Tỉ lệ mổ lấy thai và yếu tố liên quan trên các trường hợp sản phụ được chỉ định sử dụng oxytocin tại Bệnh viện Từ Dũ
Đặt vấn đề: Gia tăng tỉ lệ mổ lấy thai (MLT) đang trở thành vấn nạn toàn cầu. Năm 2001 WHO đã đề
xuất sử dụng phân loại MLT theo Robson để giám sát, so sánh tỉ lệ MLT. Tại Việt Nam, chỉ định MLT
thường gặp và can thiệp được là giục sinh thất bại. Do đó, cần thiết xác định tỉ lệ MLT và các yếu tố liên
quan ở nhóm này.
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ MLT trên những sản phụ (SP) có chỉ định sử dụng oxytocin. Xác định các yếu tố
liên quan đến MLT ở nhóm SP này.
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Loạt ca tiến cứu. Lấy mẫu toàn bộ các trường hợp đơn thai, ngôi
đầu, tuổi thai 34-42 tuần, được sử dụng oxytocin để khởi phát chuyển dạ (KPCD) hoặc tăng co tại khoa Sanh
bệnh viện Từ Dũ từ 01/01-30/05/2020.
Bạn đang xem tài liệu "Tỉ lệ mổ lấy thai và yếu tố liên quan trên các trường hợp sản phụ được chỉ định sử dụng oxytocin tại Bệnh viện Từ Dũ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỉ lệ mổ lấy thai và yếu tố liên quan trên các trường hợp sản phụ được chỉ định sử dụng oxytocin tại Bệnh viện Từ Dũ
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 161 TỈ LỆ MỔ LẤY THAI VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN CÁC TRƯỜNG HỢP SẢN PHỤ ĐƯỢC CHỈ ĐỊNH SỬ DỤNG OXYTOCIN TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ Võ Thị Huệ1, Lê Quang Thanh2,Phạm Thanh Hải2, Nguyễn Long2, Vương Thị Ngọc Lan1 TÓM TẮT Đặt vấn đề: Gia tăng tỉ lệ mổ lấy thai (MLT) đang trở thành vấn nạn toàn cầu. Năm 2001 WHO đã đề xuất sử dụng phân loại MLT theo Robson để giám sát, so sánh tỉ lệ MLT. Tại Việt Nam, chỉ định MLT thường gặp và can thiệp được là giục sinh thất bại. Do đó, cần thiết xác định tỉ lệ MLT và các yếu tố liên quan ở nhóm này. Mục tiêu: Xác định tỉ lệ MLT trên những sản phụ (SP) có chỉ định sử dụng oxytocin. Xác định các yếu tố liên quan đến MLT ở nhóm SP này. Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Loạt ca tiến cứu. Lấy mẫu toàn bộ các trường hợp đơn thai, ngôi đầu, tuổi thai 34-42 tuần, được sử dụng oxytocin để khởi phát chuyển dạ (KPCD) hoặc tăng co tại khoa Sanh bệnh viện Từ Dũ từ 01/01-30/05/2020. Kết quả: Chúng tôi thu nhận 334 SP. Tỉ lệ MLT là 45,2%. Yếu tố liên quan đến MLT: tuổi mẹ, vết mổ cũ MLT, thời gian bắt đầu dùng oxytocin, chiều cao/bề cao tử cung, số con đủ tháng, độ mở cổ tử cung ban đầu, và chỉ số BISHOP ban đầu. Kết luận: Tỉ lệ mổ lấy thai ở các sản phụ được sử dụng oxytocin để KPCD hoặc tăng co còn cao. Cần thêm nghiên cứu về mô hình tiên lượng MLT để hỗ trợ quyết định mổ lấy thai. Từ khoá: mổ lấy thai, oxytocin ABSTRACT CAESAREAN SECTION RATE AND ASSOCIATED FACTORS IN PREGNANT WOMEN WHO HAD LABOR AUGMENTED BY USING OXYTOCIN AT TU DU HOSPITAL Vo Thi Hue, Le Quang Thanh, Pham Thanh Hai, Nguyen Long, Vuong Thi Ngoc Lan * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 161 - 168 Background: Increase of caesarean section (CS) is a global issue. In 2001, WHO proposes the Robson classification system as a standard for monitoring and comparing caesarean section rates. In Viet Nam, the most common and changeable indication for caesarean section is failed labor augmentation. Objectives: To determine caesarean section rate and its associated factors in pregnant women who had labor augmented by using oxytocin at Tu Du hospital. Method: Case series. The study reported on a series of 334 pregnant women who had a singleton gestation, vertex, 34-42 weeks of gestation, had labor augmented by using oxytocin at Delivery department of Tu Du hospita from 1st Jan to 30th May, 2020. Results: A total of 334 pregnant women were recruited. The CS rate was 45.2%. The associated factors were maternal age, previous CS, duration of staying in the labor ward, maternal height /uterus height ratio, had delivered 1 or more than 1 term pregnancy, cervical dilatation at oxytocin start, and BISHOP at oxytocin start. 1Bộ môn Sản, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2Bệnh viện Từ Dũ Tác giả liên lạc: BS. Võ Thị Huệ ĐT: 0905217794 Email: [email protected] Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 162 Conclusion: In pregnant women who had labor augmented by using oxytocin, caesarean section rate is high. The predictive model for CS after labor augmentation using oxytocin is required to assist in indicating for cesarean section. Keywords: cesarean section, oxytocin ĐẶT VẤN ĐỀ Tỉ lệ mổ lấy thai (MLT) ngày càng tăng và trở thành vấn nạn trên toàn thế giới. Nhiều nghiên cứu ghi nhận MLT làm tăng bệnh suất, tử suất cho mẹ và thai đặc biệt khi các chỉ định (CĐ) y khoa không phù hợp(1). Do đó, tổ chức y tế thế giới (WHO) khuyến cáo tỉ lệ MLT không nên vượt quá 15% ở các quốc gia và vùng lãnh thổ, nhưng trong những thập kỷ gần đây tỉ lệ này liên tiếp tăng cao trong các thống kê sản khoa trên toàn cầu nói chung và ở Việt Nam nói riêng(2). Năm 2007-2008, tỉ lệ MLT ở các bệnh viện (BV) phụ sản lớn tại Việt Nam như BV Phụ sản Trung ương là 35-40%, BV Từ Dũ (BVTD) 48%, BV Hùng Vương 20-30% và các BV tỉnh 20- 35%(3). Chính vì vậy, WHO đã đề xuất sử dụng bảng phân loại MLT của Robson MS (2001) để phân nhóm sản phụ (SP), đánh giá những bối cảnh can thiệp khác nhau ở các quốc gia, từ đó đưa ra phương pháp can thiệp hiệu quả nhằm đảm bảo MLT được chỉ định khi cần thiết(4). Áp dụng bảng phân loại này, tác giả Phạm Thanh Hải thực hiện nghiên cứu trên 5.287 trường hợp (TH) sinh trong tháng 06 năm 2017 tại BVTD nhận thấy tỉ lệ MLT chung của toàn viện là 42,6%. Trong đó, tỉ lệ MLT ở nhóm 1 là 19,7%, cao hơn so với mục tiêu đề ra của WHO với chỉ định MLT thường gặp nhất là “Giục sinh thất bại: GSTB” (trong toàn bộ mẫu và trong Robson nhóm 1, 2 và 3)(5). Từng bước hành động để can thiệp nhằm giảm tỉ lệ MLT tại BVTD, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu “Tỉ lệ mổ lấy thai và yếu tố liên quan trên các trường hợp sản phụ được chỉ định sử dụng oxytocin tại bệnh viện Từ Dũ”, để trả lời câu hỏi nghiên cứu: “Tỉ lệ mổ lấy thai trên các trường hợp sản phụ sử dụng oxytocin tại BVTD là bao nhiêu và các yếu tố nào liên quan đến tỉ lệ này?”, với mục tiêu tìm ra các yếu tố nguy cơ cao dẫn đến MLT, nhằm xây dựng mô hình tiên lượng nguy cơ MLT trên nhóm sản phụ này, từ đó đề xuất những can thiệp chuyên môn giúp giảm tỉ lệ MLT. Mục tiêu Xác định tỉ lệ mổ lấy thai trên các trường hợp sản phụ được chỉ định sử dụng oxytocin tại BVTD. Xác định các yếu tố liên quan đến mổ lấy thai trên các trường hợp sản phụ được chỉ định sử dụng oxytocin tại BVTD. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Trong giờ hành chính từ 01/01-30/05/2020 chúng tôi theo dõi ngẫu nhiên các trường hợp sản phụ mang đơn thai, ngôi đầu, tuổi thai 34-42 tuần, được sử dụng oxytocin để khởi phát chuyển dạ (KPCD) hoặc tăng co tại khoa Sanh BVTD. Tiêu chuẩn loại trừ Chúng tôi loại trừ các trường hợp: có chỉ định mổ lấy thai, có rối loạn tâm thần, dị tật bẩm sinh đường sinh dục, bệnh lý ác tính, thai chết trong tử cung. Phương pháp nghiên cứu Cỡ mẫu Với mục tiêu chính là xác định tỉ lệ mổ lấy thai trên các trường hợp sản phụ được chỉ định sử dụng oxytocin tại BVTD, chúng tôi áp dụng công thức xác định một tỉ lệ, với Z1-α /2=1,96, d=0,05, p=0,26 theo Simon CE(6), dự trù mất mẫu 10%. Vậy cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu là 328 trường hợp. Thực tế trong thời gian từ 01/01/2019 đến 30/05/2019 chúng tôi thu nhận 334 trường hợp nhập khoa Sanh, BVTD thoả tiêu chuẩn chọn mẫu và đồng ý tham gia nghiên cứu. Qua theo dõi chuyển dạ ghi nhận 183 trường hợp sinh ngả âm đạo thành công và 151 trường hợp mổ lấy thai. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 163 Phương pháp tiến hành Bước 1: Thu nhận vào nghiên cứu tại khoa Sanh Tại khoa Sanh, thứ 2, thứ 4 và thứ 6 hàng tuần, nghiên cứu viên tiến hành sàng lọc đối tượng tham gia nghiên cứu thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu. Đó là các SP được bác sĩ cột I khám đánh giá và CĐ sử dụng oxytocin điều chỉnh cơn gò. Sau đó, giải thích tiến trình nghiên cứu cho sản phụ. Nếu SP đồng thuận tham gia nghiên cứu thì ký vào bảng cam kết đồng ý tham gia nghiên cứu. SP có thể từ chối hoặc ngưng không tham gia nghiên cứu ở bất cứ thời điểm nào mà không ảnh hưởng hay bị phân biệt đối xử trong quá trình theo dõi, điều trị tại bệnh viện. Gắn bộ thu thập số liệu vào hồ sơ bệnh án các đối tượng nghiên cứu. Bước 2: Theo dõi diễn tiến chuyển dạ và kết cục sau sinh tại khoa Sanh Nghiên cứu viên phỏng vấn, khám để thu nhận thông tin nền và tại thời điểm bắt đầu sử dụng oxytocin của các đối tượng tham gia nghiên cứu. SP được theo dõi theo kỹ thuật điều dưỡng và phác đồ điều trị của BVTD bởi bác sĩ cột 3 trở lên và nữ hộ sinh theo hướng dẫn của bệnh viện: - Bác sĩ khoa Sanh/nghiên cứu viên khám, đánh giá CD mỗi 2 giờ trong 4 giờ đầu hoặc gần hơn nếu có dấu hiệu đe doạ sức khoẻ mẹ hoặc thai (VD: gò cường tính, biểu đồ tim thai nghi ngờ, SP than đau bụng nhiều, có dấu hiệu nặng tiền sản giật (TSG), than khó thở, đau ngực,). - Nữ hộ sinh theo dõi sinh hiệu, tim thai, cơn gò trên monitor, tình trạng ối, sự xoá mở CTC và sự tiến triển của ngôi thai. - Bơm tiêm điện là cách sử dụng tốt nhất: pha 49 ml Glucose 5% với Oxytocin 5 UI/ml khởi đầu với 0,3-1,2 ml/giờ (0,5 – 2 mUI/phút) – phác đồ liều thấp hoặc truyền tĩnh mạch dung dịch Glucose 5% 500 mL pha Oxytocin 5UI với tốc độ VIII giọt/phút (4 mUI/phút) – phác đồ liều cao. - Theo dõi sát CD bằng monitor sản khoa (theo dõi tim thai và cơn gò TC): + Ghi diễn tiến CD trên biểu đồ CD. + Theo dõi 20-30 phút, nếu cơn gò TC chưa đạt 3 cơn/10 phút (KPCD) hoặc chưa đạt đủ số cơn gò theo độ mở CTC thì tăng VIII giọt/phút (4 mUI/ phút) để đạt tần số cơn gò phù hợp. Liều tối đa là XL giọt/phút (20 mUI/ phút). + Khám ngoài mỗi 15 phút/lần đều đặn theo dõi cơn gò tử cung, nhịp tim thai, độ lọt của ngôi mỗi giờ. + Khi đạt số cơn gò phù hợp CD và độ mở cổ tử cung (CTC), đánh giá sự tiến triển của CD bằng độ mở CTC và ngôi thai theo qui định Hướng dẫn Quốc Gia. + Khi phát hiện CD ngưng tiến (theo dõi tối đa 2 giờ): * Cân nhắc việc tiếp tục sử dụng Oxytocin liều cao hơn, hoặc * Phối hợp thuốc mềm CTC, hoặc * Mổ lấy thai. Nghiên cứu theo dõi chuyển dạ đến khi SP sanh ngả âm đạo hoặc được chỉ định MLT. Nghiên cứu viên tiếp tục theo dõi ghi nhận tình trạng lượng máu mất của mẹ sau sổ nhau và sau may phục hồi tầng sinh môn (TSM) (trong sanh ngã âm đạo), sau may phục hồi cơ tử cung và lấy máu âm đạo (trong mổ lấy thai). Bước 3: Kết thúc nghiên cứu Nghiên cứu viên tổng hợp và hoàn chỉnh các phiếu thu thập của mỗi thai phụ; tình trạng và APGAR trẻ sau sinh; kiểm tra lại những số liệu thiếu bằng cách đối chiếu với hồ sơ bệnh án hay phỏng vấn người bệnh, phân tích xử lý số liệu và viết bài báo khoa học. Phân tích thống kê Phân tích thống kê được thực hiện bằng phần mềm SPSS 20.0. Thống kê mô tả được tính toán cho tất cả các biến được thu nhận trong nghiên cứu này. Ngưỡng cắt các biến định lượng được trích theo y văn hoặc tính ngưỡng cắt theo chỉ số Youden index (độ nhạy + độ đặc hiệu -1) (cho các biến chiều cao mẹ, tỉ số chiều cao mẹ/BCTC, thời gian nhập phòng sinh đến tăng co, thời gian Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 164 đạt cơn gò mong muốn). Phân tích gồm 2 bước: bước 1 mô tả và phân tích, bước 2 phân tích hồi quy Logistic đa biến nhằm kiểm soát, loại bỏ các yếu tố gây nhiễu và tính toán nguy cơ tương đối. Các phép toán được tính ở khoảng tin cậy 95%, kết quả có ý nghĩa thống kê nếu p <0,05. Định nghĩa biến số kết cục chính Bảng 1: Các biến số nghiên cứu Tên biến số Loại biến số Giá trị Cách thu thập 1. Phương thức sinh Danh đinh 1. Sinh thường 2. Sinh Forceps 3. Sinh giác hút 4. Mổ lấy thai Theo thực tế cách sinh của BN 2. Lý do mổ lấy thai Danh định Theo ICD Theo chẩn đoán trong biên bản hộ chẩn phẫu thuật 3. Tuổi mẹ Liên tục Tính bằng năm Tính bằng số năm lấy mẫu - năm sinh dương lịch 4. Chiều cao Liên tục Tính bằng mét Đo chiều cao của người tham gia nghiên cứu 5. Số lần mang thai đủ tháng Định lượng Lần Phỏng vấn SP số lần sinh con 37 tuần 6. Vết mổ cũ MLT Nhị giá 1. Có 2. Không Phỏng vấn SP 7. Thời gian từ nhập PS đến khi sử dụng oxytocin Liên tục Giờ Thời điểm bắt đầu sử dụng oxytocin – thời điểm nhập PS 8. CTC lúc sử dụng oxytocin Liên tục cm Dực theo kết quả khám của nghiên cứu viên hoặc BS điều trị tại khoa 9. Điểm số Bishop lúc sử dụng oxytocin Liên tục Điểm Dựa theo kết quả khám của nghiên cứu viên hoặc BS điều trị tại khoa Y đức Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược TP. HCM, số 566/ĐHYD-HĐĐĐ, ngày 28/10/2019. KẾT QUẢ Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 29,6 ± 5,2 tuổi, trong đó trẻ nhất là 15 tuổi và lớn tuổi nhất là 47. Khoảng 83% phụ nữ sinh con <35 tuổi (279/334 TH). Có 302/334 đối tượng nghiên cứu không có tiền căn mổ lấy thai trước đây (chiếm 90,4%). Bảng2: Đặc điểm thai kỳ này (n = 334) Đặc điểm Tổng Tỉ lệ (%) Tuổi thai lúc sinh (tuần) 39,0 ± 1,4 tuần Vào CD CD tự nhiên 165 49,4 KPCD bằng Foley + Oxytocin 54 16,2 KPCD bằng Oxytocin 56 16,8 KPCD bằng Foley 59 17,7 Khoảng 2/3 sản phụ nhập viện khi thai 37-40 tuần, chiếm 65% (217/334), khoảng 27% nhập viện với CĐ thai quá ngày dự sinh (91/334) và gần 8% nhập viện vì các vấn đề xảy ra ở thai non tháng <37 tuần. Khoảng 1/2 thai kỳ vào CD tự nhiên (165/334), còn lại được KPCD bằng Foley hoặc Oxytocin hay kết hợp cả hai với tỷ lệ gần bằng nhau, lần lượt là 17,7%, 16,8% và 16,2%. Các trường hợp được khởi phát chuyển dạ (KPCD) chủ yếu vì ối vỡ lâu (26%) và thai quá ngày dự sinh (21,9%). Các CĐ khác như tiền sản giật, thai FGR, đái tháo đường dao động từ 10,7- 13,6%. Nghiên cứu chỉ ghi nhận 1 trường hợp không rõ chỉ định KPCD. Bảng 3: Kết cục cuộc sinh ở mẹ Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ (%) Phương pháp sinh (n=334) Sinh thường 145 43,4 Sanh giúp 38 11,4 Mổ lấy thai 151 45,2 Lý do mổ lấy thai (n=151) GSTB 68 45,0 Bất xứng đầu chậu 28 18,5 NTTBT/thai suy 33 21,9 CD ngưng tiến 13 8,6 Khác 9 5,9 TG từ lúc SD oxytocin đến có CĐ mổ 4,8 ± 4,3 giờ Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 165 Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ (%) (n=151) 4,7 (3,3-6,2)* giờ TG từ lúc dùng oxytocin đến sinh ngả âm đạo (n=183) 4 (2,3-6,1)*giờ TG từ lúc SD oxytocin đến có CĐ mổ vì GSTB (n=68) 5,5 ± 3,6 giờ Biến chứng mẹ Nhiễm trùng 1 0,3 Vỡ tử cung 1 0,3 Không 332 99,4 *: trung vị (khoảng tứ phân vị) GSTB: Giục sinh thất bại GĐ: Giai đoạn NTTBT: Nhịp tim thai bất thường TG: Thời gian CĐ: Chỉ định Sản phụ ≥35 tuổi có nguy cơ MLT cao gấp 2,3 lần nhóm 4,9 có nguy cơ MLT giảm 55% so với nhóm có tỉ số này ≤4,9. SP từng sinh 1 con đủ tháng giảm nguy cơ MLT 69% và >1 con đủ tháng giảm 93%. Thời gian nhập phòng sanh đến khi sử dụng oxytocin dài (≥9,5 giờ) tăng nguy cơ MLT 1,7 lần. Nguy cơ MLT giảm khoảng 60-70% ở nhóm CTC >2 cm so với nhóm CTC ≤2 cm, nhóm có BISHOP 6-7 điểm so với ≤5 điểm và nhóm có BISHOP >7 điểm so với ≤5 điểm. Bảng 3: Kết cục cuộc sinh ở con (n = 334) Đặc điểm Tổng Tỉ lệ (%) APGAR 5 phút 0-3 1 0,3 4-6 1 0,3 7-10 332 99,4 Nhập Khoa Sơ Sinh Không 220 65,9 Sơ sinh 2 88 26,3 Sơ sinh 1 26 7,8 Bảng 4: Yếu tố liên quan đến MLT Yếu tố Đơn vị OR thô* OR hiệu chỉnh** P** Tuổi ≥35/ <35 1,14 (0,85-1,52) 2,33 (1,09-4,96) 0,028 Chiều cao(cm) >162/≤162 1,21 (0,68-2,15) 1,62 (0,79-3,33) 0,185 BMI 18,5-24,9/≤18,5 1,2 (0,65-2,23) 1,01 (0,48-2,13) 0,974 >24,9/≤18,5 0,64 (0,26-1,59) 0,56 (0,19-1,64) 0,288 Chiều cao/ BCTC >4,9/ ≤4,9 0,62 (0,39-1) 0,44 (0,25-0,77) 0,005 Số con đủ tháng 1 / 0 0,74 (0,46-1,2) 0,27 (0,13-0,56) <0,001 >1/ 0 0,19 (0,05-0,68) 0,06 (0,01-0,28) <0,001 VMC MLT có/ không 1,66 (1,02-2,7) 7,02 (2,49-19,78) <0,001 Khu vực dịch vụ/ thường 2,21 (1,18-4,15) 1,96 (0,94-4,05) 0,071 Thời gian nhập PS đến SD oxytocin (giờ) ≥9,5/<9,5 1,93 (1,25-2,99) 1,76 (1,05-2,95) 0,032 GĐSK có/không 0,82 (0,53-1,26) 0,7 (0,41-1,19) 0,184 CTC lúc SD oxytocin (cm) >2/ ≤2 0,32 (0,2-0,5) 0,46 (0,25-0,82) 0,009 BISHOP lúc SD oxytocin 6-7/ ≤5 0,37 (0,22-0,61) 0,39 (0,21-0,73) 0,003 >7 / ≤5 0,28 (0,15-0,51) 0,34 (0,15-0,77) 0,01 Vai trò oxytocin tăng co/ KPCD 0,82 (0,52-1,29) 1,14 (0,65-2,01) 0,646 *: Hồi quy đơn biến **: Hồi quy đa biến BÀN LUẬN Đặc điểm dịch tễ và đặc điểm thai kỳ Đa số sản phụ chưa từng sinh con đủ tháng chiếm 65%. Điều này cho thấy việc theo dõi, chỉ định can thiệp trong CD tác động đến tỉ lệ MLT lần đầu, từ đó làm thay đổi tỉ lệ MLT lần hai và MLT chung. Hầu hết các TH không ghi nhận tiền sử MLT, chiếm 90,4%. Thử thách sinh ngả âm đạo/VMC MLT chiếm tỉ lệ nhỏ 9,6%, tương tự nghiên cứu của Hidalgo-Lopezosa P (2016) với 6%(7). VMC là một thai kỳ nguy cơ cao nên theo dõi CD cần được cân nhắc dựa trên nhiều yếu tố, tuy nhiên cũng đã thể hiện sự thay đổi trong quan điểm điều trị ở giai đoạn hiện nay. Trước đây, trong nghiên cứu của tác giả Phước Hiền (2014) tại BVTD, các TH có tiền căn MLT đều không được CĐ sử dụng oxytocin(8). Khoảng 2/3 TH được sử dụng oxytocin trong CD với mục tiêu tăng co và 1/3 còn lại (32,6%) để KPCD. Với tiêu chuẩn chẩn đoán CD trong nghiên cứu của chúng tôi là sản phụ có đủ 3 đặc Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 166 điểm: ≥2 cơn gò kéo dài ≥20 giây trong 10 phút, gây đau; CTC xoá ≥30%; Thành lập đầu ối, ối căng phồng khi TC co(9). Kết cục cuộc sinh Khoảng 45% các thai kỳ trong nghiên cứu kết thúc bằng MLT và khoảng 55% sinh ngả âm đạo, trong đó 43,4% sinh thường, 11,4% sinh giúp. Tỉ lệ MLT này cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Hidalgo-Lopezosa P (2016) (18,6%) và nghiên cứu của Vahratian A (2006) (24,9%)(7,10). Các chỉ định MLT thường gặp là giục sinh thất bại (45,0%), kế đến là bất xứng đầu chậu (18,5%), nhịp tim thai bất thường (NTTBT) hoặc thai suy (21,9%), CD ngừng tiến triển (8,6%). So với nghiên cứu của Vahratian A (2006), tỉ lệ MLT vì “sanh khó” là 78,5%, kế đến là thai suy với 20,5%(10). Phân bố khác biệt này thể hiện sự khác biệt trong phương thức chẩn đoán 2 chỉ định MLT thường gặp “giục sinh thất bại” và “sanh khó”. Thời gian trung vị từ lúc sử dụng (SD) oxytocin đến khi có CĐ mổ là 4,7 giờ, gần bằng với thời gian trung vị từ lúc dùng oxytocin đến sinh âm đạo là 4 giờ. Điều này phù hợp với phác đồ theo dõi chuyển dạ có sử dụng oxytocin của BVTD, cho phép theo dõi tối đa 4-6 giờ. Phân tích các trường hợp GSTB (chiếm 45% chỉ định MLT) ghi nhận thời gian trung bình từ khi bắt đầu sử dụng oxytocin đến khi có chỉ định mổ là 5,5 giờ (1,9-9,1). Có 97,8% các trường hợp GSTB trong nghiên cứu của chúng tôi được sử dụng oxytocin dưới 9,1 giờ, và 50% các trường hợp được chỉ định mổ sau sử dụng oxytocin 5,5 giờ, khoảng thời gian theo dõi này ngắn hơn nhiều so với mốc khuyến cáo 12-18 giờ của ACOG và SMFM(1). Kết quả này phù hợp với phác đồ của BVTD như đã nêu (cho phép theo dõi chuyển dạ có sử dụng oxytocin tối đa 4-6 giờ). Tuy nhiên, có lẽ thời gian sử dụng oxytocin ngắn là nguyên nhân gây nên tỉ lệ MLT trong nghiên cứu của chúng tôi còn cao so với thế giới. Lý do giúp sinh đa số là thai suy (60,5%), phù hợp với đặc điểm sinh lý cuộc CD có cơn gò do oxytocin ngoại sinh vì nó dễ gây ra các biến đổi trên biểu đồ tim thai và giảm oxy thai hơn so với cơn gò tự nhiên. Các yếu tố liên quan mổ lấy thai Tuổi: Nguy cơ MLT tăng có ý nghĩa thống kê ở sản phụ ≥35 tuổi với OR=2,33, p <0,05. Tương tự với kết quả của Ecker JL (2001), ông cũng cho thấy nguy cơ MLT tăng rõ rệt khi tuổi mẹ >35 và đặc biệt khi trên 40 tuổi ở thai kỳ được KPCD(11). Sự khác biệt này có lẽ do những thay đổi chức năng TC theo tuổi đưa đến diễn tiến CD khác nhau. Tỉ lệ chiều cao mẹ/BCTC: Nghiên cứu của chúng tôi tìm ra MLT tập trung chủ yếu ở nhóm có tỉ lệ chiều cao mẹ/BCTC ≤4,9 so với nhóm có tỉ lệ này >4,9 (OR=1,61), p <0,05. Kết quả này gần giống với nghiên cứu của Barnhard và cộng sự (chọn mốc <4, nguy cơ MTL tăng 7 lần với p <0,05)(12). Tiền căn sinh con đủ tháng trước đó liên quan với nguy cơ MLT. So với sản phụ con so, những sản phụ từng sinh 1 con đủ tháng có nguy cơ MLT giảm OR=0,27 (p <0,001). Tương tự, sản phụ từng sinh >1 con đủ tháng giảm đáng kể nguy cơ MLT OR=0,06, p <0,05. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Pedro, tỉ lệ MLT trong CD có sử dụng oxytocin cao hơn ở nhóm con so (36%) so với nhóm con rạ (16%), tuy ông không so sánh sự khác biệt thống kê(7). Khu vực: Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỉ lệ MLT ở các TH đăng ký sinh dịch vụ cao hơn rõ rệt so với nhóm không đăng ký dịch vụ với OR=2,21, p <0,05 trong phân tích đơn biến. Tuy nhiên sau phân tích đa biến OR=1,96, p >0,05. Tiền căn MLT 1 lần tăng nguy cơ MLT lặp lại khi sử dụng oxytocin trong các TH này với OR= 6,67 trong phân tích đa biến, p <0,001. Thời gian từ lúc nhập phòng sinh đến khi sử dụng oxytocin trung bình là 9,6 ± 5,3 giờ. Tỉ lệ MLT ở nhóm dùng oxytocin muộn (≥9,5 tiếng) cao hơn so với nhóm sử dụng oxytocin sớm (<9,5 tiếng) OR≈2, p <0,05. Khác biệt này Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 167 gợi ý rằng “Các trường đã được KPCD bằng Foley, nếu có chỉ định sử dụng oxytocin thì nên được bắt đầu sớm sau nhập phòng sinh”. Có lẽ do prostaglandin tiết ra từ màng rụng và các cấu trúc xung quanh ở SP được đặt Foley giúp tăng thụ thể oxytocin, làm thuận lợi cho quá trình điều chỉnh cơn gò sau đó. Độ mở CTC: Nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng nguy cơ MLT thay đổi theo độ mở CTC ở thời điểm sử dụng oxytocin. Phân tích cho thấy nguy cơ MLT giảm rõ khi sử dụng oxytocin lúc CTC mở ≥3 cm, OR=0,46, p <0,05. Tương tự kết quả của Beckmann M (2007) trong thống kê đa biến các yếu tố nguy cơ liên quan MLT khi KPCD(13). Như vậy, cần xác định chẩn đoán và sự cần thiết của chỉ định CDTK để giảm tỉ lệ MLT khi sử dụng oxytocin trong giai đoạn sớm của CD (CTC <3 cm). Đối với các trường hợp thật sự cần thiết CDTK mà CTC <2 cm (VD: ối vỡ lâu), có thể xem xét sử dụng thêm biện pháp chín mùi CTC như Prostaglandin E2 (chế phẩm Propess hiện có và đang được thử nghiệm ở các SP ối vỡ lâu tại BVTD). BISHOP: Nghiên cứu của chúng tôi tìm thấy phương thức sinh ảnh hưởng bởi điểm số BISHOP lúc sử dụng oxytocin. Tỉ lệ MLT ở nhóm có BISHOP 6-7 điểm thấp hơn so với nhóm có BISHOP ≤5 điểm với OR=0,39, p <0,05, đồng thời tỉ lệ này ở nhóm có BISHOP >7 điểm cũng thấp hơn nhóm ≤5 điểm với OR=0,34, p <0,05. Trước đó, đã có nhiều nghiên cứu ghi nhận sự khác biệt này, Vrouenraets FP (2005) cũng chỉ ra tỉ lệ MLT cao khi KPCD ở nhóm có BISHOP ≤5điểm (OR=2,32)(14). Do đó, chúng tôi đề nghị “Các trường hợp sử dụng biện pháp chín mùi CTC bằng Foley sau lần 1 có BISHOP ≤5 điểm nên được thực hiện Foley lần 2”. Điều này có thể giúp giảm nguy cơ MLT sau khi nhập vào khoa Sanh và sử dụng oxytocin. Điểm mới và tính ứng dụng Nghiên cứu đã xác định các yếu tố tiên lượng MLT ở các sản phụ được CĐ sử dụng oxytocin trong CD tại BV Từ Dũ, giúp tạo tiền đề để đề xuất các biện pháp, quy trình nhằm giảm nguy cơ MLT cho các sản phụ này và giảm tỉ lệ MLT chung. Hạn chế của đề tài Các biến số được thu nhận từ hồ sơ bệnh án như độ mở CTC, độ lọt ngôi thai, điểm số Bishop, là những biến số có thể sai lệch do kết quả khám và nhận định của các bác sĩ khác nhau. Tuy nhiên, các biến số này đa số được phân tích thành hiệu số thay đổi theo thời gian, đồng thời hầu hết các TH đều được theo dõi bởi 01 bác sĩ (nghiên cứu viên, hoặc 1 bác sĩ khoa Sanh) giúp giảm sai lệch. KẾT LUẬN Tỉ lệ mổ lấy thai ở các sản phụ được sử dụng oxytocin để khởi phát chuyển dạ (KPCD) hoặc tăng co còn cao. Cần thêm nghiên cứu về mô hình tiên lượng MLT để hỗ trợ quyết định mổ lấy thai. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Caughey AB, Cahill AG, Guise JM, Rouse DJ (2014). Safe prevention of the primary cesarean delivery. American Journal of Obstetrics and Gynecology, 210(3):179-193. 2. Betran AP, Torloni MR, Zhang J, Ye J, Mikolajczyk R, Deneux- Tharaux C, Oladapo OT, Souza JP, Tunçalp Ö, Vogel JP, Gülmezoglu AM (2015). What is the optimal rate of caesarean section at population level? A systematic review of ecologic studies. Reproductive Health, 12: 57. 3. Huỳnh Thị Thu Thuỷ (2008). Sanh mổ. Thực trạng và các yếu tố liên quan. tudu.com.vn. 4. Robson MS (2001). Classification of Cesarean Sections. Fetal and Maternal Medicine Review, 12(1): 23-39. 5. Lê Quang Thanh, Phạm Thanh Hải (2019). Nghiên cứu về phân loại và chỉ định mổ lấy thai tại Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Từ Dũ. 6. Simon CE, Grobman WA (2005). When has an induction failed?. Obstetrics & Gynecology, 105:705-714. 7. Hidalgo-Lopezosa P, Hidalgo-Maestre M, Rodríguez-Borrego MA (2016). Labor stimulation with oxytocin: effects on obstetrical and neonatal outcomes. Revista Latino-Americana de Enfermagem, 24:e2744. 8. Nguyễn Đăng Phước Điền (2014). Tỉ lệ sinh ngả âm đạo trên sản phụ có vết mổ cũ mổ lấy thai được nhập phòng sinh bệnh viện Từ Dũ. Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh:60-71. 9. Đỗ Thị Ngọc Mỹ, Âu Nhựt Luân (2020). Sinh lý chuyển dạ. Trong: Âu Nhựt Luân, Vương Thị Ngọc Lan, Võ Minh Tuấn, Nguyễn Hồng Hoa, pp.323-328. Bài giảng sản khoa. Nhà xuất bản Y học, Thành phố Hồ Chí Minh. 10. Vahratian A, Hoffman MK, Troendle JF, Zhang J (2006). The impact of parity on course of labor in a contemporary population. Birth, 33(1):7-12. 11. Ecker JL, Chen KT, Cohen AP, Riley LE, Lieberman ES (2001). Increased risk of cesarean delivery with advancing maternal Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 168 age: indications and associated factors in nulliparous women. American Journal of Obstetrics and Gynecology, 185(4):883:887. 12. Barnhard YB, Divon MY, Pollack RN (1997). Efficacy of the maternal height to fundal height ratio in predicting arrest of labor disorders. Journal of Maternal-Fetal and Neonatal Medicine, 6(2):103-107. 13. Beckmann M (2007). Predicting a failed induction. Australian and New Zealand Journal of Obstetrics and Gynaecology, 47(5):394-398. 14. Vrouenraets FP, Roumen FJ, Dehing CJ, van den Akker ES, Aarts MJ, Scheve EJT (2005). BISHOP score and risk of cesarean delivery after induction of labor in nulliparous women. Obstetrics & Gynecology, 105(4):690-697. Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021
File đính kèm:
ti_le_mo_lay_thai_va_yeu_to_lien_quan_tren_cac_truong_hop_sa.pdf

