cuối thai kỳ trên thế giới 
Tác giả Địa điểm N Đối tượng Công cụ Tỉ lệ TC (%) 
Yingchun Z
(12)
 Trung Quốc (2015) 292 Thai phụ ba tháng cuối thai kỳ SDS 28,5% 
Jiarui C
(11)
 Trung Quốc (2019) 900 Thai phụ EPDS (ngưỡng cắt 9) 29,6% 
Castro C
(13)
 Brazil (2016) 111 Thai phụ ba tháng cuối thai kỳ EPDS (ngưỡng cắt 11) 27,93% 
Felix AO
(14)
 Úc (2018) 17564 Thai phụ đã sinh con EPDS (ngưỡng cắt 13) 6,2% 
Chúng tôi Việt Nam (2019) 291 Thai phụ ba tháng cuối thai kỳ EPDS 27,1% 
Kết quả từ các nghiên cứu trước đây không 
có sự thống nhất giữa tuổi mẹ và trầm cảm trước 
sinh. Nhiều nghiên cứu cho thấy tuổi mẹ trẻ 
(dưới 20 tuổi) và tuổi vị thành niên làm tăng 
nguy cơ trầm cảm trước sinh(15). Điều này có thể 
lý giải vì trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, tỉ 
lệ viên chức chiếm tỉ lệ cao, độ tuổi trung bình là 
29, nên họ còn nhiều mục tiêu trong công việc, 
muốn đạt được thành công trong sự nghiệp nên 
việc mang thai có thể khiến mục tiêu sự nghiệp 
của họ bị trì hoãn, trở nên dễ bị trầm cảm hơn. 
Chúng tôi tìm thấy mối liên quan giữa việc 
mang thai ngoài ý muốn và trầm cảm trong ba 
tháng cuối thai kỳ, cụ thể là nhóm thai phụ 
mang thai ngoài ý muốn tăng nguy cơ trầm cảm 
lên 2,6 lần, với POR=2,62 (95%CI: 1,13-6,06), sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu của 
tác giả Bereket D tìm thấy việc mang thai ngoài ý 
muốn làm tăng nguy cơ trầm cảm trước sinh lên 
gấp 7 lần với OR=7,12 (95%CI: 3,12-9,63), thai kỳ 
làm thay đổi nhiều về thể chất, cân bằng nội tiết 
và tâm lý nên những người mẹ cần có sự chuẩn 
bị trước cho việc mang thai(16). Bên cạnh đó, ở 
những nước thu nhập trung bình và thu nhập 
thấp, trong đó có Việt Nam, việc mang thai cần 
có sự chuẩn bị về mặt tài chính, người mẹ cần 
được bổ sung dinh dưỡng đa dạng hơn, tốn kém 
nhiều về mặt chi phí cho việc khám thai định kỳ, 
thuốc bổ sung hằng tháng và mua sắm các 
phương tiện chuẩn bị cho trẻ sơ sinh như quần 
áo, thuốc, và người trông trẻ khiến các thai phụ 
vốn đã có nhiều lo âu trở nên lo lắng nhiều hơn 
và dễ bị trầm cảm hơn nếu thai kỳ này là ngoài 
kế hoạch, và đặc điểm mẫu nghiên cứu của 
chúng tôi có đến 35,7% là thành phần nội trợ, họ 
không tự chủ về mặt tài chính và chỉ phụ thuộc 
nhiều vào đồng lương của chồng. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm thai 
phụ thỉnh thoảng mâu thuẫn với chồng tăng tỉ lệ 
trầm cảm lên gấp 3,97 lần so với nhóm hiếm khi 
cãi nhau với chồng, với POR=3,97 (95%CI: 1,45-
10,34), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với 
p <0,05. Kết quả từ nghiên cứu của chúng tôi có 
sự tương đồng với các nghiên cứu trước đây, 
nghiên cứu của tác giả Martha AS (2017), tìm 
thấy những thai phụ có xung đột trong mối 
quan hệ hôn nhân với chồng sẽ làm tăng tỉ lệ 
trầm cảm lên gấp 22 lần so với nhóm không có 
xung đột trong hôn nhân, với OR=22,68 
(95%CI:3,61-142,33)(17). 
Đây là thiết kế nghiên cứu cắt ngang, nên 
không thể xác định được mối liên hệ nhân quả. 
Nghiên cứu được thực hiện tại bệnh viện 
phụ sản TP. Cần thơ, vốn là một cơ sở y tế lớn tại 
TP. Cần Thơ, nên có thể tỉ lệ bệnh hiện mắc 
không thể đại diện cho tỉ lệ bệnh hiện mắc thực 
tế trong cộng đồng. Công cụ EPDS được sử 
dụng trong nghiên cứu chỉ là công cụ dùng để 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 179 
sàng lọc trầm cảm trong thai kỳ, không phải để 
chẩn đoán xác định trầm cảm nên tỉ lệ trầm cảm 
qu nghiên cứu này có thể cao hơn so với thực tế. 
Đây là nghiên cứu đầu tiên về sàng lọc trầm 
cảm trước sinh trong 3 tháng cuối thai kỳ tại 
bệnh viện Phụ Sản TP. Cần Thơ đã cho thấy tỷ lệ 
trầm cảm trong 3 tháng cuối thai kỳ khá cao với 
tỷ lệ là 27,1%. Vì vậy, có thể thấy việc sàng lọc 
trầm cảm ở thai phụ trước thời điểm sinh con là 
cần thiết, vì nếu được phát hiện sớm và điều trị 
kịp thời, sẽ giảm được các biến chứng không 
mong muốn lên mẹ và thai, đồng thời giảm 
được tỉ lệ trầm cảm sau sinh. 
KẾT LUẬN 
Qua thời gian nghiên cứu từ tháng 12/2019 
đến tháng 5/2020 trên 291 thai phụ trong ba 
tháng cuối thai kỳ đến khám thai định kỳ tại 
bệnh viện Phụ sản TP. Cần Thơ, chúng tôi đưa 
ra một số kết luận như sau: 
Tỉ lệ trầm cảm ở thai phụ trong ba tháng cuối 
thai kỳ tại bệnh viện Phụ sản TP. Cần Thơ là 
27,1%. 
Các yếu tố liên quan gồm: Nhóm tuổi mẹ từ 
25-34 so với nhóm ≥35 (POR=4,14; 95%CI:1,35-
12,69), mang thai ngoài ý muốn (POR=2,62; 
95%CI:1,13-6,06), mâu thuẫn với chồng thỉnh 
thoảng so với hiếm khi (POR=3,97; 95%CI:1,45-
10,34), thai phụ có người tin tưởng chia sẻ 
(POR=2,69; 95%CI:1,20-6,03), thai phụ được gia 
đình quan tâm thường xuyên và thỉnh thoảng so 
với luôn luôn (POR=3,21;95%CI:1,35-7,62) và 
(POR=4,29; 95%CI:1,28-14,37). 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. World Health Organization (2004). The global burden of 
disease: 2004 update. URL: 
https://www.who.int/healthinfo/global_burden_disease/2004_re
port_update/en/. 
2. American College of Obstetricians and Gynecologists (ACOG) 
(2008). Committee on Practice Bulletin No 92: Use of Psychiatric 
medications during pregnancy and lactation. Obstetrics & 
Gynecology, 92:1001-1020. 
3. Stuart K, Scott S (2014). Perinatal Depression : An Update and 
Overview. Curr Psychiatry Rep, 16(9):468. 
4. Alessandra B, Susan C, Pawlby S, Carmine P (2015). Identifying 
the women at risk of antenatal anxiety and depression: A 
systematic review. Journal of Affective Disorders, 191:62-77. 
5. Hue M, Van N, Nha P, et al (2019). Factors associated with 
antenatal depression among pregnant women in Vietnam: A 
multisite cross-sectional survey. Health Psychology Open, pp.1-6. 
6. Trần Thơ Nhị (2018). Thực trạng trầm cảm và hành vi tìm kiếm 
hỗ trợ ở phụ nữ mang thai, sau sanh tại huyện Đông Anh, Hà 
Nội. Luận án Tiến sĩ Y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội. 
7. Đặng Hoàng Hải (2002). Nghiên cứu về tình trạng rối loạn trầm 
cảm tại thành phố Hồ Chí Minh 2002. Kỷ yếu các công trình 
nghiên cứu khoa học năm 2002, pp.29-30. 
8. Marlise L, Maria T, Isabel B, et al (2017). Depressive symptoms 
in pregnancy and associated factors: longitudinal study. Acta 
Paul Enferm, 30:39-46. 
9. Thach T, Tuan T, Buoi L, et al (2011). Screening for perinatal 
common mental disorders in women in the north of Vietnam: A 
comparison of three psychometric instrument. Journal of Affective 
Disorders, 133:281-293. 
10. Department of Health, Government of Western Australia (2006). 
Edinburgh Postnatal Depression Scale (EPDS): Translated 
version- validated. Western Australia: State Perinatal Mental 
Health Reference Group. 
11. Jiarui C, Wendy C, Virginia P, et al (2019). The risk factors of 
antenatal depression: A cross-sectional survey”. Journal of 
Clinical Nursing, pp.1-11. 
12. Yingchun Z, Ying C, Jie L (2015). Prevalence and predictors of 
antenatal depressive symptoms among Chinese women in their 
third trimester: a cross-sectional survey. BMC Psychiatry, 15:66. 
13. Castro C, Nogueira C, Martins B, et al (2016). Antenatal 
depression: Prevalence and risk factor patterns across the 
gestational period. Journal of Affective Disorders, 192:70-75. 
14. Felix O, Eastwood J, John E, et al (2018). Determinants of 
antenatal depression and postnatal depression in Australia. 
BMC Psychiatry, 18:49. 
15. Ying H, Ying W, Shu W, et al (2019). Association between social 
and family support and antenatal depression: a hospital-based 
study in Chengdu, China. BMC Pregnancy and Childbirth, 19:420. 
16. Bereket D, Ayano G, Bedaso A (2019). Depression among 
pregnant women and associated factors in Hawassa city, 
Ethiopia: an institution-based cross-sectional study. Reproductive 
Health, 16:25. 
17. Martha S, Segni M, Tadese A, Dessalegn B (2017). Prevalence 
and predictors of antenatal depressive symptoms among 
women attending Adama Hospital Antenatal Clinic, Adama, 
Ethiopia. International Journal of Nursing and Midwifery, 9(5):58-
64. 
Ngày nhận bài báo: 16/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 01/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021

File đính kèm:

  • pdfti_le_tram_cam_trong_ba_thang_cuoi_thai_ky_va_cac_yeu_to_lie.pdf