Tỉ lệ thiếu sắt ở tam cá nguyệt 1 và các yếu tố liên quan của thai phụ khám tại Bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh

Đặt vấn đề: Thiếu sắt là vấn đề dinh dưỡng phổ biến và là nguyên nhân chính gây thiếu máu. Phụ nữ

mang thai là đối tượng nguy cơ cao thiếu sắt do tăng nhu cầu của cơ thể, đưa đến hậu quả là thiếu máu ở người

mẹ, tăng kết cục xấu trong thai kì và giảm dự trữ sắt ở trẻ sau sinh.

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ thiếu sắt và các yếu tố liên quan ở tam cá nguyệt 1 của thai phụ khám tại Bệnh viện

Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 184 thai phụ ở tam cá

nguyệt 1, thiếu sắt được chẩn đoán khi nồng độ ferritin <>

pdf 6 trang phuongnguyen 200
Bạn đang xem tài liệu "Tỉ lệ thiếu sắt ở tam cá nguyệt 1 và các yếu tố liên quan của thai phụ khám tại Bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỉ lệ thiếu sắt ở tam cá nguyệt 1 và các yếu tố liên quan của thai phụ khám tại Bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh

Tỉ lệ thiếu sắt ở tam cá nguyệt 1 và các yếu tố liên quan của thai phụ khám tại Bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 137 
TỈ LỆ THIẾU SẮT Ở TAM CÁ NGUYỆT 1 
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA THAI PHỤ KHÁM 
TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 
Bùi Thị Phương Loan1, Vương Thị Ngọc Lan2, Trần Nhật Thăng2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Thiếu sắt là vấn đề dinh dưỡng phổ biến và là nguyên nhân chính gây thiếu máu. Phụ nữ 
mang thai là đối tượng nguy cơ cao thiếu sắt do tăng nhu cầu của cơ thể, đưa đến hậu quả là thiếu máu ở người 
mẹ, tăng kết cục xấu trong thai kì và giảm dự trữ sắt ở trẻ sau sinh. 
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ thiếu sắt và các yếu tố liên quan ở tam cá nguyệt 1 của thai phụ khám tại Bệnh viện 
Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 184 thai phụ ở tam cá 
nguyệt 1, thiếu sắt được chẩn đoán khi nồng độ ferritin < 30ng/ml. 
Kết quả nghiên cứu: Tỉ lệ thiếu sắt ở tam cá nguyệt 1 là 15,8%, tỉ lệ dự trữ sắt cạn kiệt là 6,0%. Yếu tố 
nguy cơ của thiếu sắt là đã từng có thai (PR=2,17; KTC 95% 1,14-4,13), không ăn thịt đỏ (PR=3,1; KTC 95% 
1,04-9,28) và chu kì kinh kéo dài (PR=2,54; KTC 95% 1,22-5,26). 
Kết luận: Cần quan tâm tầm soát thiếu sắt trong thai kì bên cạnh tầm soát thiếu máu nhằm giảm kết cục 
thai kỳ xấu cho mẹ và con. 
Từ khoá: thiếu sắt, thiếu máu, ferritin huyết thanh, tam cá nguyệt 1 
ABSTRACT 
THE PREVALENCE OF IRON DEFICIENCY IN THE FIRST TRIMESTER AND ASSOCIATED 
FACTORS IN PREGNANT WOMEN EXAMINING AT HO CHI MINH CITY UNIVERSITY MEDICAL 
CENTER 
Bui Thi Phuong Loan, Vuong Thi Ngoc Lan, Tran Nhat Thang 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 137 - 142 
Background: Iron deficiency is the most common nutrient deficiency and the main cause of anemia. 
Pregnant women are at high risk of iron deficiency due to the increased use of iron during pregnancy, resulting in 
maternal anemia during pregnancy, adverse obstetric outcomes and reduced iron storage in the newborn. 
Objectives: To determine the prevalence of iron deficiency and its associated factors in the first trimester of 
pregnant women examining at Ho Chi Minh City University Medical Center. 
Methods: A cross – sectional study was conducted on 184 pregnant women. Serum ferritin was 
performed in the first trimester. Iron deficiency was defined as serum ferritin of <30 ng/ml. All patients were 
followed to term. 
Results: The prevalence of iron deficiency was 15.8%, and iron depletion was 6.0% in the first trimester. 
Multiparous women (PR=2.17; 95% CI 1.14 – 4.13), dietary without red meat (PR=3.1; 95% CI 1.04 – 9.28) and 
prolonged menstrual bleeding (PR=2.54; 95% CI 1.22 – 5.26) were associated with increased iron deficiency. 
Conclusions: Screening for iron deficiency as well as anemia during pregnancy should be considered for 
improving adverse maternal and neonatal outcomes. 
1Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2Bộ môn Phụ Sản, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Bùi Thị Phương Loan ĐT: 0913798188 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 138 
Keyword: iron deficinency, anemia, serum ferritin, first trimester 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Thiếu máu là một trong những vấn đề ảnh 
hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe nhân loại. 
Phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ là đối tượng 
nguy cơ cao thiếu máu. Năm 2016, Tổ chức Y 
Tế Thế giới ước tính khoảng 40% phụ nữ mang 
thai bị thiếu máu và hơn 50% trường hợp là do 
thiếu sắt(1). 
Theo công bố mới của Viện Dinh Dưỡng 
Việt Nam tỉ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai 
trên toàn quốc năm 2014–2015 là 32,8%, trong đó 
tỉ lệ thiếu máu do thiếu sắt chiếm tỉ lệ 54,3%(2). 
Thiếu sắt trong thai kì sẽ dẫn đến tình trạng 
thiếu máu, tăng nguy cơ tai biến và tử vong mẹ 
trong thời kì mang thai và hậu sản, tăng nguy cơ 
sinh non, thai nhẹ cân, Khi dự trữ sắt trong cơ 
thể người mẹ giảm sẽ dẫn đến tình trạng thiếu 
sắt ở trẻ sau sinh và thậm chí tình trạng này còn 
kéo dài trong những năm đầu đời của trẻ, ngay 
cả những trường hợp không thiếu máu(3,4). 
Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo bổ sung sắt 
từ khi có thai và chương trình quốc gia về bổ 
sung sắt vào thực phẩm và sử dụng viên sắt 
phòng ngừa, tuy nhiên tỉ lệ thiếu máu thiếu sắt 
vẫn còn là vấn đề đáng quan tâm. Phát hiện và 
điều trị cho những thai phụ thiếú sắt sẽ làm 
giảm tỉ lệ thiếu máu thiếu sắt trong thai kì. 
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để trả lời 
câu hỏi nghiên cứu: “Tỉ lệ thiếu sắt ở tam cá 
nguyệt 1 của thai phụ khám tại bệnh viện Đại 
học Y Dược TP. Hồ Chí Minh là bao nhiêu và các 
yếu tố nào liên quan đến tình trạng này?” Chúng 
tôi tiến hành nghiên cứu này để xác định tỉ lệ 
thiếu sắt và các yếu tố liên quan ở tam cá nguyệt 
1 của thai phụ khám tại bệnh viện Đại học Y 
Dược TP. Hồ Chí Minh. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Thai phụ khám thai ở tam cá nguyệt 1 tại 
bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí 
Minh, từ tháng 12/2019 đến tháng 5/2019. 
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
Thai phụ ở tuổi thai 11 đến 14 tuần, không có 
bệnh lý nội khoa nặng phải chấm dứt thai kỳ, 
đồng ý tham gia nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn loại 
Có bệnh lý gan, thận mạn, nhiễm trùng. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu cắt ngang. 
Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 
Cỡ mẫu được tính theo công thức tính tỉ lệ 
trong một quần thể, cỡ mẫu cần thu thập là 184 
thai phụ. Chọn mẫu toàn bộ trong thời gian 
nghiên cứu. 
Phương pháp tiến hành 
Sàng lọc thai phụ, giải thích về nghiên cứu 
và cho bệnh nhân ký cam kết đồng thuận tham 
gia nghiên cứu. Tất cả thai phụ được thực hiện 
đo lường nồng độ hemoglobin và ferritin cùng 
với các xét nghiệm thường quy trong thai kì theo 
quy định của bệnh viện Đại học Y Dược Thành 
phố Hồ Chí Minh. 
Chúng tôi thu thập những thông tin về 
tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi ở, dân 
tộc, mức thu nhập, cân nặng, chiều cao trước 
khi mang thai, số lần mang thai, số lần sinh 
con đủ tháng, số lần sinh con thiếu tháng, tiền 
sử bệnh lý nội khoa, bệnh lý phụ khoa, đặc 
điểm chu kì kinh nguyệt, các biện pháp ngừa 
thai, thói quen ăn uống, sử dụng chế phẩm có 
chứa sắt trước mang thai. 
Tiêu chuẩn chẩn đoán thiếu sắt khi nồng 
độ ferritin huyết thanh <30 ng/ml, ngưỡng này 
được sử dụng rộng rãi trong thực hành lâm 
sàng và được nhiều tổ chức khuyến cáo và sử 
dụng trong đó có Hiệp hội tiêu chuẩn huyết 
học của Anh(5). 
Phân tích và xử lý số liệu 
Số liệu được phân tích bằng phần mềm 
SPSS 20, Ngưỡng khác biệt có ý nghĩa thống kê 
khi p <0,05, lượng giá mối liên quan bằng PR 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 139 
với khoảng tin cậy 95%. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 654/ĐHYD-HĐĐĐ, 
ngày 15/11/2019. 
KẾT QUẢ 
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu được 
trình bày trong Bảng 1. 
Bảng 1: Đặc điểm dân số, xã hội và đặc điểm lâm 
sàng của đối tượng nghiên cứu (n = 184) 
Đặc điểm Tần số (tỉ lệ%) 
Nhóm tuổi 
< 30 tuổi 108 (58,7) 
Từ 30 - < 35 tuổi 58 (31,5) 
> 35 tuổi 18 (9,8) 
Trình độ học 
vấn 
< cấp 3 19 ( 10,3) 
Cấp 3 26 (14,1) 
> trung cấp 139 (75,6) 
Nghề nghiệp 
Công nhân viên 115 (62,5) 
Kinh doanh 37 (20,1) 
Nội trợ 21 (11,4) 
Công nhân 11 (6,0) 
Nơi ở 
Thành phố Hồ Chí Minh 124 (67,4) 
Tỉnh khác 60 (32,6) 
Mức thu nhập 
Đủ ăn 173 (94,0) 
Dư ăn 11 (6,0) 
Tiền sử sản 
khoa 
Chưa từng mang thai 109 (59,2) 
Từng sinh con đủ tháng 62 (33,7) 
Từng sinh con thiếu tháng 7 (3,8) 
Từng sẩy thai 6 (3,3) 
Tiền sử nội 
khoa 
Có 42 (22,8) 
Không 142 (77,2) 
Bệnh lý phụ 
khoa 
Có 5 (2,7) 
Không 179 (97,3) 
Đặc điểm chu 
kì kinh 
Chu kì đều 111 (60,3) 
Thời gian hành kinh bình thường 174 (94,6) 
Lượng kinh bình thường 170 (92,4) 
Biện pháp 
ngừa thai 
trước đó 
Dụng cụ tử cung chứa đồng 9 (4,9) 
Thuốc ngừa thai hàng ngày 31 (16,8) 
Bảng 2 trình bày kiến thức và hành vi về 
thiếu sắt của đối tượng nghiên cứu. 
Bảng 2: Đặc điểm kiến thức và hành vi về thiếu sắt 
(n=184) 
Đặc điểm Tần số (tỉ lệ %) 
Biết tác hại của thiếu sắt 
Có 86 ( 46,7) 
Không 98 ( 55,3) 
Biết cách phòng ngừa thiếu 
sắt 
Có 20 (10,9) 
Không 164 (89,1) 
Thói quen ăn thịt đỏ 
Ăn thịt đỏ 181 (98,4) 
Không 3 (1,6) 
Sử dụng chế phẩm có chứa 
sắt trước khi mang thai 
Có 75 (40,8) 
Không 109 (59,2) 
Tỉ lệ thai phụ thiếu sắt 
Trong tổng số 184 thai phụ, có 29 thai phụ 
được chẩn đoán thiếu sắt, chiếm 15,8%, trong đó 
có 6% thai phụ có dự trữ sắt cạn kiệt. Phân bố 
nồng độ ferritin được mô tả trong Bảng 3. Trong 
nhóm thiếu sắt chỉ có 17,2% thai phụ bị thiếu 
máu. Tỉ lệ thiếu máu là 6,5%, về đặc điểm hồng 
cầu nhỏ nhược sắc (MCV <80fl, MCH <28 pg), 
chúng tôi ghi nhận có 14,1% thai phụ. 
Bảng 3: Tình trạng dự trữ sắt của thai phụ (n=184) 
Đặc điểm Tần số (tỉ lệ %) 
Tình trạng thiếu sắt 
(ferritin <30 ng/ml) 
Có 29 (15,8) 
Không 155 (84,2) 
Tình trạng dự trữ sắt 
< 15ng/ml 11 (6) 
15 - < 30 ng/ml 18 (9,8) 
30 - < 100 ng/ml 81 (44,0) 
100 -< 200 ng/ml 59 (32,1) 
≥ 200 ng/ml 15 (8,1) 
Các yếu tố liên quan với thiếu sắt 
Chúng tôi tìm thấy các yếu tố như: nghề 
nghiệp, đã từng mang thai, từng sinh con đủ 
tháng, thời gian hành kinh kéo dài, các biện 
pháp ngừa thai, thói quen ăn thịt đỏ, sử dụng 
chế phẩm có chứa sắt trước mang thai có liên 
quan với thiếu sắt cụ thể được nêu trong Bảng 4. 
Bảng 4: Các yếu tố liên quan với thiếu sắt (n=184) 
Yếu tố nguy cơ Có thiếu sắt Không thiếu sắt PR - p 
Nghề nghiệp 
Nghề khác 16 (23,2) 53 (76,8) 2,05 
0,032
a
 Công nhân viên 13 (11,3) 102 ( 88,7) 
Đã từng có thai 
Có 19 (25,3) 56 (74,7) 2,76 
0,008
a
 Không 10 (9,2) 99 (90,8) 
Thời gian hành kinh Kéo dài 6 (60,0) 4 (40,0) 4,54 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 140 
Yếu tố nguy cơ Có thiếu sắt Không thiếu sắt PR - p 
Bình thường 23 (13,2) 151 (86,8) 0,001
b
Các biện pháp ngừa thai 
DCTC chứa đồng 4 (44,4) 5 (55,6) 
0,22 
0,34 0,039
a
Ocs 3 (9,7) 28 (90,3) 
Biện pháp khác 22 (15,3) 122 (84,7) 
Thói quen ăn thịt đỏ 
Có 26 (25,7) 75 (74,3) 7,12 
0,001
a
 Không 3 (3,6) 80 (96,4) 
Sử dụng chế phẩm có chứa sắt 
Không 28 (25,7) 81 (74,3) 19,27 
0,001
b
 Có 1 (1,3) 74 (98,7) 
aKiểm định chi bình phương bKiểm định chính xác Fisher 
Sau khi phân tích hồi quy đa biến Poisson 
các yếu tố liên quan, sử dụng phương pháp 
phân tích stepwise chúng tôi ghi nhận có 3 yếu 
tố liên quan thực sự ảnh hưởng đến tình trạng 
thiếu sắt là đã từng mang thai với PR=2,17 (KTC 
95% 1,14 - 4,13) và p=0,019, không ăn thịt đỏ với 
PR=3,1 (KTC 95% 1,04 - 9,28) và p=0,043 và có 
thời gian hành kinh kéo dài với PR=2,54 (KTC 
95% 1,22-5,26) và p=0,013. 
BÀN LUẬN 
Bổ sung sắt được Tổ chức Y tế Thế giới 
khuyến cáo cho thai phụ ở các nước đang phát 
triển. Ở Việt Nam, chương trình phòng chống 
thiếu máu quốc gia cũng đã thực hiện bổ sung 
sắt thường quy và ngày càng nhiều thai phụ 
nhận thức về tình trạng thiếu máu và bổ sung 
sắt hoặc các chế phẩm chứa sắt trước và trong 
thai kì. Điều này có thể dẫn đến kết quả của 
những nghiên cứu gần đây cho thấy tỉ tệ thiếu 
máu thiếu sắt có xu hướng giảm như tác giả 
Phạm Thanh Hải năm 2016 tại bệnh viện Từ Dũ 
khảo sát trên 900 thai phụ từ 6–20 tuần là 7,7%(6), 
so với tác giả Võ Thị Thu Nguyệt năm 2007 thực 
hiện trên 302 thai phụ tại bệnh viện Đại học Y 
Dược TP. HCM ở tam cá nguyệt 2 là 17,21%(7). 
Tỉ lệ thiếu sắt của chúng tôi thấp hơn so với 
nghiên cứu của tác giả Phan Bích Nga năm 2012 
khảo sát trên 793 thai phụ, tỉ lệ thiếu sắt ở thai 
phụ 26–28 tuần tại bệnh viện Phụ Sản Trung 
Ương là 37,5%(8), tác giả Loy SL năm 2019 ở 
Singapore là 74,8% ở thời điểm 26–28 tuần(9). Khi 
so sánh với tác giả de Costa AG năm 2016 ở Bồ 
Đào Nha tỉ lệ thiếu sắt ở đầu thai kì với thai <20 
tuần tuổi là 38%(10), kết quả của chúng tôi cũng 
thấp hơn. Điều này khác biệt so với các nghiên 
cứu khác có thể do đối tượng nghiên cứu của 
chúng tôi được lấy máu ở thời điểm thai 11-14 
tuần, ở thời điểm này, nhiều nghiên cứu cho 
thấy dự trữ sắt cao nhất do thai phụ vừa trải qua 
tình trạng vô kinh, sự thay đổi nồng độ 
hemoglobin sinh lý ở giai đoạn này chưa đáng 
kể và và có đến 40,8% đối tượng nghiên cứu bổ 
sung các chế phẩm có chứa sắt trước khi mang 
thai. Và tỉ lệ thiếu sắt ở tam cá nguyệt 2 và tam 
cá nguyệt 3 thường cao hơn do nhu cầu sắt lúc 
này cao hơn tam cá nguyệt 1. Trong 29 thai phụ 
thiếu sắt, chỉ có 5 thai phụ bị thiếu máu, chiếm 
17,2% và có đến hơn 80% (chiếm 82,8%) các thai 
phụ không thiếu máu, do đó, nếu chỉ tầm soát 
đơn thuần bằng nồng độ hemoglobin thì có thể 
bỏ sót nhóm thai phụ thiếu sắt mà không thiếu 
máu. Các thai phụ thiếu sắt mà không thiếu máu 
cũng dẫn đến những kết cục xấu cho mẹ và thai. 
Nếu chọn ở hướng tiếp cận hồng cầu nhỏ 
nhược sắc (MCV <80 fl, MCH <28 pg), chúng tôi 
ghi nhận tỉ lệ hồng cầu nhỏ nhược sắc chiếm 
14,1%, tỉ lệ này cũng tương đồng với tác giả 
Đặng Thị Hồng Thiện là 13,9%(11). Việc sàng lọc 
người mang gen Thalassemia hiện nay chủ yếu 
theo hướng tiếp cận chỉ số MCV, MCH. Theo kết 
quả nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ thiếu sắt 
trong nhóm hồng cầu nhỏ nhược sắc là 42,3%. 
Điều này có ý nghĩa rằng nếu tiếp cận ở hướng 
này, chúng ta có thể không loại trừ hoàn toàn 
tình trạng thiếu sắt và bệnh Thalassemia, vì có 
đến hơn 40% nhóm thai phụ hồng cầu nhỏ 
nhược sắc có tình trạng thiếu sắt. Chúng tôi cũng 
nhận thấy, nếu thai phụ có hồng cầu nhỏ nhược 
sắc thì khả năng thiếu sắt là 12,15 với PR 12,15 
(KTC 95% 3,94–37,48). Do đó chúng tôi suy nghĩ 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 141 
rằng có thể nên tiếp cận ở cả hai hướng tổng 
phân tích tế bào máu và nồng độ ferritin huyết 
thanh trong chiến dịch tầm soát thiếu máu thiếu 
sắt và sàng lọc bệnh Thalassemia. 
Chế độ ăn hàng ngày, chu kì kinh nguyệt, 
dụng cụ tử cung không chứa hormone, cân 
nặng, tình trạng hút thuốc, cường độ hiến máu, 
tiền sử sản khoa được xem là các yếu tố liên 
quan với thiếu sắt(4). 
Chúng tôi nhận thấy từng mang thai thì có 
tỉ lệ thiếu sắt cao so với chưa mang thai với 
PR=2,17 (KTC 95% 1,14-4,13) và p=0,019. Điều 
này cũng tương đồng với tác giả Phạm Thanh 
Hải 2016, tỉ lệ thiếu máu thiếu sắt của con rạ 
nhiều hơn con so(6). Nguy cơ thiếu máu ở thai 
phụ sẽ tăng theo số lần mang thai, điều này 
được giải thích là do càng sinh đẻ nhiều sẽ 
càng tăng nguy cơ chảy máu, mỗi lần mang 
thai đều mất máu trước, trong và sau sinh. 
Sinh con càng nhiều thì nguy cơ mất máu càng 
tăng, một số báo cáo cho thấy rằng các yếu tố 
trung gian như tăng dẫn lưu tĩnh mạch đến 
phần dưới tử cung, hyalin hoá các mạch máu 
và giảm sự đàn hồi của thành tử cung được 
xem như cơ chế gây tăng lượng máu mất ở 
thai phụ mang thai nhiều lần. 
Chúng tôi tìm thấy có khác biệt ở nhóm đối 
tượng có thời gian hành kinh kéo dài với 
PR=2,54 (KTC 95% 1,22-5,26) và sự khác biệt 
này có ý nghĩa thống kê với p=0,013. Điều này 
cũng được giải thích do hành kinh kéo dài sẽ 
làm mất lượng máu trong cơ thể lâu dần nên 
dễ gây nên tình trạng thiếu sắt bởi vì phần lớn 
chuyển hóa sắt được thực hiện trong hệ thống 
khép kín giữa các khu vực với nhau. Ở người 
trưởng thành, 95% nhu cầu sắt để tạo hồng cầu 
được tái sử dụng từ quá trình phân hủy hồng 
cầu già và chỉ có 5% lượng sắt cần phải bổ 
sung qua thức ăn, vì vậy cơ thể chỉ cần thêm 
1mg sắt trong một ngày cũng đủ để tạo hồng 
cầu bình thường. Tuy nhiên, khi cơ thể mất đi 
số lượng máu nhiều hơn sẽ phải bổ sung 
lượng sắt qua chế độ ăn cao hơn mới có thể bù 
lại số lượng sắt mất qua kinh nguyệt. 
Chế độ ăn đóng vai trò quan trọng trong 
những trường hợp thiếu máu, những người ăn 
chay có dự trữ sắt thấp hơn, nhưng không khác 
biệt về nồng độ hemoglobin so với người có ăn 
thịt(12), điều này cũng phù hợp với nghiên cứu 
của chúng tôi không ăn thịt đỏ là yếu tố nguy cơ 
của thiếu sắt với PR=2,17 (KTC 95% 1,14-4,13) và 
p=0,019. 
Điểm mạnh của nghiên cứu là có thực hiện 
bổ sung sắt và có sự theo dõi thai phụ đến cuối 
thai kỳ để đánh giá tỷ lệ thiếu máu là hậu quả 
quan trọng của thiếu sắt. Hạn chế của đề tài là 
không thực hiện xét nghiệm lại ferritin huyết 
thanh ở cuối thai kỳ để đánh giá hiệu quả trực 
tiếp của bổ sung sắt. 
Hạn chế của đề tài 
Thời gian nghiên cứu ngắn và số lượng 
mẫu chưa đủ lớn, cách chọn mẫu thuận tiện 
nên có thể mẫu không đại diện cho toàn bộ 
thai phụ đến khám tại bệnh viện Đại học Y 
Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Mặt khác, đối 
tượng chọn lựa nghiên cứu tại bệnh viện Đại 
học Y dược thành phố Hồ Chí Minh đa phần 
có điều kiện kinh tế khá hơn trong cộng đồng 
chung, do đó kết quả có thể không đại diện 
được cho toàn thể cộng đồng. 
Tính ứng dụng của đề tài là cần tăng cường 
tư vấn cho những đối tượng nguy cơ thiếu sắt 
như đã từng mang thai, không ăn thịt đỏ và 
hành kinh kéo dài trước khi mang thai nhằm 
giảm tỉ lệ thiếu sắt trong thai kì, từ đó sẽ làm 
giảm nguy cơ thiếu máu thiếu sắt cho thai phụ. 
KẾT LUẬN 
Qua khảo sát trên 184 thai phụ ở tam cá 
nguyệt 1 chúng tôi ghi nhận có 15,8% thai phụ 
thiếu sắt và có 6,0% thai phụ có dự trữ sắt cạn 
kiệt. Trong số các thai phụ thiếu sắt chỉ có 17,2% 
thai phụ bị thiếu máu. Các yếu tố liên quan đến 
thiếu sắt trong tam cá nguyệt 1 là từng có thai, 
không ăn thịt đỏ và thời gian hành kinh kéo dài. 
Đề xuất thực hiện xét nghiệm ferritin trong tam 
cá nguyệt 1 đồng thời với xét nghiệm 
hemoglobin nhằm phát hiện thai phụ thiếu sắt, 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 142 
thiếu máu thiếu sắt để bổ sung sắt kịp thời. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. World Health Organization (2016). Global health 
observational data repository: prevalence of anaemia in 
women, estimates by country. 
2. Viện dinh dưỡng (2015). Tình trạng thiếu máu và thiếu sắt ở 
trẻ em và phụ nữ năm 2014 - 2015. Báo cáo điều tra về Vi 
chất dinh dưỡng năm 2014 – 2015. 
3. Haider BA, Olofin I, Wang M, Spiegelman D, Ezzati M, 
Fawzi WW, Nutrition Impact Model Study Group (aneamia) 
(2013). Anaemia, prenatal iron use, and risk of adverse 
pregnancy outcomes: systematic review and meta-analysis. 
BMJ, 346:f3443. 
4. Rukuni R, Knight M, Murphy MF, Roberts D, Stanworth SJ 
(2015). Screening for iron deficiency and iron deficiency 
anaemia in pregnancy: a structured review and gap analysis 
against UK national screening criteria. BMC Pregnancy and 
Childbirth, 15:269. 
5. Daru J, Allotey J, Pena-Rosas JP, Khan KS (2017). Serum 
Ferritin Thresholds for the Diagnosis of Iron Deficiency in 
Pregnancy: A Systematic Review. Transfusion Medicine, 
27(3):167–174. 
6. Phạm Thanh Hải (2016). Yếu tố liên quan đến tình trạng 
thiếu máu do thiếu sắt ở phụ nữ mang thai đến khám tại 
Bệnh viện Từ Dũ. Phụ Sản, 14(2):45-49. 
7. Võ Thị Thu Nguyệt (2007). Khảo sát tình trạng thiếu máu 
thiếu sắt trong 3 tháng giữa thai kỳ và các yếu tố liên quan 
tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Y học 
Thành phố Hồ Chí Minh, 12(1):162-170. 
8. Phan Bích Nga (2012). Thiếu vi chất dinh dưỡng ở mẹ và con 
và hiệu quả bổ sung đa vi chất trên trẻ suy dinh dưỡng bào 
thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương. Luận án Tiến sĩ Dinh 
dưỡng, Viện Dinh Dưỡng. 
9. Loy SL, Lim LM, Chan SY, Tan PT, Chee YL, Quah PL, Chan 
JKY (2019). Iron Status and Risk Factors of Iron Deficiency 
among Pregnant Women in Singapore: A Cross-Sectional 
Study. BMC Public Health, 19(1):397. 
10. Gomes da Costa A, Vargas S, Clode NM, Graça L (2016). 
Prevalence and Risk Factors for Iron Deficiency Anemia and 
Iron Depletion During Pregnancy: A Prospective Study. Acta 
Medica Portuguesa, 29(9):514-518. 
11. Đặng Thị Hồng Thiện (2019). Nghiên cứu sàng lọc bệnh 
Thalassemia ở phụ nữ có thai đến khám và điều trị tại bệnh 
viện Phụ sản Trung Ương. Luận án Tiến sĩ Y học, Trường Đại 
học Y Hà Nội. 
12. SACN (2010). Iron and Health. In: London. The Scientific 
Advisory Committee on Nutrition. 
Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfti_le_thieu_sat_o_tam_ca_nguyet_1_va_cac_yeu_to_lien_quan_cu.pdf