Tỉ lệ suy dinh dưỡng và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân lao phổi tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

Đặt vấn đề: Suy dinh dưỡng và bệnh lao tạo nên gánh nặng kép ở các nước đang phát triển trong đó có Việt

Nam. Suy dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả điều trị và tiên lượng, do đó cần phát hiện sớm bệnh nhân

lao bị suy dinh dưỡng để có những can thiệp kịp thời trên lâm sàng.

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm xác định tỉ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân lao phổi tại Bệnh viện Phạm Ngọc

Thạch và mối liên quan giữa suy dinh dưỡng với một số yếu tố liên quan.

Đối tượng - Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành từ tháng 3 đến hết tháng 4 năm 2020.

Đã có 96 bệnh nhân lao phổi tham gia vào nghiên cứu bằng phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan (SGA) và

chỉ số khối cơ thể (BMI)SGA và BMI.

pdf 5 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Tỉ lệ suy dinh dưỡng và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân lao phổi tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỉ lệ suy dinh dưỡng và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân lao phổi tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

Tỉ lệ suy dinh dưỡng và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân lao phổi tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 148 
TỈ LỆ SUY DINH DƯỠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN 
TRÊN BỆNH NHÂN LAO PHỔI TẠI BỆNH VIỆN PHẠM NGỌC THẠCH 
Lê Thị Mỹ Linh1, Đoàn Duy Tân1, Phạm Thị Lan Anh1 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Suy dinh dưỡng và bệnh lao tạo nên gánh nặng kép ở các nước đang phát triển trong đó có Việt 
Nam. Suy dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả điều trị và tiên lượng, do đó cần phát hiện sớm bệnh nhân 
lao bị suy dinh dưỡng để có những can thiệp kịp thời trên lâm sàng. 
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm xác định tỉ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân lao phổi tại Bệnh viện Phạm Ngọc 
Thạch và mối liên quan giữa suy dinh dưỡng với một số yếu tố liên quan. 
Đối tượng - Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành từ tháng 3 đến hết tháng 4 năm 2020. 
Đã có 96 bệnh nhân lao phổi tham gia vào nghiên cứu bằng phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan (SGA) và 
chỉ số khối cơ thể (BMI)SGA và BMI. 
Kết quả: Chúng tôi phát hiện tỉ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân lao phổi theo phương pháp SGA là 66,6% 
(64/96). Tỉ lệ bệnh nhân có giảm số lượng tế bào lympho và thiếu máu lần lần lượt là 54,2% (54/96) và 67,7% 
(65/96). Có mối liên quan giữa tuổi và bệnh mạn tính theo phương pháp SGA. 
Kết luận: Suy dinh dưỡng trên bệnh nhân lao phổi ở mức cao và SGA là phương pháp giúp đánh giá suy 
dinh dưỡng trên bệnh nhân mới nhập viện, từ đó giúp bác sĩ điều trị đưa ra phương pháp hỗ trợ dinh dưỡng cho 
người bệnh. 
Từ khóa: suy dinh dưỡng, lao phổi, SGA, BMI 
ABSTRACT 
PREVALENCE AND ASSOCIATED FACTORS OF MALNUTRITION AMONG PULMONARY 
TUBERCULOSIS PATIENTS AT PHAM NGOC THACH HOSPITAL 
Le Thi My Linh, Doan Duy Tan, Pham Thi Lan Anh 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 2 - 2021: 148 - 152 
Background: Malnutrition and tuberculosis pose a double - burden in developing countries such as 
Vietnam. Early detection of malnourished among tuberculosis patients is needed to improve the treatment and to 
prevent complications to have timely clinical invention. 
Objectives: 1. Evaluating the prevelance of malnourished pulmonary tuberculosis patients at Pham Ngoc 
Thach hospital in Ho Chi Minh city; 2. Identidying the asociation between malnutrition and individual factors. 
Methods: A cross – sectional study was conducted among 96 pulmonary tuberculosis patients from March 
to the end of April in 2020. We used Subjective Global Assessment (SGA) and Body Mass Index (BMI) to 
evaluate the patients' nutrition status. 
Results: The prevelance of malnutrition were 66.6% (64/96) and 55.2% (54/96) measured by SGA and BMI 
methods, respectively. There were decreased lymphocyte counts were found in 54.2% (54/96). There was 67.7% 
(65/96) patients having anemia. 
Conclusions: The prevalence of malnutrition among pulmonary tuberculosis patients are relatively high. 
We confirm that early detection of malnutrition could help nutritional therapists have more information in 
supporting their patients during their hospital stay. 
1Khoa Y Tế Công Cộng, ĐH Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Đoàn Duy Tân ĐT: 0969747510 Email: [email protected] 
Khoa Y tế công cộng, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 149 
Keywords: malnutrition, pulmonary tuberculosis, SGA, BMI 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Lao là bệnh truyền nhiễm phổ biến nằm 
trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu 
trên toàn cầu. Việt Nam đứng thứ 16/30 nước có 
độ lưu hành cao nhất và đứng thứ ba trong vùng 
châu Á – Thái Bình Dương chỉ sau Trung Quốc 
và Philippines(1). 
Suy dinh dưỡng (SDD) gây ra 1/4 số ca mắc 
lao trên toàn thế giới nên được nhấn mạnh là 
nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh lao và 
ngược lại(2). Bệnh lao làm xuất hiện các biểu hiện 
như biếng ăn, giảm hấp thu các chất dinh 
dưỡng, vi chất và thay đổi quá trình chuyển hóa 
dẫn đến SDD(3). Tỉ lệ SDD ở bệnh nhân lao phổi 
thường trên 50% và cao hơn so với các thể lao 
khác trên lâm sàng(4). SDD làm tăng mức độ 
nghiêm trọng, tăng nguy cơ tử vong của bệnh, 
đồng thời làm nặng thêm tác dụng phụ và tăng 
khả năng kháng thuốc(5). SDD không được điều 
trị sẽ gây ra gánh nặng về kinh tế cho gia đình và 
xã hội do kéo dài thời gian nằm viện, ảnh hưởng 
đến chất lượng sống của người bệnh(3). 
Hiện nay, bệnh lao được điều trị với tỉ lệ 
thành công cao, tuy nhiên thời gian điều trị kéo 
dài trong khoảng từ sáu đến tám tháng nên việc 
hỗ trợ dinh dưỡng cần được đảm bảo ngay từ 
đầu và trong suốt quá trình chăm sóc người 
bệnh. Việc đánh giá SDD là cần thiết giúp theo 
dõi diễn tiến trong quá trình điều trị, tiên lượng 
bệnh, xây dựng các kế hoạch chăm sóc và can 
thiệp về dinh dưỡng cho người bệnh. SGA 
(Subjective Global Assessment) và BMI (Body 
Mass Index) là công cụ thường được sử dụng 
phổ biến với nhiều ưu điểm, tiết kiệm chi phí, 
hiệu quả và không xâm lấn. Do đó, chúng tôi 
thực hiện đề tài này nhằm đánh giá tỉ lệ SDD 
trong 48 giờ đầu nhập viện và khảo sát mối liên 
quan giữa SDD với các đặc điểm dân số xã hội, 
đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm cận lâm sàng ở 
bệnh nhân lao phổi tại bệnh viện Phạm Ngọc 
Thạch. Chúng tôi hy vọng những phát hiện 
trong nghiên cứu này sẽ góp phần cung cấp 
thông tin hữu ích cho bác sĩ lâm sàng để thực 
hiện quản lý và chăm sóc bệnh nhân lao tốt hơn 
đồng thời là nền tảng phát triển các nghiên cứu 
trong tương lai. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Được thực thực hiện trên 96 bệnh nhân lao 
phổi trên 18 tuổi trong 48 giờ đầu nhập viện tại 
khoa Nội trú bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ 
tháng 3/2020 đến hết tháng 4 năm 2020. 
Tiêu chuẩn lựa chọn 
Bệnh nhân mới nhập viện trong vòng 48 giờ, 
được chẩn đoán lao phổi và đồng ý tham gia 
nghiên cứu. 
Tiêu chí loại ra 
Bệnh nhân không thể giao tiếp bằng ngôn 
ngữ, bệnh nhân có các rối loạn tâm thần, mang 
thai hoặc cho con bú, bệnh nhân mắc lao kháng 
thuốc, bệnh nhân ung thư, bệnh nhân HIV. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang. 
Phương pháp thu thập số liệu 
Đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ 
ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu 
trước khi tiến hành. Phỏng vấn mặt đối mặt 
bằng bộ câu hỏi soạn sẵn có cấu trúc, tiếp theo 
điều tra viên thực hiện các bước khám lâm sàng 
để đánh giá tình trạng dinh dưỡng (TTDD) của 
bệnh nhân bằng công cụ SGA và BMI. Các dữ 
liệu bao gồm chẩn đoán lao phổi, tiền sử bệnh, 
bệnh lý kèm theo, các xét nghiệm cận lâm sàng 
được ghi nhận từ hồ sơ bệnh án. 
Đánh giá toàn diện đối tượng bằng phương pháp 
SGA(6) 
Không nguy cơ SDD: SGA – A: điểm số từ 9 
– 12 điểm theo thang điểm SGA. 
Nguy cơ SDD: SGA – B: điểm số từ 4 – 8 theo 
thang điểm SGA. 
SDD nặng: SGA – C: điểm số đạt từ 0 – 3 
theo thang điểm SGA. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 150 
Phng pháp nhân trc hc ánh giá 
thành phn c th 
Chỉ số khối cơ thể: BMI = 
â	ặ	()
(ề	)()
. 
Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới 
(WHO)(13): 
- SDD nặng: BMI<16; 
- SDD vừa: BMI = 16 – 16,99; 
- SDD nhẹ: BMI = 17 – 18,49; 
- Bình thường: 18,5 – 24,99; 
- Thừa cân – béo phì: BMI ≥ 25. 
Đánh giá về mặt chức năng 
Số lượng hemoglobin: Bình thường: ≥12,2 
g/dL, giảm: <12,2 g/Dl. 
Số lượng tế bào lympho trong máu ngoại vi: 
- Bình thường >1500 lympho/mm3; 
- Giảm nhẹ 900–1500 lympho/mm3; 
- Giảm nặng <900 lympho/mm3. 
Xử lý và phân tích số liệu 
Nhập liệu và xử lý bằng phần mềm Epidata 
3.1 và Stata 14.0. 
Phân bố tần số và tỉ lệ phần trăm cho biến 
định tính. Phép kiểm chi bình phương dùng để 
xác định mối liên quan giữa SDD với các biến số 
đặc điểm dân số xã hội, đặc điểm bệnh lý, xét 
nghiệm cận lâm sàng. 
Phép kiểm t test so sánh cân nặng 6 tháng 
trước và sau khi nhập viện. Khoảng tin cậy 95% 
được áp dụng cho toàn bộ các test, mọi sự khác 
biệt có ý nghĩa thống kê khi p <0,05. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM số 72/HĐĐĐ, ngày 
16/01/2020 và Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch số 
316/HĐĐĐ-PNT, ngày 10/3/2020. 
KẾT QUẢ 
Đặc điểm dân số xã hội 
Dân số nghiên cứu bao gồm 96 bệnh nhân 
lao phổi với tuổi trung bình 49,9 ± 15,7 tuổi nam 
chiếm 76%. Chỉ khoảng 1/3 số bệnh nhân trong 
nghiên cứu hiện đang sinh sống ở Thành phố 
Hồ Chí Minh. 88,6% bệnh nhân có trình độ học 
vấn từ cấp 3 trở xuống. Bệnh nhân thuộc thành 
phần lao động phổ thông trong xã hội (công 
nhân, nông dân, buôn bán/tự do) chiếm tỉ lệ cao 
nhất (50%), nhóm bệnh nhân không đi làm (thất 
nghiệp và nghỉ hưu) với 35,4%. Có tới 62,5% 
người bệnh có hút thuốc lá, trong đó 8,3% bệnh 
nhân hiện tại còn hút thuốc mặc dù đang trong 
thời gian bệnh (Bảng 1). 
Bảng 1: Đặc điểm dân số xã hội của bệnh nhân lao 
phổi (n=96) 
Đặc tính Tần số Tỉ lệ % 
Giới 
Nam 73 76,0 
Nữ 23 24,0 
Tuổi trung bình ± ĐLC Tuổi nhỏ nhất Tuổi lớn nhất 
49,9 ± 15,7 18 83 
Tuổi 
18-29 13 13,5 
30-59 54 56,3 
≥60 29 30,2 
Nơi sinh sông 
TP.HCM 36 37,5 
Tỉnh khác 60 62,5 
Trình độ học vấn 
Cấp 1 31 32,3 
Cấp 2 43 44,8 
Cấp 3 12 12,5 
Từ cấp 3 trở lên 10 10,4 
Nghề nghiêp 
Nông dân 10 10,4 
Công nhân 10 10,4 
Buôn bán/ nghề tự do 28 29,2 
Nhân viên văn phòng 6 6,3 
Thất nghiệp 10 10,4 
Nghỉ hưu 24 25,0 
Khác 8 8,3 
Hút thuốc lá 
Chưa bao giờ 36 37,5 
Đã từng hút thuốc 52 54,2 
Hiện tại còn hút thuốc 8 8,3 
Khác: giáo viên, sinh viên 
Đặc điểm bệnh lý 
25% người bệnh có tiền căn lao phổi trước 
đây. AFB (+) chiếm 57,3%, AFB (-) 42,7%. Các 
bệnh mạn tính chiếm 39,6%, trong đó bệnh lý 
tim mạch (44,7%), đái tháo đường (44,7%), 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 151 
bệnh gan mạn (21,0%) và các bệnh khác 
(15,8%) (Bảng 2). 
Bảng 2: Đặc điểm bệnh lý của bệnh nhân lao phổi 
(n=96) 
Đặc điểm Tần số Tỉ lệ % 
Tiền căn lao phổi 
Không 72 75,0 
Có 24 25,0 
AFB đàm 
AFB dương 55 57,3 
AFB âm 41 42,7 
Bệnh mạn tính 
Không 58 60,4 
Có 38 39,6 
 Bệnh lý tim mạch 17 44,7 
 Đai tháo đường 17 44,7 
 Bệnh gan mạn 8 21,0 
 Khác 6 15,8 
Khác: Gout, bệnh thận mạn, hen, COPD 
Tỉ lệ và mức độ suy dinh dưỡng theo từng 
phương pháp 
Bảng 3: Tỉ lệ suy dinh dưỡng của bệnh nhân lao phổi 
theo phương pháp SGA và phương pháp BMI (n=96) 
Đặc tính Tần số Tỉ lệ % 
Phương pháp SGA 
Không SDD 32 33,3 
Nguy cơ SDD 56 58,3 
SDD nặng 8 8,3 
Phương pháp BMI 
Thừa cân – béo phì 2 2,1 
Bình thường 41 42,7 
SDD nhẹ 15 15,6 
SDD vừa 15 15,6 
SDD nặng 23 24,0 
Tình trạng chức năng cơ thể 
Bảng 4: Các xét nghiệm cận lâm sàng của bệnh nhân 
lao phổi (n=96) 
Đặc tính
Tần số Tỉ lệ % 
Số lượng tế bào Lympho/mm
3
Không giảm (>1500/mm
3
) 44 45,8 
Giảm nhẹ (900-1500/mm
3
) 29 30,2 
Giảm nặng (<900/mm
3
) 23 24,0 
Hemoglobin (g/dL) 
Bình thường (≥12,2 g/dL) 31 32,3 
Giảm (<12,2 g/dL) 65 67,7 
Số lượng tế bào lympho/mm3 giảm xuất 
hiện ở 54,2% bệnh nhân lao phổi, trong đó số 
lượng tế bào lympho/mm3 giảm nặng gặp ở 
24,0% bệnh nhân. Hơn 2/3 bệnh nhân có giảm 
Hemoglobin (67,7%) (Bảng 4). 
Mối liên quan giữa suy dinh dưỡng với các đặc 
điểm của đối tượng nghiên cứu 
Bảng 5: Mối liên quan giữa SDD theo phương pháp 
SGA với nhóm tuổi và bệnh mạn tính (n=96) 
Đặc tính SDD n (%) 
Không 
SDD n (%) 
p PR 
Nhóm tuổi 
18 – 29 5 (38,5) 8 (61,5) 
0,033* 
1 
30 – 59 37 (68,5) 17 (31,5) 1,78 (0,87 - 3,64) 
≥60 22 (66,7) 7 (24,1) 1,97 (0,96 - 4,06) 
Bệnh mạn tính 
Không 34 (58,6) 24 (41,4) 
0,039 
1 
Có 30 (79,0) 8 (21,0) 1,35 (1,03 - 1,77) 
* Kiểm định chi bình phương khuynh hướng 
Nghiên cứu của chúng tôi tìm thấy mối 
liên quan có tính khuynh hướng giữa SDD 
theo phương pháp SGA với tuổi của bệnh 
nhân. Ở bệnh nhân lao, nhóm tuổi càng tăng 
thì tỉ lệ SDD càng tăng theo (p=0,033). Ngoài 
ra, những người có bệnh mạn tính có tỉ lệ SDD 
cao gấp 1,35 lần so với những người không có 
bệnh mạn tính (p=0,039) (Bảng 5). 
BÀN LUẬN 
Trong vòng 48 giờ đầu nhập viện, chúng tôi 
ghi nhận có 66,6% (64/96) bệnh nhân lao phổi có 
tình trạng SDD mức độ vừa và nặng theo 
phương pháp SGA, trong đó mức độ nặng 
chiếm 8,3% (SGA – C). Tỉ lệ này nằm trong 
khoảng dao dộng từ 20% - 87% các bệnh nhân 
mắc lao trên toàn thế giới(7,8). Trên cùng đối 
tượng là bệnh nhân lao phổi, kết quả của chúng 
tôi tương đồng với nghiên cứu của Shigeru 
Miyata với tỉ lệ 30,8% bệnh nhân có TTDD tốt 
(SGA – A), tuy nhiên tỉ lệ bệnh nhân được phân 
loại SGA – C giữa 2 nghiên cứu có phần chênh 
lệch khá lớn (33,3% và 8,3%). Sở dĩ có sự khác 
biệt này là do tuổi trung bình của các đối tượng 
trong nghiên cứu tác giả nằm trong khoảng 67,7± 
19,0 trong khi của chúng tôi thấp hơn thấp hơn 
49,9 ± 15,7. Tuy nhiên, tỉ lệ SDD của các nhóm 
tác giả đến từ Nepal (2019) theo phương pháp 
SGA trên đối tượng bệnh nhân lao phổi lại thấp 
hơn so với nghiên cứu của chúng tôi (50%)(9). 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 152 
Điều này có thể giải thích bởi mẫu thu thập 
trong nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành 
tại các khoa bệnh nội trú của bệnh viện lao tuyến 
trung ương, trong khi tác giả tiến hành tại phòng 
khám lao địa phương. Bệnh nhân điều trị nội trú 
tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch thường có diễn 
tiến bệnh phức tạp, nhiều bệnh nền kèm theo và 
các phản ứng nghiêm trọng của thuốc kháng lao 
góp phần làm cho tỉ lệ SDD cao hơn. 
Dựa trên bảng phân loại BMI của WHO, kết 
quả cho thấy tỉ lệ SDD tương đồng với các 
nghiên cứu của tác giả Dương Quang Tuấn 
(49,5%)(10), Dodor EA (51%)(11), Feleke BE (50%)(12) 
và Piva SG (51%)(4). 
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có mối 
liên quan giữa SDD theo phương pháp SGA và 
tình trạng bệnh mạn tính kèm theo của bệnh 
nhân. Các bệnh mạn tính trong nghiên cứu của 
chúng tôi phần lớn có liên quan đến hệ thống 
miễn dịch trên từng cơ thể bệnh nhân. Như vậy, 
việc đánh giá thường xuyên, tư vấn chế độ ăn 
uống và hỗ trợ dinh dưỡng tích cực khi cần thiết 
là thực sự quan trọng để có kết quả điều trị tốt 
hơn, đồng thời quản lý bệnh lao hiệu quả trong 
cộng đồng. 
KẾT LUẬN 
Tỉ lệ bệnh nhân lao phổi cần được nâng cao 
dinh dưỡng (nguy cơ SDD và SDD) được đánh 
giá theo phương pháp SGA: 66,6% (58,3% 
nguy cơ SDD; 8,3% SDD) và phương pháp 
BMI: 55,2% (31,2 % SDD nhẹ - vừa; 24% SDD 
nặng). Tỉ lệ giảm số lượng tế bào lympho và 
hemoglobin lần lượt là 54,2% và 67,7. Có mối 
liên quan có tính khuynh hướng giữa tuổi và 
bệnh mạn tính với tình trạng SDD theo 
phương pháp SGA (p <0,05). Như vậy, tỉ lệ 
SDD ở bệnh nhân lao phổi mới nhập viện khá 
cao và SGA là một công cụ hữu ích để phát 
hiện SDD trên lâm sàng. Trên thực tế một số 
bệnh nhân có SDD theo BMI mà không có SDD 
theo SGA nên có thể kết hợp chúng nhằm xác 
định đúng TTDD của bệnh nhân để có những 
can thiệp kịp thời, mang đến chất lượng điều 
trị tốt hơn cho người bệnh. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. WHO (2018). The top 10 causes of death 2018. URL: 
https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/the-top-10-
causes-of-death . 
2. WHO (2019). Global tuberculosis report 2019. World Health 
Organization technical report series, v-xi, 1-261. URL: 
https://www.who.int/teams/global-tuberculosis-programme/tb-
reports/global-report-2019. 
3. Gupta KB, Gupta R, Atreja A, Verma M, Vishvkarma S (2009). 
Tuberculosis and nutrition. Lung India, 26(1):9-16. 
4. Piva SG, Costa Mda C, Barreto FR, Pereira SM (2013). Prevalence 
of nutritional deficiency in patients with pulmonary 
tuberculosis. J Bras Pneumol, 39(4):476-83. 
5. Ramachandran G, Hemanth Kumar A, Bhavani P, Poorana 
Gangadevi N, Sekar L, Vijayasekaran D, et al (2013). Age, 
nutritional status and INH acetylator status affect 
pharmacokinetics of anti-tuberculosis drugs in children. The 
International Journal of Tuberculosis and Lung disease, 17(6):800-6. 
6. Detsky AS, Baker J, Johnston N, Whittaker S, Mendelson R, 
Jeejeebhoy K (1987). What is subjective global assessment of 
nutritional status? Journal of Parenteral and Enteral Nutrition, 
11(1):8-13. 
7. Pakasi TA, Karyadi E, Dolmans WM, van der Meer JW, van der 
Velden K (2009). Malnutrition and socio-demographic factors 
associated with pulmonary tuberculosis in Timor and Rote 
Islands, Indonesia. Int J Tuberc Lung Dis, 13(6):755. 
8. Krapp F, Véliz JC, Cornejo E, Gotuzzo E, Seas C (2008). 
Bodyweight gain to predict treatment outcome in patients with 
pulmonary tuberculosis in Peru. Int J Tuberc Lung Dis, 
12(10):1153-9. 
9. Subedi S, Mehta RS, PushpaParajuli, Yadav DK (2019). 
Nutritional Status of Patients with Pulmonary Tuberculosis 
receiving Anti-Tuberculosis Treatment at BP Koirala Institute of 
Health Sciences, Nepal. Journal of Nursing and Health Science, 
8(6):01-5. 
10. Dương Quang Tuấn, Trần Hùng, Nguyễn Minh Tâm (2016). 
Liên quan giữa chỉ số BMI với một số đặc điểm lâm sàng và cận 
lâm sàng của bệnh lao phổi và sự thay đổi chỉ số BMI sau 1 
tháng điều trị. Y Dược Học, 6(4):77-83. 
11. Dodor E (2008). Evaluation of nutritional status of new 
tuberculosis patients at the effia-nkwanta regional hospital. 
Ghana Medical Journal, 42(1):22-8. 
12. Feleke BE, Feleke TE, Biadglegne F (2019). Nutritional status of 
tuberculosis patients, a comparative cross-sectional study. BMC 
Pulm Med, 19(1):182. 
13. WHO (1995) Physical status: The use of and interpretation of 
anthropometry, report of a WHO expert committee. World 
Health Organization. 
Ngày nhận bài báo: 16/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 29/01/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfti_le_suy_dinh_duong_va_cac_yeu_to_lien_quan_tren_benh_nhan.pdf