Tỉ lệ mổ lấy thai và yếu tố liên quan trên các trường hợp sản phụ được chỉ định sử dụng oxytocin tại Bệnh viện Từ Dũ

Đặt vấn đề: Gia tăng tỉ lệ mổ lấy thai (MLT) đang trở thành vấn nạn toàn cầu. Năm 2001 WHO đã đề

xuất sử dụng phân loại MLT theo Robson để giám sát, so sánh tỉ lệ MLT. Tại Việt Nam, chỉ định MLT

thường gặp và can thiệp được là giục sinh thất bại. Do đó, cần thiết xác định tỉ lệ MLT và các yếu tố liên

quan ở nhóm này.

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ MLT trên những sản phụ (SP) có chỉ định sử dụng oxytocin. Xác định các yếu tố

liên quan đến MLT ở nhóm SP này.

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Loạt ca tiến cứu. Lấy mẫu toàn bộ các trường hợp đơn thai, ngôi

đầu, tuổi thai 34-42 tuần, được sử dụng oxytocin để khởi phát chuyển dạ (KPCD) hoặc tăng co tại khoa Sanh

bệnh viện Từ Dũ từ 01/01-30/05/2020.

pdf 8 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Tỉ lệ mổ lấy thai và yếu tố liên quan trên các trường hợp sản phụ được chỉ định sử dụng oxytocin tại Bệnh viện Từ Dũ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỉ lệ mổ lấy thai và yếu tố liên quan trên các trường hợp sản phụ được chỉ định sử dụng oxytocin tại Bệnh viện Từ Dũ

Tỉ lệ mổ lấy thai và yếu tố liên quan trên các trường hợp sản phụ được chỉ định sử dụng oxytocin tại Bệnh viện Từ Dũ
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 161 
TỈ LỆ MỔ LẤY THAI VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN 
TRÊN CÁC TRƯỜNG HỢP SẢN PHỤ ĐƯỢC CHỈ ĐỊNH SỬ DỤNG OXYTOCIN 
TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ 
Võ Thị Huệ1, Lê Quang Thanh2,Phạm Thanh Hải2, Nguyễn Long2, Vương Thị Ngọc Lan1 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Gia tăng tỉ lệ mổ lấy thai (MLT) đang trở thành vấn nạn toàn cầu. Năm 2001 WHO đã đề 
xuất sử dụng phân loại MLT theo Robson để giám sát, so sánh tỉ lệ MLT. Tại Việt Nam, chỉ định MLT 
thường gặp và can thiệp được là giục sinh thất bại. Do đó, cần thiết xác định tỉ lệ MLT và các yếu tố liên 
quan ở nhóm này. 
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ MLT trên những sản phụ (SP) có chỉ định sử dụng oxytocin. Xác định các yếu tố 
liên quan đến MLT ở nhóm SP này. 
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Loạt ca tiến cứu. Lấy mẫu toàn bộ các trường hợp đơn thai, ngôi 
đầu, tuổi thai 34-42 tuần, được sử dụng oxytocin để khởi phát chuyển dạ (KPCD) hoặc tăng co tại khoa Sanh 
bệnh viện Từ Dũ từ 01/01-30/05/2020. 
Kết quả: Chúng tôi thu nhận 334 SP. Tỉ lệ MLT là 45,2%. Yếu tố liên quan đến MLT: tuổi mẹ, vết mổ cũ 
MLT, thời gian bắt đầu dùng oxytocin, chiều cao/bề cao tử cung, số con đủ tháng, độ mở cổ tử cung ban đầu, và 
chỉ số BISHOP ban đầu. 
Kết luận: Tỉ lệ mổ lấy thai ở các sản phụ được sử dụng oxytocin để KPCD hoặc tăng co còn cao. Cần thêm 
nghiên cứu về mô hình tiên lượng MLT để hỗ trợ quyết định mổ lấy thai. 
Từ khoá: mổ lấy thai, oxytocin 
ABSTRACT 
CAESAREAN SECTION RATE AND ASSOCIATED FACTORS IN PREGNANT WOMEN WHO HAD 
LABOR AUGMENTED BY USING OXYTOCIN AT TU DU HOSPITAL 
Vo Thi Hue, Le Quang Thanh, Pham Thanh Hai, Nguyen Long, Vuong Thi Ngoc Lan 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 161 - 168 
Background: Increase of caesarean section (CS) is a global issue. In 2001, WHO proposes the Robson 
classification system as a standard for monitoring and comparing caesarean section rates. In Viet Nam, the most 
common and changeable indication for caesarean section is failed labor augmentation. 
Objectives: To determine caesarean section rate and its associated factors in pregnant women who had labor 
augmented by using oxytocin at Tu Du hospital. 
Method: Case series. The study reported on a series of 334 pregnant women who had a singleton gestation, 
vertex, 34-42 weeks of gestation, had labor augmented by using oxytocin at Delivery department of Tu Du 
hospita from 1st Jan to 30th May, 2020. 
Results: A total of 334 pregnant women were recruited. The CS rate was 45.2%. The associated factors were 
maternal age, previous CS, duration of staying in the labor ward, maternal height /uterus height ratio, had 
delivered 1 or more than 1 term pregnancy, cervical dilatation at oxytocin start, and BISHOP at oxytocin start. 
1Bộ môn Sản, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2Bệnh viện Từ Dũ 
Tác giả liên lạc: BS. Võ Thị Huệ ĐT: 0905217794 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 162 
Conclusion: In pregnant women who had labor augmented by using oxytocin, caesarean section rate is 
high. The predictive model for CS after labor augmentation using oxytocin is required to assist in indicating 
for cesarean section. 
Keywords: cesarean section, oxytocin 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Tỉ lệ mổ lấy thai (MLT) ngày càng tăng và 
trở thành vấn nạn trên toàn thế giới. Nhiều 
nghiên cứu ghi nhận MLT làm tăng bệnh suất, 
tử suất cho mẹ và thai đặc biệt khi các chỉ định 
(CĐ) y khoa không phù hợp(1). Do đó, tổ chức y 
tế thế giới (WHO) khuyến cáo tỉ lệ MLT không 
nên vượt quá 15% ở các quốc gia và vùng lãnh 
thổ, nhưng trong những thập kỷ gần đây tỉ lệ 
này liên tiếp tăng cao trong các thống kê sản 
khoa trên toàn cầu nói chung và ở Việt Nam nói 
riêng(2). Năm 2007-2008, tỉ lệ MLT ở các bệnh 
viện (BV) phụ sản lớn tại Việt Nam như BV Phụ 
sản Trung ương là 35-40%, BV Từ Dũ (BVTD) 
48%, BV Hùng Vương 20-30% và các BV tỉnh 20-
35%(3). Chính vì vậy, WHO đã đề xuất sử dụng 
bảng phân loại MLT của Robson MS (2001) để 
phân nhóm sản phụ (SP), đánh giá những bối 
cảnh can thiệp khác nhau ở các quốc gia, từ đó 
đưa ra phương pháp can thiệp hiệu quả nhằm 
đảm bảo MLT được chỉ định khi cần thiết(4). Áp 
dụng bảng phân loại này, tác giả Phạm Thanh 
Hải thực hiện nghiên cứu trên 5.287 trường hợp 
(TH) sinh trong tháng 06 năm 2017 tại BVTD 
nhận thấy tỉ lệ MLT chung của toàn viện là 
42,6%. Trong đó, tỉ lệ MLT ở nhóm 1 là 19,7%, 
cao hơn so với mục tiêu đề ra của WHO với chỉ 
định MLT thường gặp nhất là “Giục sinh thất 
bại: GSTB” (trong toàn bộ mẫu và trong Robson 
nhóm 1, 2 và 3)(5). Từng bước hành động để can 
thiệp nhằm giảm tỉ lệ MLT tại BVTD, chúng tôi 
đã tiến hành nghiên cứu “Tỉ lệ mổ lấy thai và 
yếu tố liên quan trên các trường hợp sản phụ 
được chỉ định sử dụng oxytocin tại bệnh viện Từ 
Dũ”, để trả lời câu hỏi nghiên cứu: “Tỉ lệ mổ lấy 
thai trên các trường hợp sản phụ sử dụng 
oxytocin tại BVTD là bao nhiêu và các yếu tố nào 
liên quan đến tỉ lệ này?”, với mục tiêu tìm ra các 
yếu tố nguy cơ cao dẫn đến MLT, nhằm xây 
dựng mô hình tiên lượng nguy cơ MLT trên 
nhóm sản phụ này, từ đó đề xuất những can 
thiệp chuyên môn giúp giảm tỉ lệ MLT. 
Mục tiêu 
Xác định tỉ lệ mổ lấy thai trên các trường hợp 
sản phụ được chỉ định sử dụng oxytocin tại 
BVTD. 
Xác định các yếu tố liên quan đến mổ lấy 
thai trên các trường hợp sản phụ được chỉ định 
sử dụng oxytocin tại BVTD. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Trong giờ hành chính từ 01/01-30/05/2020 
chúng tôi theo dõi ngẫu nhiên các trường hợp 
sản phụ mang đơn thai, ngôi đầu, tuổi thai 34-42 
tuần, được sử dụng oxytocin để khởi phát 
chuyển dạ (KPCD) hoặc tăng co tại khoa Sanh 
BVTD. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Chúng tôi loại trừ các trường hợp: có chỉ 
định mổ lấy thai, có rối loạn tâm thần, dị tật bẩm 
sinh đường sinh dục, bệnh lý ác tính, thai chết 
trong tử cung. 
Phương pháp nghiên cứu 
Cỡ mẫu 
Với mục tiêu chính là xác định tỉ lệ mổ lấy 
thai trên các trường hợp sản phụ được chỉ định 
sử dụng oxytocin tại BVTD, chúng tôi áp dụng 
công thức xác định một tỉ lệ, với Z1-α /2=1,96, 
d=0,05, p=0,26 theo Simon CE(6), dự trù mất mẫu 
10%. Vậy cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu là 
328 trường hợp. 
Thực tế trong thời gian từ 01/01/2019 đến 
30/05/2019 chúng tôi thu nhận 334 trường hợp 
nhập khoa Sanh, BVTD thoả tiêu chuẩn chọn 
mẫu và đồng ý tham gia nghiên cứu. Qua theo 
dõi chuyển dạ ghi nhận 183 trường hợp sinh 
ngả âm đạo thành công và 151 trường hợp mổ 
lấy thai. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 163 
Phương pháp tiến hành 
Bước 1: Thu nhận vào nghiên cứu tại khoa Sanh 
Tại khoa Sanh, thứ 2, thứ 4 và thứ 6 hàng 
tuần, nghiên cứu viên tiến hành sàng lọc đối 
tượng tham gia nghiên cứu thỏa tiêu chuẩn chọn 
mẫu. Đó là các SP được bác sĩ cột I khám đánh 
giá và CĐ sử dụng oxytocin điều chỉnh cơn gò. 
Sau đó, giải thích tiến trình nghiên cứu cho 
sản phụ. Nếu SP đồng thuận tham gia nghiên 
cứu thì ký vào bảng cam kết đồng ý tham gia 
nghiên cứu. SP có thể từ chối hoặc ngưng không 
tham gia nghiên cứu ở bất cứ thời điểm nào mà 
không ảnh hưởng hay bị phân biệt đối xử trong 
quá trình theo dõi, điều trị tại bệnh viện. 
Gắn bộ thu thập số liệu vào hồ sơ bệnh án 
các đối tượng nghiên cứu. 
Bước 2: Theo dõi diễn tiến chuyển dạ và kết cục sau 
sinh tại khoa Sanh 
Nghiên cứu viên phỏng vấn, khám để thu 
nhận thông tin nền và tại thời điểm bắt đầu sử 
dụng oxytocin của các đối tượng tham gia 
nghiên cứu. SP được theo dõi theo kỹ thuật điều 
dưỡng và phác đồ điều trị của BVTD bởi bác sĩ 
cột 3 trở lên và nữ hộ sinh theo hướng dẫn của 
bệnh viện: 
- Bác sĩ khoa Sanh/nghiên cứu viên khám, 
đánh giá CD mỗi 2 giờ trong 4 giờ đầu hoặc gần 
hơn nếu có dấu hiệu đe doạ sức khoẻ mẹ hoặc 
thai (VD: gò cường tính, biểu đồ tim thai nghi 
ngờ, SP than đau bụng nhiều, có dấu hiệu nặng 
tiền sản giật (TSG), than khó thở, đau ngực,). 
- Nữ hộ sinh theo dõi sinh hiệu, tim thai, cơn 
gò trên monitor, tình trạng ối, sự xoá mở CTC và 
sự tiến triển của ngôi thai. 
- Bơm tiêm điện là cách sử dụng tốt nhất: 
pha 49 ml Glucose 5% với Oxytocin 5 UI/ml khởi 
đầu với 0,3-1,2 ml/giờ (0,5 – 2 mUI/phút) – phác 
đồ liều thấp hoặc truyền tĩnh mạch dung dịch 
Glucose 5% 500 mL pha Oxytocin 5UI với tốc độ 
VIII giọt/phút (4 mUI/phút) – phác đồ liều cao. 
- Theo dõi sát CD bằng monitor sản khoa 
(theo dõi tim thai và cơn gò TC): 
+ Ghi diễn tiến CD trên biểu đồ CD. 
+ Theo dõi 20-30 phút, nếu cơn gò TC chưa 
đạt 3 cơn/10 phút (KPCD) hoặc chưa đạt đủ số 
cơn gò theo độ mở CTC thì tăng VIII giọt/phút (4 
mUI/ phút) để đạt tần số cơn gò phù hợp. Liều 
tối đa là XL giọt/phút (20 mUI/ phút). 
+ Khám ngoài mỗi 15 phút/lần đều đặn theo 
dõi cơn gò tử cung, nhịp tim thai, độ lọt của ngôi 
mỗi giờ. 
+ Khi đạt số cơn gò phù hợp CD và độ mở cổ 
tử cung (CTC), đánh giá sự tiến triển của CD 
bằng độ mở CTC và ngôi thai theo qui định 
Hướng dẫn Quốc Gia. 
+ Khi phát hiện CD ngưng tiến (theo dõi tối 
đa 2 giờ): 
* Cân nhắc việc tiếp tục sử dụng Oxytocin 
liều cao hơn, hoặc 
* Phối hợp thuốc mềm CTC, hoặc 
* Mổ lấy thai. 
Nghiên cứu theo dõi chuyển dạ đến khi SP 
sanh ngả âm đạo hoặc được chỉ định MLT. 
Nghiên cứu viên tiếp tục theo dõi ghi nhận tình 
trạng lượng máu mất của mẹ sau sổ nhau và sau 
may phục hồi tầng sinh môn (TSM) (trong sanh 
ngã âm đạo), sau may phục hồi cơ tử cung và lấy 
máu âm đạo (trong mổ lấy thai). 
Bước 3: Kết thúc nghiên cứu 
Nghiên cứu viên tổng hợp và hoàn chỉnh các 
phiếu thu thập của mỗi thai phụ; tình trạng và 
APGAR trẻ sau sinh; kiểm tra lại những số liệu 
thiếu bằng cách đối chiếu với hồ sơ bệnh án hay 
phỏng vấn người bệnh, phân tích xử lý số liệu và 
viết bài báo khoa học. 
Phân tích thống kê 
Phân tích thống kê được thực hiện bằng 
phần mềm SPSS 20.0. 
Thống kê mô tả được tính toán cho tất cả các 
biến được thu nhận trong nghiên cứu này. 
Ngưỡng cắt các biến định lượng được trích 
theo y văn hoặc tính ngưỡng cắt theo chỉ số 
Youden index (độ nhạy + độ đặc hiệu -1) (cho 
các biến chiều cao mẹ, tỉ số chiều cao mẹ/BCTC, 
thời gian nhập phòng sinh đến tăng co, thời gian 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 164 
đạt cơn gò mong muốn). Phân tích gồm 2 bước: 
bước 1 mô tả và phân tích, bước 2 phân tích hồi 
quy Logistic đa biến nhằm kiểm soát, loại bỏ các 
yếu tố gây nhiễu và tính toán nguy cơ tương đối. 
Các phép toán được tính ở khoảng tin cậy 95%, 
kết quả có ý nghĩa thống kê nếu p <0,05. 
Định nghĩa biến số kết cục chính 
Bảng 1: Các biến số nghiên cứu 
Tên biến số Loại biến số Giá trị Cách thu thập 
1. Phương thức sinh Danh đinh 
1. Sinh thường 
2. Sinh Forceps 
3. Sinh giác hút 
4. Mổ lấy thai 
Theo thực tế cách sinh của BN 
2. Lý do mổ lấy thai Danh định Theo ICD Theo chẩn đoán trong biên bản hộ chẩn phẫu thuật 
3. Tuổi mẹ Liên tục Tính bằng năm Tính bằng số năm lấy mẫu - năm sinh dương lịch 
4. Chiều cao Liên tục Tính bằng mét Đo chiều cao của người tham gia nghiên cứu 
5. Số lần mang thai đủ tháng Định lượng Lần Phỏng vấn SP số lần sinh con 37 tuần 
6. Vết mổ cũ MLT Nhị giá 
1. Có 
2. Không 
Phỏng vấn SP 
7. Thời gian từ nhập PS đến khi sử 
dụng oxytocin 
Liên tục Giờ 
Thời điểm bắt đầu sử dụng oxytocin – thời điểm nhập 
PS 
8. CTC lúc sử dụng oxytocin Liên tục cm 
Dực theo kết quả khám của nghiên cứu viên hoặc BS 
điều trị tại khoa 
9. Điểm số Bishop lúc sử dụng 
oxytocin 
Liên tục Điểm 
Dựa theo kết quả khám của nghiên cứu viên hoặc BS 
điều trị tại khoa 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 566/ĐHYD-HĐĐĐ, 
ngày 28/10/2019. 
KẾT QUẢ 
Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 
29,6 ± 5,2 tuổi, trong đó trẻ nhất là 15 tuổi và lớn 
tuổi nhất là 47. Khoảng 83% phụ nữ sinh con <35 
tuổi (279/334 TH). Có 302/334 đối tượng nghiên 
cứu không có tiền căn mổ lấy thai trước đây 
(chiếm 90,4%). 
Bảng2: Đặc điểm thai kỳ này (n = 334) 
Đặc điểm Tổng Tỉ lệ (%) 
Tuổi thai lúc sinh (tuần) 39,0 ± 1,4 tuần 
Vào CD 
CD tự nhiên 165 49,4 
KPCD bằng Foley + Oxytocin 54 16,2 
KPCD bằng Oxytocin 56 16,8 
KPCD bằng Foley 59 17,7 
Khoảng 2/3 sản phụ nhập viện khi thai 37-40 
tuần, chiếm 65% (217/334), khoảng 27% nhập 
viện với CĐ thai quá ngày dự sinh (91/334) và 
gần 8% nhập viện vì các vấn đề xảy ra ở thai non 
tháng <37 tuần. Khoảng 1/2 thai kỳ vào CD tự 
nhiên (165/334), còn lại được KPCD bằng Foley 
hoặc Oxytocin hay kết hợp cả hai với tỷ lệ gần 
bằng nhau, lần lượt là 17,7%, 16,8% và 16,2%. 
Các trường hợp được khởi phát chuyển dạ 
(KPCD) chủ yếu vì ối vỡ lâu (26%) và thai quá 
ngày dự sinh (21,9%). Các CĐ khác như tiền sản 
giật, thai FGR, đái tháo đường dao động từ 10,7-
13,6%. Nghiên cứu chỉ ghi nhận 1 trường hợp 
không rõ chỉ định KPCD. 
Bảng 3: Kết cục cuộc sinh ở mẹ 
Đặc điểm 
Số 
lượng 
Tỉ lệ (%) 
Phương pháp sinh (n=334) 
Sinh thường 145 43,4 
Sanh giúp 38 11,4 
Mổ lấy thai 151 45,2 
Lý do mổ lấy thai (n=151) 
GSTB 68 45,0 
Bất xứng đầu chậu 28 18,5 
NTTBT/thai suy 33 21,9 
CD ngưng tiến 13 8,6 
Khác 9 5,9 
TG từ lúc SD oxytocin đến có CĐ mổ 4,8 ± 4,3 giờ 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 165 
Đặc điểm 
Số 
lượng 
Tỉ lệ (%) 
(n=151) 4,7 (3,3-6,2)* giờ 
TG từ lúc dùng oxytocin đến sinh ngả 
âm đạo (n=183) 
4 (2,3-6,1)*giờ 
TG từ lúc SD oxytocin đến có CĐ mổ vì 
GSTB (n=68) 
5,5 ± 3,6 giờ 
Biến chứng mẹ 
Nhiễm trùng 1 0,3 
Vỡ tử cung 1 0,3 
Không 332 99,4 
*: trung vị (khoảng tứ phân vị) 
GSTB: Giục sinh thất bại GĐ: Giai đoạn 
NTTBT: Nhịp tim thai bất thường 
TG: Thời gian CĐ: Chỉ định 
Sản phụ ≥35 tuổi có nguy cơ MLT cao gấp 2,3 
lần nhóm 4,9 có 
nguy cơ MLT giảm 55% so với nhóm có tỉ số này 
≤4,9. SP từng sinh 1 con đủ tháng giảm nguy cơ 
MLT 69% và >1 con đủ tháng giảm 93%. Thời 
gian nhập phòng sanh đến khi sử dụng oxytocin 
dài (≥9,5 giờ) tăng nguy cơ MLT 1,7 lần. Nguy cơ 
MLT giảm khoảng 60-70% ở nhóm CTC >2 cm so 
với nhóm CTC ≤2 cm, nhóm có BISHOP 6-7 
điểm so với ≤5 điểm và nhóm có BISHOP >7 
điểm so với ≤5 điểm. 
Bảng 3: Kết cục cuộc sinh ở con (n = 334) 
Đặc điểm Tổng Tỉ lệ (%) 
APGAR 5 phút 
0-3 1 0,3 
4-6 1 0,3 
7-10 332 99,4 
Nhập Khoa Sơ Sinh 
Không 220 65,9 
Sơ sinh 2 88 26,3 
Sơ sinh 1 26 7,8 
Bảng 4: Yếu tố liên quan đến MLT 
Yếu tố Đơn vị OR thô* OR hiệu chỉnh** P** 
Tuổi ≥35/ <35 1,14 (0,85-1,52) 2,33 (1,09-4,96) 0,028 
Chiều cao(cm) >162/≤162 1,21 (0,68-2,15) 1,62 (0,79-3,33) 0,185 
BMI 
18,5-24,9/≤18,5 1,2 (0,65-2,23) 1,01 (0,48-2,13) 0,974 
>24,9/≤18,5 0,64 (0,26-1,59) 0,56 (0,19-1,64) 0,288 
Chiều cao/ BCTC >4,9/ ≤4,9 0,62 (0,39-1) 0,44 (0,25-0,77) 0,005 
Số con đủ tháng 
1 / 0 0,74 (0,46-1,2) 0,27 (0,13-0,56) <0,001 
>1/ 0 0,19 (0,05-0,68) 0,06 (0,01-0,28) <0,001 
VMC MLT có/ không 1,66 (1,02-2,7) 7,02 (2,49-19,78) <0,001 
Khu vực dịch vụ/ thường 2,21 (1,18-4,15) 1,96 (0,94-4,05) 0,071 
Thời gian nhập PS đến SD oxytocin (giờ) ≥9,5/<9,5 1,93 (1,25-2,99) 1,76 (1,05-2,95) 0,032 
GĐSK có/không 0,82 (0,53-1,26) 0,7 (0,41-1,19) 0,184 
CTC lúc SD oxytocin (cm) >2/ ≤2 0,32 (0,2-0,5) 0,46 (0,25-0,82) 0,009 
BISHOP lúc SD oxytocin 
6-7/ ≤5 0,37 (0,22-0,61) 0,39 (0,21-0,73) 0,003 
>7 / ≤5 0,28 (0,15-0,51) 0,34 (0,15-0,77) 0,01 
Vai trò oxytocin tăng co/ KPCD 0,82 (0,52-1,29) 1,14 (0,65-2,01) 0,646 
*: Hồi quy đơn biến **: Hồi quy đa biến 
BÀN LUẬN 
Đặc điểm dịch tễ và đặc điểm thai kỳ 
Đa số sản phụ chưa từng sinh con đủ tháng 
chiếm 65%. Điều này cho thấy việc theo dõi, chỉ 
định can thiệp trong CD tác động đến tỉ lệ MLT 
lần đầu, từ đó làm thay đổi tỉ lệ MLT lần hai và 
MLT chung. 
Hầu hết các TH không ghi nhận tiền sử 
MLT, chiếm 90,4%. Thử thách sinh ngả âm 
đạo/VMC MLT chiếm tỉ lệ nhỏ 9,6%, tương tự 
nghiên cứu của Hidalgo-Lopezosa P (2016) với 
6%(7). VMC là một thai kỳ nguy cơ cao nên theo 
dõi CD cần được cân nhắc dựa trên nhiều yếu tố, 
tuy nhiên cũng đã thể hiện sự thay đổi trong 
quan điểm điều trị ở giai đoạn hiện nay. Trước 
đây, trong nghiên cứu của tác giả Phước Hiền 
(2014) tại BVTD, các TH có tiền căn MLT đều 
không được CĐ sử dụng oxytocin(8). 
Khoảng 2/3 TH được sử dụng oxytocin trong 
CD với mục tiêu tăng co và 1/3 còn lại (32,6%) để 
KPCD. Với tiêu chuẩn chẩn đoán CD trong 
nghiên cứu của chúng tôi là sản phụ có đủ 3 đặc 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 166 
điểm: ≥2 cơn gò kéo dài ≥20 giây trong 10 phút, 
gây đau; CTC xoá ≥30%; Thành lập đầu ối, ối 
căng phồng khi TC co(9). 
Kết cục cuộc sinh 
Khoảng 45% các thai kỳ trong nghiên cứu 
kết thúc bằng MLT và khoảng 55% sinh ngả âm 
đạo, trong đó 43,4% sinh thường, 11,4% sinh 
giúp. Tỉ lệ MLT này cao hơn nhiều so với nghiên 
cứu của Hidalgo-Lopezosa P (2016) (18,6%) và 
nghiên cứu của Vahratian A (2006) (24,9%)(7,10). 
Các chỉ định MLT thường gặp là giục sinh thất 
bại (45,0%), kế đến là bất xứng đầu chậu (18,5%), 
nhịp tim thai bất thường (NTTBT) hoặc thai suy 
(21,9%), CD ngừng tiến triển (8,6%). So với 
nghiên cứu của Vahratian A (2006), tỉ lệ MLT vì 
“sanh khó” là 78,5%, kế đến là thai suy với 
20,5%(10). Phân bố khác biệt này thể hiện sự khác 
biệt trong phương thức chẩn đoán 2 chỉ định 
MLT thường gặp “giục sinh thất bại” và “sanh 
khó”. Thời gian trung vị từ lúc sử dụng (SD) 
oxytocin đến khi có CĐ mổ là 4,7 giờ, gần bằng 
với thời gian trung vị từ lúc dùng oxytocin đến 
sinh âm đạo là 4 giờ. Điều này phù hợp với phác 
đồ theo dõi chuyển dạ có sử dụng oxytocin của 
BVTD, cho phép theo dõi tối đa 4-6 giờ. 
Phân tích các trường hợp GSTB (chiếm 45% 
chỉ định MLT) ghi nhận thời gian trung bình từ 
khi bắt đầu sử dụng oxytocin đến khi có chỉ định 
mổ là 5,5 giờ (1,9-9,1). Có 97,8% các trường hợp 
GSTB trong nghiên cứu của chúng tôi được sử 
dụng oxytocin dưới 9,1 giờ, và 50% các trường 
hợp được chỉ định mổ sau sử dụng oxytocin 5,5 
giờ, khoảng thời gian theo dõi này ngắn hơn 
nhiều so với mốc khuyến cáo 12-18 giờ của 
ACOG và SMFM(1). Kết quả này phù hợp với 
phác đồ của BVTD như đã nêu (cho phép theo 
dõi chuyển dạ có sử dụng oxytocin tối đa 4-6 
giờ). Tuy nhiên, có lẽ thời gian sử dụng oxytocin 
ngắn là nguyên nhân gây nên tỉ lệ MLT trong 
nghiên cứu của chúng tôi còn cao so với thế giới. 
Lý do giúp sinh đa số là thai suy (60,5%), 
phù hợp với đặc điểm sinh lý cuộc CD có cơn gò 
do oxytocin ngoại sinh vì nó dễ gây ra các biến 
đổi trên biểu đồ tim thai và giảm oxy thai hơn so 
với cơn gò tự nhiên. 
Các yếu tố liên quan mổ lấy thai 
Tuổi: Nguy cơ MLT tăng có ý nghĩa thống 
kê ở sản phụ ≥35 tuổi với OR=2,33, p <0,05. 
Tương tự với kết quả của Ecker JL (2001), ông 
cũng cho thấy nguy cơ MLT tăng rõ rệt khi 
tuổi mẹ >35 và đặc biệt khi trên 40 tuổi ở thai 
kỳ được KPCD(11). Sự khác biệt này có lẽ do 
những thay đổi chức năng TC theo tuổi đưa 
đến diễn tiến CD khác nhau. 
Tỉ lệ chiều cao mẹ/BCTC: Nghiên cứu của 
chúng tôi tìm ra MLT tập trung chủ yếu ở 
nhóm có tỉ lệ chiều cao mẹ/BCTC ≤4,9 so với 
nhóm có tỉ lệ này >4,9 (OR=1,61), p <0,05. Kết 
quả này gần giống với nghiên cứu của 
Barnhard và cộng sự (chọn mốc <4, nguy cơ 
MTL tăng 7 lần với p <0,05)(12). 
Tiền căn sinh con đủ tháng trước đó liên 
quan với nguy cơ MLT. So với sản phụ con so, 
những sản phụ từng sinh 1 con đủ tháng có 
nguy cơ MLT giảm OR=0,27 (p <0,001). Tương 
tự, sản phụ từng sinh >1 con đủ tháng giảm 
đáng kể nguy cơ MLT OR=0,06, p <0,05. Kết 
quả này phù hợp với nghiên cứu của Pedro, tỉ 
lệ MLT trong CD có sử dụng oxytocin cao hơn 
ở nhóm con so (36%) so với nhóm con rạ 
(16%), tuy ông không so sánh sự khác biệt 
thống kê(7). 
Khu vực: Nghiên cứu của chúng tôi ghi 
nhận tỉ lệ MLT ở các TH đăng ký sinh dịch vụ 
cao hơn rõ rệt so với nhóm không đăng ký 
dịch vụ với OR=2,21, p <0,05 trong phân tích 
đơn biến. Tuy nhiên sau phân tích đa biến 
OR=1,96, p >0,05. 
Tiền căn MLT 1 lần tăng nguy cơ MLT lặp 
lại khi sử dụng oxytocin trong các TH này với 
OR= 6,67 trong phân tích đa biến, p <0,001. 
Thời gian từ lúc nhập phòng sinh đến khi 
sử dụng oxytocin trung bình là 9,6 ± 5,3 giờ. Tỉ 
lệ MLT ở nhóm dùng oxytocin muộn (≥9,5 
tiếng) cao hơn so với nhóm sử dụng oxytocin 
sớm (<9,5 tiếng) OR≈2, p <0,05. Khác biệt này 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 167 
gợi ý rằng “Các trường đã được KPCD bằng 
Foley, nếu có chỉ định sử dụng oxytocin thì 
nên được bắt đầu sớm sau nhập phòng sinh”. 
Có lẽ do prostaglandin tiết ra từ màng rụng và 
các cấu trúc xung quanh ở SP được đặt Foley 
giúp tăng thụ thể oxytocin, làm thuận lợi cho 
quá trình điều chỉnh cơn gò sau đó. 
Độ mở CTC: Nghiên cứu của chúng tôi thấy 
rằng nguy cơ MLT thay đổi theo độ mở CTC ở 
thời điểm sử dụng oxytocin. Phân tích cho thấy 
nguy cơ MLT giảm rõ khi sử dụng oxytocin lúc 
CTC mở ≥3 cm, OR=0,46, p <0,05. Tương tự kết 
quả của Beckmann M (2007) trong thống kê đa 
biến các yếu tố nguy cơ liên quan MLT khi 
KPCD(13). Như vậy, cần xác định chẩn đoán và 
sự cần thiết của chỉ định CDTK để giảm tỉ lệ 
MLT khi sử dụng oxytocin trong giai đoạn sớm 
của CD (CTC <3 cm). Đối với các trường hợp 
thật sự cần thiết CDTK mà CTC <2 cm (VD: ối vỡ 
lâu), có thể xem xét sử dụng thêm biện pháp 
chín mùi CTC như Prostaglandin E2 (chế phẩm 
Propess hiện có và đang được thử nghiệm ở các 
SP ối vỡ lâu tại BVTD). 
BISHOP: Nghiên cứu của chúng tôi tìm thấy 
phương thức sinh ảnh hưởng bởi điểm số 
BISHOP lúc sử dụng oxytocin. Tỉ lệ MLT ở 
nhóm có BISHOP 6-7 điểm thấp hơn so với 
nhóm có BISHOP ≤5 điểm với OR=0,39, p <0,05, 
đồng thời tỉ lệ này ở nhóm có BISHOP >7 điểm 
cũng thấp hơn nhóm ≤5 điểm với OR=0,34, p 
<0,05. Trước đó, đã có nhiều nghiên cứu ghi 
nhận sự khác biệt này, Vrouenraets FP (2005) 
cũng chỉ ra tỉ lệ MLT cao khi KPCD ở nhóm có 
BISHOP ≤5điểm (OR=2,32)(14). Do đó, chúng tôi 
đề nghị “Các trường hợp sử dụng biện pháp 
chín mùi CTC bằng Foley sau lần 1 có BISHOP 
≤5 điểm nên được thực hiện Foley lần 2”. Điều 
này có thể giúp giảm nguy cơ MLT sau khi nhập 
vào khoa Sanh và sử dụng oxytocin. 
Điểm mới và tính ứng dụng 
Nghiên cứu đã xác định các yếu tố tiên 
lượng MLT ở các sản phụ được CĐ sử dụng 
oxytocin trong CD tại BV Từ Dũ, giúp tạo tiền đề 
để đề xuất các biện pháp, quy trình nhằm giảm 
nguy cơ MLT cho các sản phụ này và giảm tỉ lệ 
MLT chung. 
Hạn chế của đề tài 
Các biến số được thu nhận từ hồ sơ bệnh án 
như độ mở CTC, độ lọt ngôi thai, điểm số 
Bishop, là những biến số có thể sai lệch do kết 
quả khám và nhận định của các bác sĩ khác 
nhau. Tuy nhiên, các biến số này đa số được 
phân tích thành hiệu số thay đổi theo thời gian, 
đồng thời hầu hết các TH đều được theo dõi bởi 
01 bác sĩ (nghiên cứu viên, hoặc 1 bác sĩ khoa 
Sanh) giúp giảm sai lệch. 
KẾT LUẬN 
Tỉ lệ mổ lấy thai ở các sản phụ được sử dụng 
oxytocin để khởi phát chuyển dạ (KPCD) hoặc 
tăng co còn cao. Cần thêm nghiên cứu về mô 
hình tiên lượng MLT để hỗ trợ quyết định mổ 
lấy thai. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Caughey AB, Cahill AG, Guise JM, Rouse DJ (2014). Safe 
prevention of the primary cesarean delivery. American Journal of 
Obstetrics and Gynecology, 210(3):179-193. 
2. Betran AP, Torloni MR, Zhang J, Ye J, Mikolajczyk R, Deneux-
Tharaux C, Oladapo OT, Souza JP, Tunçalp Ö, Vogel JP, 
Gülmezoglu AM (2015). What is the optimal rate of caesarean 
section at population level? A systematic review of ecologic 
studies. Reproductive Health, 12: 57. 
3. Huỳnh Thị Thu Thuỷ (2008). Sanh mổ. Thực trạng và các yếu tố 
liên quan. tudu.com.vn. 
4. Robson MS (2001). Classification of Cesarean Sections. Fetal and 
Maternal Medicine Review, 12(1): 23-39. 
5. Lê Quang Thanh, Phạm Thanh Hải (2019). Nghiên cứu về phân 
loại và chỉ định mổ lấy thai tại Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Từ 
Dũ. 
6. Simon CE, Grobman WA (2005). When has an induction failed?. 
Obstetrics & Gynecology, 105:705-714. 
7. Hidalgo-Lopezosa P, Hidalgo-Maestre M, Rodríguez-Borrego 
MA (2016). Labor stimulation with oxytocin: effects on 
obstetrical and neonatal outcomes. Revista Latino-Americana de 
Enfermagem, 24:e2744. 
8. Nguyễn Đăng Phước Điền (2014). Tỉ lệ sinh ngả âm đạo trên sản 
phụ có vết mổ cũ mổ lấy thai được nhập phòng sinh bệnh viện 
Từ Dũ. Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh:60-71. 
9. Đỗ Thị Ngọc Mỹ, Âu Nhựt Luân (2020). Sinh lý chuyển dạ. 
Trong: Âu Nhựt Luân, Vương Thị Ngọc Lan, Võ Minh Tuấn, 
Nguyễn Hồng Hoa, pp.323-328. Bài giảng sản khoa. Nhà xuất 
bản Y học, Thành phố Hồ Chí Minh. 
10. Vahratian A, Hoffman MK, Troendle JF, Zhang J (2006). The 
impact of parity on course of labor in a contemporary 
population. Birth, 33(1):7-12. 
11. Ecker JL, Chen KT, Cohen AP, Riley LE, Lieberman ES (2001). 
Increased risk of cesarean delivery with advancing maternal 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 168 
age: indications and associated factors in nulliparous women. 
American Journal of Obstetrics and Gynecology, 185(4):883:887. 
12. Barnhard YB, Divon MY, Pollack RN (1997). Efficacy of the 
maternal height to fundal height ratio in predicting arrest of 
labor disorders. Journal of Maternal-Fetal and Neonatal Medicine, 
6(2):103-107. 
13. Beckmann M (2007). Predicting a failed induction. Australian and 
New Zealand Journal of Obstetrics and Gynaecology, 47(5):394-398. 
14. Vrouenraets FP, Roumen FJ, Dehing CJ, van den Akker ES, 
Aarts MJ, Scheve EJT (2005). BISHOP score and risk of cesarean 
delivery after induction of labor in nulliparous women. 
Obstetrics & Gynecology, 105(4):690-697. 
Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfti_le_mo_lay_thai_va_yeu_to_lien_quan_tren_cac_truong_hop_sa.pdf