Tỉ lệ hiện mắc stress trên nhân viên y tế đang công tác tại các trung tâm IVF
Đặt vấn đề: Điều kiện làm việc căng thẳng có thể ảnh hưởng xấu
lên sức khoẻ và tinh thần của nhân viên y tế cũng như kết quả điều trị
bệnh nhân hiếm muộn. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá tỉ lệ hiện mắc
và bản chất của các yếu tố stress trên nhân viên y tế đang công tác tại
các trung tâm IVF.
Phương pháp: Điều tra cắt ngang. Tất cả nhân viên y tế tại 7 đơn vị
IVF miền Nam Việt Nam được mời tham dự. Thông tin sẽ được thu thập
trực tiếp thông qua bảng thu thập chỉ số stress nghề nghiệp (OSI).
Kết quả: Có 35 y tá, 19 bác sỹ và 51 nhân viên phòng lab tham gia.
Trong đó, nhóm y tá có điểm số stress nghề nghiệp cao nhất. Điểm số
này có mối liên hệ chặt chẽ với “yêu cầu công việc cao” (p<0.01).>0.01).>
vài chỉ số thống kê (như mức thu nhập, số giờ làm việc kéo dài, không
gian làm việc riêng) cho thấy nguồn gốc gây nên stress nghề nghiệp.
Kết luận: Trong nhóm nhân viên y tế tham gia khảo sát, chỉ số OSI
đặc biệt cao nhất ở nhóm y tá trong số 3 nhóm tham gia. Nghiên cứu
cũng cho thấy khía cạnh “yêu cầu công việc cao” khi có mối tương quan
chặt chẽ với điểm số OSI.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỉ lệ hiện mắc stress trên nhân viên y tế đang công tác tại các trung tâm IVF
Lê Đăng Khoa(1), Trần Nhật Quang(2), Đặng Quang Vinh(1), Nguyễn Thị Ngọc Anh(3), Hồ Mạnh Tường(1), Kirsty Foster(4) (1) Bệnh viện Mỹ Đức, (2) Đại học Y Dược TP. HCM, (3) Đại học Quốc gia TP. HCM, (4) Trường Đại học Y khoa, Đại học Sydney - Úc TỈ LỆ HIỆN MẮC STRESS TRÊN NHÂN VIÊN Y TẾ ĐANG CÔNG TÁC TẠI CÁC TRUNG TÂM IVF Tác giả liên hệ (Corresponding author): Lê Đăng Khoa, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 02/04/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 02/04/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 27/04/2018 Từ khóa: Stress nghề nghiệp, IVF, nhân viên y tế. Keywords: job stress, IVF, medical workers. Tóm tắt Đặt vấn đề: Điều kiện làm việc căng thẳng có thể ảnh hưởng xấu lên sức khoẻ và tinh thần của nhân viên y tế cũng như kết quả điều trị bệnh nhân hiếm muộn. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá tỉ lệ hiện mắc và bản chất của các yếu tố stress trên nhân viên y tế đang công tác tại các trung tâm IVF. Phương pháp: Điều tra cắt ngang. Tất cả nhân viên y tế tại 7 đơn vị IVF miền Nam Việt Nam được mời tham dự. Thông tin sẽ được thu thập trực tiếp thông qua bảng thu thập chỉ số stress nghề nghiệp (OSI). Kết quả: Có 35 y tá, 19 bác sỹ và 51 nhân viên phòng lab tham gia. Trong đó, nhóm y tá có điểm số stress nghề nghiệp cao nhất. Điểm số này có mối liên hệ chặt chẽ với “yêu cầu công việc cao” (p<0.01). Một vài chỉ số thống kê (như mức thu nhập, số giờ làm việc kéo dài, không gian làm việc riêng) cho thấy nguồn gốc gây nên stress nghề nghiệp. Kết luận: Trong nhóm nhân viên y tế tham gia khảo sát, chỉ số OSI đặc biệt cao nhất ở nhóm y tá trong số 3 nhóm tham gia. Nghiên cứu cũng cho thấy khía cạnh “yêu cầu công việc cao” khi có mối tương quan chặt chẽ với điểm số OSI. Từ khóa: Stress nghề nghiệp, IVF, nhân viên y tế. Abstract THE PREVALENCE OF JOB STRESSORS AMONG MEDICAL WORKERS IN IVF CENTERS Background and objectives: Stressful working conditions can an adversely affect not only the health and wellbeing of health professionals but also subsequently to patient outcomes if care provided to infertile couples. The primary aim of this study was to identify the level of stress and the stressors impacting on medical workers in private IVF centers. Methods: A cross-sectional survey. All health workers in seven IVF Clinics in South of Vietnam were invited to complete an Occupational Stress Index (OSI) questionnaire. LÊ ĐĂNG KHOA, TRẦN NHẬT QUANG, ĐẶNG QUANG VINH, NGUYỄN THỊ NGỌC ANH, HỒ MẠNH TƯỜNG, KIRSTY FOSTER 142 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 TỔ N G Q U A N N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H V À H Ỗ T R Ợ S IN H S Ả N TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 142 - 149, 2018 143 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 Results: Thirty-five participants (33.3%) were nurses, 19 (18.1%) were doctors and 51 (48.6%) were lab technicians. Among the three groups, nurses have higher occupational stress indexscore as compared to the others. The occupational stress indexscore only had a strong relationship with the “high demand” (p<0.001). Some of the demographic variables (e.g. income, long working hours, autonomous workspace) statistically represented the high significant source of job stress. Conclusion: The OSI score in nurse group was significantly highest between the three groups. It also points to the importance of “high demand” aspect which has a strong relationship with OSI score. Keywords: job stress, IVF, medical workers. 1. Đặt vấn đề Nhiều kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ kiệt sức tại nơi làm việc được ghi nhận khá cao trên nhóm nhân viên y tế [1-2] rất nhiều yếu tố gây stress tại nơi làm việc, ví dụ như khối lượng công việc gia tăng, cảm xúc nhận được khi đối măt với các bệnh nhân “thập tử nhất sinh”, và các mâu thuẫn và vấn đề tổ chức quản lý, đã và đang làm gia tăng nguy cơ kiệt sức qua nhiều năm tháng đối với các nhân viên y tế [3]. Những tác động tiêu cực của stress công việc trên nhân viên y tế hiện đang nhận được nhiều chú ý. Có rất nhiều tình huống tiềm ẩn dẫn tới stress tại nơi làm việc cụ thể như khối lượng công việc nhiều, xung đột về vai trò, nhân lực hạn chế [4]. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nếu nhận càng ít stress công việc, nhân viên y tế sẽ hài lòng hơn với công việc, tin tưởng hơn với tổ chức, và các dự định bỏ việc sẽ thấp hơn [5-8]. Hơn nữa, làm việc trong môi trường quá căng thẳng cùng với rất ít sự kiểm soát và ít sự ủng hộ, hỗ trợ từ các đồng nghiệp cũng sẽ dễ gây ra vấn đề an toàn bệnh nhân [9]. Bên cạnh đó, các trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm (In-vitro fertilization – IVF) được đặc biệt xem là nơi gây nhiều stress. Tham gia tư vấn các cặp đôi hiếm muộn với nhiều cung bậc cảm xúc là yếu tố dễ gây stress. Kết quả điều trị hiếm muộn khó tiên lượng cũng là một yếu tố gây stress khác, thường gây ra tâm lý chán nản [10]. Các điều kiện làm việc dễ gây stress này có thể ảnh hưởng tiêu cực không những đến sức khỏe và tâm lý của các nhân viên y tế, mà còn đến các kết cục điều trị cho bệnh nhân [11-13]. Mục tiêu chính của nghiên cứu là để tìm ra mức độ stress và nhận diện các yếu tố gây stress lên các nhóm nhân viên y tế khác (gồm bác sỹ, y tá và nhân viên phòng lab IVF) tại các trung tâm IVF tư nhân. Từ đó, giúp hoạch định các chiến lược nhằm giúp đỡ các nhân viên y tế về mặt sức khỏe và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân tốt hơn. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu Từ tháng 08/2016 đến tháng 11/2016, tất cả các nhân viên y tế thuộc bảy đơn vị/khoa hiếm muộn của bảy bệnh viện tư nhân tại miền Nam Việt Nam được mời tham gia nghiên cứu. Chỉ có nhân viên toàn thời gian được mời tham dự, các đối tượng khác như thực tập sinh, sinh viên y khoa, nội trú, các nhân viên y tế thuộc diện hợp tác và các giảng viên y khoa không tham gia vào nghiên cứu này. 2.2. Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu cắt ngang dựa trên bảng câu hỏi điều tra chỉ số đánh giá stress nghề nghiệp (Occupation Stressor Index - OSI). 2.3. Thu thập dữ liệu Các thông tin về nghiên cứu được bao gồm trong thư ngỏ và những đối tượng nghiên cứu đồng ý tham gia sẽ được phát bảng câu hỏi điều tra OSI. Hoàn thành các bảng câu hỏi này đồng nghĩa với việc tham gia tự nguyện vào nghiên cứu này. Các bảng câu hỏi OSI có 1 số điều chỉnh và thiết kế riêng cho từng nhóm đối tượng nghiên cứu: điều LÊ ĐĂNG KHOA, TRẦN NHẬT QUANG, ĐẶNG QUANG VINH, NGUYỄN THỊ NGỌC ANH, HỒ MẠNH TƯỜNG, KIRSTY FOSTER 144 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 TỔ N G Q U A N dưỡng, bác sỹ và nhân viên phòng lab IVF. Thời gian trả lời bảng câu hỏi được diễn ra trong giờ nghỉ trưa của sau giờ làm việc tùy theo sắp xếp thời gian của đối tượng nghiên cứu. Tất cả đối tượng tham gia được giải thích đầy đủ về mục tiêu nghiên cứu và phương pháp thực hiện. Mỗi đối tượng nhận một bảng và các bảng câu hỏi được mã hóa số thứ tự. Trong quãng thời gian trả lời câu hỏi, các đối tượng nghiên cứu được nhận tin nhắn điện thoại nhắc nhở về việc hoàn thành câu hỏi. Thành viên nhóm nghiên cứu có vai trò theo dõi, nhắc nhở và thu thập đầy đủ các bảng câu hỏi OSI. Chủ nhiệm đề tài giữ danh sách tên và các số thứ tự, và toàn bộ các bảng câu hỏi OSI đã được trả lời đầy đủ. 2.4. Tính y đức Nghiên cứu được xem xét và thông qua bởi Hội đồng Khoa học của Trung tâm Nghiên cứu Di truyền và Sức khỏe sinh sản (CGRH) – Khoa Y ĐHQG- HCM và Hội đồng đạo đức của bệnh viện Mỹ Đức. 2.5. Phân tích dữ liệu Chỉ số OSI [14-18], một ma trận 2 chiều, được định nghĩa theo bảng với chiều dọc gồm các thông tin cần chuyển tải (bao gồm thông tin đầu vào, việc ra quyết định, kết quả đầu ra, kết quả tổng thể) và các yếu tố có thể gây stress được đặt theo hàng ngang. Mỗi thành phần trong bảng OSI có thang điểm từ 0 đến 2 (0: không có, 2: hoàn toàn đồng ý) và sau đó điểm được tổng hợp lại theo từng mục/ chương riêng. Các thành phần này bao gồm: dưới mức kỳ vọng (underload), yêu cầu công việc (high demand), tính nghiêm ngặt (strictness), áp lực thời gian (extrinsic time pressure), tiếp xúc yếu tố độc Hình 1. Lưu đồ tuyển chọn đối tượng tham gia nghiên cứu Các yếu tố OSI Cronbach alpha Tổng (n=105) Y tá (N= 35) Bác sĩ (N=19) Kỹ thuật viên labo (N= 51) p-values TB (ĐLC) TB (ĐLC) TB (ĐLC) TB (ĐLC) Yêu cầu công việc 0,75 24,24 (5,65) 29,17 (2,80) 28,46 (2,71) 19,27 (3,08) <0,001 Tính nghiêm ngặt 0,79 12,15 (3,32) 13,79 (2,79) 11,46 (2,12) 11,29 (3,64) 0,001 Các xung đột và sự bất định 0,77 9,85 (2,94) 10,57 (2,03) 12,87 (2,07) 8,23 (2,66) <0,001 Dưới mức kỳ vọng 0,77 4,82 (3,01) 3,21 (1,73) 2,16 (1,41) 6,91 (2,67) <0,001 Cảnh giác/tránh mối nguy Áp lực thời gian Tiếp xúc độc hại Tổng điểm OSI 0,78 0,79 0,78 0,79 8,24 (2,38) 6,62 (1,31) 3,04 (2,37) 68,96 (9,42) 8,63 (2,22) 6,82 (1,11) 1,40 (1,24) 73,59 (6,85) 7,97 (1,88) 5,84 (0,83) 1,03 (0,98) 69,79 (6,24) 8,08 (2,65) 6,78 (1,49) 4,92 (1,81) 65,48 (10,53) 0,5 0,015 <0,001 <0,001 TB: trung bình, ĐLC: độ lệch chuẩn Bảng 2. OSI của 3 nhóm đối tượng Tổng (n=105) Y tá (N= 35) Bác sĩ (N=19) Kỹ thuật viên labo (N=51) p-values TB (ĐLC) or N (%) TB (ĐLC) or N (%) TB(ĐLC) or N (%) TB (ĐLC) or N (%) Tuổi 31,06 (8,15) 29,83 (8,39) 38,26 (6,03) 29,22 (7,28) <0,001 Khoảng cách từ nhà đến bệnh viện Số năm làm việc 10,00 (7,95) 6,55 (6,16) 10,51 (8,09) 7,40 (7,61) 9,53 (4,82) 11,95 (4,64) 9,82 (8,84) 3,96 (3,64) 0,889 <0,001 Sở hữu nhà 33 (31,43) 9 (25,71) 14 (73,68) 10 (19,61) <0,001 Đi lại Xe máy Khác Trình độ học vấn Sau đại học Đại học Thu nhập (USD/năm) Under 10,000 10,000 – 19,000 20,000 – 30,000 30,000 – 40,000 Over 40,000 Giờ lao động/tuần Dưới 48 Từ 48 đến 60 Trên 60 Tổng điểm OSI Dưới 70 Từ 70 đến 80 Từ 80 đến 90 Trên 90 90 (85,71) 15 (14,29) 29 (27,62) 76 (72,38) 70 (66,67) 20 (19,05) 09 (8,57) 02 (1,90) 04 (3,81) 13 (12,38) 69 (65,71) 23 (21,90) 52 (49,52) 41 (39,05) 12 (11,43) 0 (00,00) 30 (85,71) 05 (14,29) 0 (0,00) 35 (100) 33 (94,29) 02 (5,714) 0 (0,00) 0 (0,00) 0 (0,00) 05 (14,29) 20 (57,14) 10 (28,57) 11 (31,43) 16 (45,71) 08 (22,86) 00 (00,00) 17 (89,47) 02 (10,53) 14 (73,68) 05 (26,32) 05 (26,32) 05 (26,32) 04 (21,05) 01 (5,26) 04 (21,05) 06 (31,58) 11 (57,89) 02 (10,53) 09 (47,37) 09 (47,37) 01 (05,26) 00 (00,00) 43 (84,31) 08 (15,69) 15 (29,41) 36 (70,59) 32 (62,75) 13 (25,49) 05 (9,80) 01 (1,96) 0 (0,00) 02 (3,92) 38 (74,51) 11 (21,57) 32 (62,75) 16 (31,37) 03 (05,88) 00 (00,00) 0,878* <0,001 <0,001* 0,023* 0,023* Ghi chú: * sử dụng Fisher’s exact test Bảng 1. Đặc điểm đối tượng tham gia nghiên cứu N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H V À H Ỗ T R Ợ S IN H S Ả N TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 142 - 149, 2018 145 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 Hình 2. Hệ số tương quan giữa mỗi giá trị của OSI hại (noxious exposure), cảnh giác/tránh các mối nguy (threat avoidant vigilance), và các xung đột/ sự bất định (conflict/uncertainty) [19]. Các dữ liệu được nhập vào bảng tính Microsoft Excel và các chỉ số stress được tính cho từng đối tượng tham gia của từng nhóm. Các biến định danh được tính theo tần suất (phần trăm) và các biến liên tục được tóm tắt với số trung bình (độ lệch chuẩn). Các số trung bình giữa 3 nhóm nhân viên y tế được phân tích bởi One-Way Analysis of Variance (ANOVA). Tính khác nhau giữa các nhóm trong các biến rời rạc được khảo sát bằng phép kiểm Chi bình phương. Nếu độ lớn của mẫu nhỏ hơn 5, phép kiểm Fisher’s exactđược dùng thay thế với từng cặp nhóm khảo sát. Tukey’s HSD post hoc test được tính để so sánh cho từng số trung bình. Ma trận phân tích tương quan được dùng để kiểm tra tính độc lập giữa các biến cùng 1 thời điểm. Tất cả dữ liệu được phân tích bằng phần mềm R. Giá trị p<0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê. 3. Kết quả Trong số 131 các nhân viên y tế được mời tham gia nghiên cứu, có 105 (chiếm 80%) là hoàn thành bảng câu hỏi (xem Hình 1). Ba mươi lăm người (chiếm 33,3%) tham gia là điều dưỡng, 19 người (chiếm 18,1%) là bác sỹ và 51 người (chiếm 48,6%) là nhân viên phòng IVF lab. Xấp xỉ 2/3 đối tượng tham gia là chưa có con cái (71 người, chiếm 67,6%), một nửa (53 người, chiếm 50,48%) là đã lập gia đình, và 3/4 (80 người, chiếm 76,2%) là phụ nữ, với sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm nhân viên y tế (p<0,05). Trong số 3 nhóm này, nhóm điều dưỡng có trình độ học vấn thấp hơn và thu nhập thấp hơn so với 2 nhóm còn lại. Các đặc tính nền khác của các đối tượng tham gia được trình bày ở Bảng 1. Điểm OSI có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm nghiên cứu (trừ khía cạnh “cảnh giác/ tránh các mối nguy”), trong đó nhóm y tá có số điểm cao nhất (xem Bảng 2). Hình 2 mô tả hệ số tương quan giữa mỗi giá trị của chỉ số OSI. Nhìn chung, điểm OSI có mối tương quan thuận mức độ trung bình bao gồm các khía cạnh như “yêu cầu công việc” (p=0,53), “tính nghiêm ngặt” (p=0,62), “cảnh giác/tránh các mối nguy” (p=0,63), và “các xung đột” (p=0,67). Trong nhóm y tá, giá trị chỉ số OSI đạt mức vừa phải ở khía cạnh “cảnh giác/tránh các mối nguy” và “các xung đột” (p<0,05) và mối tương LÊ ĐĂNG KHOA, TRẦN NHẬT QUANG, ĐẶNG QUANG VINH, NGUYỄN THỊ NGỌC ANH, HỒ MẠNH TƯỜNG, KIRSTY FOSTER 146 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 TỔ N G Q U A N Tổng (n=105) Y tế (N= 35) Bác sĩ (N=19) Kỹ thuật viên labo (N=51) p– value N (%) N (%) N (%) N (%) Dưới mức kỳ vọng Lương cố định Lương Hoàn toàn không đủ Đủ trang trải chi phí cơ bản Thăng tiến Có Không Ghi nhận thành quả lao động Chắc chắn có Có, ở mức độ nào đó Chỉ ở mức vừa đủ Toàn hoàn không Yêu cầu công việc Tỉ lệ trả lương Trả cố định Trả theo công việc của nhóm Trả theo đóng góp cá nhân Thời gian làm việc (giờ) Không quá 48 giờ/tuần Từ 48 đến 60 giờ/tuần Hơn 60 giờ/tuần Làm hơn 2 việc Có Không Nghỉ giữa giờ Không bao giờ Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên Trực đêm/ công việc đột xuất Có Không Nghỉ phép thường niên 03 đến 04 tuần 02 tuần Dưới 02 tuần Tính nghiêm ngặt Tư thế cố định Lưu động 01 tư thế cố định nhưng được di chuyển 01 tư thế cố định, hạn chế cử động Cửa sổ, thiếu không gian Có cửa sổ (trực tiếp) Có cửa sổ (gián tiếp) Không có Không gian làm việc riêng Yes No Cơ hội nghỉ phép Không thành vấn đề Một chút Hơi khó khăn Rất khó khăn 50 (47,62) 9 (8,57) 48 (45,71) 80 (76,19) 25 (23,81) 41 (39,05) 43 (40,95) 20 (19,05) 1 (0,95) 50 (47,61) 23 (21,91) 32 (30,48) 13 (12,38) 69 (65,71) 23 (21,90) 12 (11,43) 93 (88,57) 4 (3,81) 9 (8,57) 75 (71,43) 17 (16,19) 11 (10,48) 94 (89,52) 1 (0,95) 98 (93,33) 6 (5,72) 59 (56,19) 22 (20,95) 24 (22,86) 31 (29,52) 22 (20,950 52 (49,52) 10 (9,52) 95 (90,48) 13 (12,38) 27 (25,71) 54 (51,43) 11 (10,48) 16 (45,71) 5 (14,29 ... ” (p<0,001). Đối với nhân viên IVF lab, “cảnh giác/tránh các mối nguy” và “các xung đột” có mối tương quan mạnh (p<0,001) trong khi “tính nghiêm ngặt” và “tiếp xúc độc hại” có mối tương quan trung bình (p<0,001). Trong khi đó, OSI có mối tương quan mạnh với “yêu cầu cộng việc” (p<0,05), mức độ trung bình với “các xung đột” (p=0,05) và “underload” (p=0,16) trong nhóm bác sỹ. Các yếu tố gây stress chi tiết giữa các nhóm nhân viên y tế được phân tích rõ ràng hơn trong Bảng 3. Tổng (n=105) Y tế (N= 35) Bác sĩ (N=19) Kỹ thuật viên labo (N=51) p– value N (%) N (%) N (%) N (%) Chứng kiến tai nạn nơi làm việc Chưa bao giờ nghe/ chứng kiến Nghe nhưng chưa chứng kiến Chứng kiến tai nạn trầm trọng Chứng kiến tử vong Đồng nghiệp tự tử Có Không Kiện tụng, làm chứng trước toà Không phản hồi Không Hệ thống báo động khẩn cấp Có biết hoạt động tốt Có biết nhưng không rõ có hoạt động tốt hay không Không Các xung đột/ Sự bất định Cảm xúc ảnh hưởng môi trường làm việc Không Rất ít Thỉnh thoảng Rất nhiều căng thẳng Thiếu trợ giúp khi gặp khó khăn Có thể trông chờ sự giúp đỡ Thường được giúp đỡ Không thể trong chờ sự giúp đỡ Hiếm khi/không bao giờ được giúp đỡ Cản trở sự thăng tiến Có Không Lạm dụng quyền lực/hành vi vi phạm Không bao giờ Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên 0 (0,00) 8 (7,62) 6 (5,71) 91 (86,67) 23 (21,90) 82 (78,10) 2 (1,91) 103 (98,10) 24 (22,86) 51 (48,57) 30 (28,57) 21 (20,00) 63 (60,00) 21 (20,00) 0 (0,00) 73 (69,52) 28 (26,67) 2 (1,90) 2 (1,90) 80 (76,19) 25 (23,81) 78 (74,29) 20 (19,05) 7 (6,67) 0 (0,00) 0 (0,00) 4 (11,43) 0 (0,00) 31 (88,57) 6 (17,14) 29 (82,86) 2 (5,71) 33 (94,29) 7 (20,00) 15 (42,86) 13 (37,14) 7 (20,00) 24 (68,57) 4 (11,43) 0 (0,00) 33 (94,28) 1 (2,86) 0 (0,00) 1 (2,86) 24 (68,57) 11 (31,43) 33 (94,28) 1 (2,86) 1 (2,86) 0 (0,00) 0 (0,00) 2 (10,53) 2 (10,53) 15 (78,95) 6 (31,58) 13 (68,42) 0 (0,00) 19 (100) 2 (10,53) 10 (52,63) 7 (36,84) 4 (21,05) 12 (63,16) 3 (15,79) 0 (0,00) 15 (78,95) 3 (15,79) 0 (0,00) 1 (5,26) 15 (78,95) 4 (21,05) 13 (68,42) 3 (15,79) 3 (15,79) 0 (0,00) 0 (0,00) 2 (3,92) 4 (7,84) 45 (88,24) 11 (21,57) 40 (78,43) 0 (0,00) 51 (100) 15 (29,41) 26 (50,98) 10 (19,61) 10 (19,61) 27 (52,94) 14 (27,45) 0 (0,00) 25 (49,02) 24 (47,06) 2 (3,92) 0 (0,00) 41 (80,39) 10 (19,61) 32 (62,75) 16 (31,37) 3 (5,88) 0 (0,00) 0,185* 0,495* 0,140* 0,154* 0,464* <0,001* 0,444* 0,002* Tổng (n=105) Y tế (N= 35) Bác sĩ (N=19) Kỹ thuật viên labo (N=51) p– value N (%) N (%) N (%) N (%) Nguy cơ mất việc Có Không Thiếu gắn kết trong công việc Công việc liên quan nhau, gắn kết với mục tiêu Vài việc liên quan nhau, gắn kết với mục tiêu mơ hồ Công việc không liên quan nhau, không gắn kết mục tiêu Các vấn đề cản trở bạn chăm sóc bệnh nhân Thiếu nguồn cung cấp cần thiết (kể cả thuốc men) Thiếu giường bệnh Thiếu nhân viên Hạn chế về thủ tục hành chính để đặt hàng cần thiết Rào cản ngôn ngữ với bệnh nhân (thiếu phiên dịch) Vấn đề cơ sở hạ tầng Cần vận chuyển bệnh nhân thường xuyên trong điều kiện thiếu an toàn Trì hoãn hoặc không thể lấy được hồ sơ bệnh án Khó khăn trong việc lấy kết quả xét nghiệm Hạn chế trong việc đề xuất xét nghiệm Hạn chế trong việc gửi bệnh nhân đi tham vấn Tổn hại thể chất hoặc thương tích tại nơi làm việc Đồng nghiệp tại nơi làm việc có ý định tự tử 6 (5,71) 99 (94,29) 55 (52,38) 48 (45,71) 2 (1,90) 4 (3,81) 18 (17,14) 15 (14,29) 6 (5,714) 16 (15,24) 14 (13,33) 0 (0,00) 7 (6,67) 2 (1,91) 1 (0,95) 1 (0,95) 48 (45,71) 23 (21,9) 2 (5,71) 33 (94,29) 7 (20,00) 28 (80,00) 0 (0,00) 2 (5,71) 14 (40,00) 10 (28,57) 5 (14,29) 12 (34,29) 7 (20,00) 0 (0,00) 3 (8,57) 1 (2,86) 0 (0,00) 0 (0,00) 14 (40,00) 6 (17,14) 2 (10,53) 17 (89,47) 2 (10,53) 17 (89,47) 0 (0,00) 2 (10,53) 4 (21,05) 4 (21,05) 1 (5,26) 3 (15,79) 2 (10,53) 0 (0,00) 4 (21,05) 1 (5,26) 1 (5,26) 1 (5,26) 4 (21,05) 6 (31,58) 2 (3,92) 49 (96,08) 46 (90,20) 3 (5,88) 2 (3,92) 0 (0,00) 0 (0,00) 1 (1,96) 0 (0,00) 1 (1,96) 5 (9,80) 0 (0,00) 0 (0,00) 0 (0,00) 0 (0,00) 0 (0,00) 30 (58,82) 11 (21,57) 0,02* 0,475* <0,001* 0,013 0,495* Ghi chú: * sử dụng Fisher’s exact test 4. Bàn luận Đây là nghiên cứu đầu tiên khảo sát các yếu tố gây stress trên các nhân viên y tế tại các trung tâm/đơn vị thực hiện IVF tại Việt Nam. Nghiên cứu này đã chỉ ra sự khác biệt về các yếu tố gây stress giữa các nhóm đối tượng tham gia và mỗi nhóm lại khác nhau về các nhân tố giúp cải thiện stress. Kết quả nghiên cứu cho thấy: (i) điểm số OSI nhóm y tá đạt cao nhất trong số 3 nhóm; (ii) điểm số OSI có mối liên chặt chẽ với khía cạnh “yêu cầu công LÊ ĐĂNG KHOA, TRẦN NHẬT QUANG, ĐẶNG QUANG VINH, NGUYỄN THỊ NGỌC ANH, HỒ MẠNH TƯỜNG, KIRSTY FOSTER 148 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 TỔ N G Q U A N việc” (p<0,001); (iii) một vài đặc điểm của dân số nghiên cứu như thu nhập, số giờ làm việc kéo dài, trình độ học vấn, không gian làm việc riêng có thể lànguyên nhân gây ra stress công việc. Nghiên cứu này cũng xác định các kết quả nghiên cứu trước đây rằng ca làm đêm và nhiều giờ làm việc kéo dài là một khía cạnh trong “yêu cầu công việc”, có sự ảnh hưởng mạnh đến stress công việc [20-24]. Kết quả của chúng tôi cũng có sự tương tự với kết quả nghiên cứu của Hsu khi các stress nghề nghiệp khác nhau giữa các mức thu nhập khác nhau [4]. Tuy nhiên, kết quả của Garette và McDaniel lại chỉ ra rằng các yếu tố khác (ví dụ như trình độ học vấn, số năm làm việc) lại không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với stress công việc [25]. Cơ chế nào làm cho điểm số OSI cao đối với nhóm y tá trong số nhân viên y tế tham gia nghiên cứu vẫn cần được làm sáng tỏ thêm, tuy nhiên cũng có 1 số giả thiết hợp lý được đưa ra. Mức thu nhập thấp và thời gian làm việc kéo dài, khi so sánh với các nhóm tham gia nghiên cứu còn lại, vẫn là nguyên nhân chính. Các vấn đề cản trở chăm sóc bệnh nhân một cách thỏa đáng, sự khó khăn trong việc xin nghỉ phép, khó có quyền quyết định lịch làm việc và việc thiếu không gian làm việc riêng cũng góp phần khiến điểm số OSI cao hơn (xem Bảng 1). Tác giả Belkic và cộng sự đã chứng minh rằng cần có sự can thiệp ngay lập tức cho các trường hợp khi các điểm số OSI đạt >90 [19]. Tuy nhiên, tất cả nhân viên trong nghiên cứu của chúng tôi có điểm số OSI <90. Trước tiên, có khả năng đây là đặc tính thật của dân số nghiên cứu, nhưng cũng có thể chỉ là ngẫu nhiên. Thứ hai, các phân tích mô tả về stress nghề nghiệp của dân số nghiên cứu thông qua các đặc tính nền (tuổi, trình độ học vấn, số năm làm việc), được thực hiện bởi Nabirye và cộng sự, đã chỉ ra rằng càng có học vấn cao, họ càng bị stress nhiều hơn [23]. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi lại cho thấy điều ngược lại, học vấn càng thấp thì điểm số OSI lại càng cao. Có khả năng rằng, nếu môi trường làm việc có nhiều cơ hội thăng tiến, có sự công nhận/cảm thông trong công việc, giờ nghỉ giải lao có thể dẫn tới điểm số OSI đạt <90. Ứng dụng quan trọng nhất của nghiên cứu này là cần quan tâm cải thiện môi trường làm việc của nhân viên y tế (đặc biệt là các điều dưỡng) trong lĩnh vực IVF. Nếu các tổ chức luôn mong muốn mang lại dịch vụ chăm sóc bệnh nhân chất lượng cao và trợ cấp tốt, họ cần phải chú ý đến những điều kiện làm việc có thể gây stress cho nhân viên. Nhiều chiến lược cần được đề ra giúp giữ chân các điều dưỡng hiện tại và tuyển điều dưỡng mới [26], nhưng để tìm ra cách để cải thiện môi trường làm việc thì vẫn còn thiếu. Có thể kể tới việc quản lý nhân sự hoặc thiết kế bố trí lại nơi làm việc. Một đóng góp quan trọng khác của nghiên cứu này là đã chỉ ra sự cần thiết khi có thêm nhiều nghiên cứu tương tự trong tương lai về các biến số có mối tương quan với stress (ví dụ như khía cạnh cảnh giá/tránh các mối nguy). Cần thêm nhiều nghiên cứu nữa để hiểu rõ hơn các giả thuyết về mối liên quan giữa các tai nạn nghề nghiệp và stress công việc. Chỉ số OSI là một công cụ đánh giá quốc tế được phát triển và được đặc biệt sử dụng dành cho các ngành chuyên biệt [14-18] nhằm để khảo sát một cách chính xác mức độ của các yếu tố gây stress biết trước lên các nhân viên y tế (gồm điều dưỡng, bác sỹ, nhân viên lab IVF). Phiên bản tiếng Anh của bảng câu hỏi OSI được chuyển ngữ sang tiếng Việt bằng kỹ thuật dịch xuôi-ngược (double translation technique) được công nhận bởi nhóm phát triển bảng câu hỏi có nguồn gốc từ Mỹ, nhằm đảm bảo độ chính xác ngôn từ. Ngoài ra hệ số Conbrach’s alpha được tính cho các biến thành phần trong chỉ số OSI và được dùng để tính độ mạnh của tính ổn định bên trong của chỉ số OSI. Hệ số Cronbach alpha của chỉ số OSI trong khoảng 0,75 đến 0,79 trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng độ tin cậy có thể chấp nhận được. Mặc dù chỉ số OSI là công cụ khảo sát có tính quốc tế được tạo ra dành cho các ngành chuyên biệt, nghiên cứu này vẫn còn tồn tại nhiều giới hạn. Trước hết, sai lệch do hồi tưởng có thể xảy ra do các câu hỏi được trả lời dựa trên các dữ liệu được tường thuật lại và bảng câu hỏi khá dài (với tổng cộng 9 trang, kích thước phông chữ cỡ 9). Thứ hai, nghiên cứu này hoàn toàn dựa trên phương pháp định lượng. Trong tương lai, các nghiên cứu tiếp theo cần bổ sung thêm khía cạnh định tính để hiểu biết sâu hơn về stress công việc. Thứ ba, nghiên cứu này đã không thể giúp phân biệt rõ ai bị stress nhiều hơn trong nhóm nhân viên y tế. Vì vậy bộ N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H V À H Ỗ T R Ợ S IN H S Ả N TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 142 - 149, 2018 149 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 câu hỏi OSI tiếng Việt cần được chuẩn hoá hoặc hiệu chỉnh sao cho tìm ra giá trị ngưỡng cho điểm OSI nhằm giúp công tác can thiệp stress trên nhân viên y tế trong tương lai được thực hiện đúng thời điểm hơn và hiệu quả hơn. 5. Kết luận Nghiên cứu này đã làm sáng tỏ tầm quan trọng của stress và các yếu tốt gây stress ảnh hưởng đến nhân viên y tế (bao gồm bác sỹ, điều dưỡng và chuyên viên phòng IVF lab) đang công tác tại các trung tâm IVF tư nhân tại Việt Nam. Với kiến thức này, có thể bắt đầu hành động phù hợp giúp cải thiện môi trường làm việc của họ. Ngoài ra, cần phải có bảng câu hỏi OSI đã được định chuẩn riêng cho người Việt Nam giúp tìm ra những can thiệp phù hợp và đúng thời điểm. Tài liệu tham khảo 1. Ramirez AJ, Graham J, Richards MA, Cull A, & Gregory WM. Mental health of hospital consultants: the effects of stress and satisfaction at work. Lancet. 1996; 347(9003), 724-728. 2. Raiger J. Applying a cultural lens to the concept of burnout. J Transcult Nurs. 2005; 16(1), 71-76. 3. McNeely E. The consequences of job stress for nurses’ health: time for a check-up. Nurs Outlook. 2005; 53(6), 291-299. 4. Hsu HY, Chen SH, Yu HY, Lou JH. Job stress, achievement motivation and occupational burnout among male nurses. J Adv Nurs. 2010; 66(7), 1592-1601. 5. McGowan B. Self-reported stress and its effects on nurses. Nurs Stand. 2001; 15(42), 33-38. 6. Yeh YJY, Ko JJR, Chang YS, Chen CHV (2007). Job stress and work attitudes between temporary and permanently employed nurses. Stress and Health. 2007; 23(2), 111-120. 7. Garrosa E, Moreno-Jimenez B, Liang Y, Gonzalez JL. The relationship between socio-demographic variables, job stressors, burnout, and hardy personality in nurses: an exploratory study. Int J Nurs Stud. 2008; 45(3), 418-427. 8. Walker MJ. Effects of the medication nursing assistant role on nurse job satisfaction and stress in long-term care. Nurs Adm Q. 2008; 32(4), 296-300. 9. Berland A, Natvig GK, Gundersen D. Patient safety and job-related stress: a focus group study. Intensive Crit Care Nurs. 2008; 24(2), 90-97. 10. Christine DS, Marci L. Psychological Reactions to Infertility. In Annette L. Stanton & Christine Dunkel-Schetter (Eds.), Infertility. Springer, Boston, MA; 1991. pp. 29-57. 11. Leiter MP, Harvie P, Frizzell C. (1998). The correspondence of patient satisfaction and nurse burnout. Soc Sci Med. 1998; 47(10), 1611-1617. 12. Vahey DC, Aiken LH, Sloane DM, Clarke SP, Vargas D. Nurse burnout and patient satisfaction. Med Care. 2004; 42(2 Suppl), II57-66. 13. Halm M1, Peterson M, Kandels M, Sabo J, Blalock M, Braden R, Gryczman A, Krisko-Hagel K, Larson D, Lemay D, Sisler B, Strom L, Topham D. Hospital nurse staffing and patient mortality, emotional exhaustion, and job dissatisfaction. Clin Nurse Spec. 2005; 19(5), 241- 251; quiz 252-244. 14. https://unhealthywork.org. The Occupational Stress Index: An Introduction. [updated 2000, cited 28 Jan 2018]. Available from:http:// unhealthywork.org/other-job-stress-models/occupational-stress-index-osi/ 15. Levi L, Bartley M, Marmot M, Karasek R, Theorell T, Siegrist J, Peter R, Belkić K, Savić C, Schnall P, Landsbergis P.(2000). Stressors at the workplace: Theoretical models. Occup Med. 2000; 15(1):69-106. 16. Belkic, K., & Nedic, O. (2007). Workplace stressors and lifestyle- related cancer risk factors among female physicians: assessment using the Occupational Stress Index. J Occup Health. 2007; 49(1), 61-71. 17. Nedic O, Belkic K, Filipovic D, Jocic N (2010). Job stressors among female physicians: relation to having a clinical diagnosis of hypertension. Int J Occup Environ Health. 2010; 16(3), 330-340. 18. Belkic K, Nedic O. Night work, total occupational burden and cancer/cardiovascular risk factors in physicians. Med Pregl. 2012; 65(11-12), 461-469. 19. Job Stressors and Mental Health: A Proactive Clinical Perspective. [Cited 29 Jan 2018]. Available from: http:// www.worldscientific.com/worldscibooks/10.1142/8914 20. Coffey LC, Skipper JKJ, Jung FD. Nurses and shift work: effects on job performance and job-related stress. J Adv Nurs. 1988; 13(2), 245-254. 21. van Wijk C. (1997). Factors influencing burnout and job stress among military nurses. Mil Med. 1997; 162(10), 707-710. 22. Bruce D K, Rüdiger T, Cary LC. Working hours, job stress, work satisfaction, and accident rates among medical practitioners and allied personnel. Int J of Stress Manag. 1997; 4(2), 79-87. 23. Nabirye RC, Brown KC, Pryor ER, Maples EH. Occupational stress, job satisfaction and job performance among hospital nurses in Kampala, Uganda. J Nurs Manag. 2011; 19(6), 760-768. 24. Cheng CY, Liou SR, Tsai HM, Chang CH. Job stress and job satisfaction among new graduate nurses during the first year of employment in Taiwan. Int J Nurs Pract. 2015; 21(4), 410-418. 25. Garrett DK, McDaniel AM. A new look at nurse burnout: the effects of environmental uncertainty and social climate. J Nurs Adm.2001; 31(2), 91-96. 26. Berliner HS, Ginzberg E. Why this hospital nursing shortage is different. JAMA, 2002; 288(21), 2742-2744.
File đính kèm:
ti_le_hien_mac_stress_tren_nhan_vien_y_te_dang_cong_tac_tai.pdf

