Tỉ lệ hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày có sử dụng công cụ ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 từ 60 tuổi trở lên điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thống Nhất năm 2020

Đặt vấn đề: Đái tháo đường (ĐTĐ) và các biến chứng được biết đến như là một yếu tố nguy cơ của

suy giảm tình trạng chức năng ở người cao tuổi. Trong khi nhân viên y tế thường chú ý đến sự suy giảm về

chức năng thể chất thông qua các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (HĐSHHN) cơ bản, thì chức năng xã hội

thể hiện qua các hoạt động sinh hoạt hàng ngày có sử dụng công cụ (Activities of Daily Living - IADL) lại

thường bị bỏ quên.

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày có sử dụng công cụ (IADL) của bệnh nhân

ĐTĐ type 2 từ 60 tuổi trở lên điều trị ngoại trú tại bệnh viện Thống Nhất năm 2020.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 110 bệnh nhân ĐTĐ type 2 từ 60

tuổi trở lên điều trị ngoại trú tại bệnh viện Thống Nhất, TPHCM trong khoảng thời gian từ 18/05/2020 đến

12/06/2020. Thu thập dữ liệu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp và thu thập một số thông tin từ bệnh án

điện tử của đối tượng nghiên cứu.

pdf 6 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Tỉ lệ hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày có sử dụng công cụ ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 từ 60 tuổi trở lên điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thống Nhất năm 2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỉ lệ hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày có sử dụng công cụ ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 từ 60 tuổi trở lên điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thống Nhất năm 2020

Tỉ lệ hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày có sử dụng công cụ ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 từ 60 tuổi trở lên điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thống Nhất năm 2020
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 142 
TỈ LỆ HẠN CHẾ HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT HÀNG NGÀY 
CÓ SỬ DỤNG CÔNG CỤ Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 
TỪ 60 TUỔI TRỞ LÊN ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ 
TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT NĂM 2020 
Nguyễn Văn Thuận1, Phan Như Quỳnh2, Đoàn Duy Tân2, Phạm Nhật Tuấn2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Đái tháo đường (ĐTĐ) và các biến chứng được biết đến như là một yếu tố nguy cơ của 
suy giảm tình trạng chức năng ở người cao tuổi. Trong khi nhân viên y tế thường chú ý đến sự suy giảm về 
chức năng thể chất thông qua các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (HĐSHHN) cơ bản, thì chức năng xã hội 
thể hiện qua các hoạt động sinh hoạt hàng ngày có sử dụng công cụ (Activities of Daily Living - IADL) lại 
thường bị bỏ quên. 
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày có sử dụng công cụ (IADL) của bệnh nhân 
ĐTĐ type 2 từ 60 tuổi trở lên điều trị ngoại trú tại bệnh viện Thống Nhất năm 2020. 
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 110 bệnh nhân ĐTĐ type 2 từ 60 
tuổi trở lên điều trị ngoại trú tại bệnh viện Thống Nhất, TPHCM trong khoảng thời gian từ 18/05/2020 đến 
12/06/2020. Thu thập dữ liệu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp và thu thập một số thông tin từ bệnh án 
điện tử của đối tượng nghiên cứu. 
Kết quả: Tỉ lệ hạn chế HĐSHHN có sử dụng công cụ (IADL) là 59,1%. Tìm thấy mối liên quan giữa hạn 
chế HĐSHHN có sử dụng công cụ với tuổi và bệnh lý khác (bao gồm gút, viêm gan mạn, COPD, lao phổi đang 
điều trị, suy giáp, cường giáp, cushing). 
Kết luận: Tỉ lệ hạn chế HĐSHHN có sử dụng công cụ (IADL) ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 cao tuổi là đáng 
chú ý. Cần có thêm những nghiên cứu khác đi sâu vào phân tích mối liên quan giữa hạn chế IADL và các bệnh lý 
đi kèm. 
Từ khóa: hoạt động sinh hoạt hàng ngày có sử dụng công cụ, đái tháo đường, người cao tuổi 
ABSTRACTS 
THE PREVALENCE OF INSTRUMENTAL ACTIVITIES OF DAILY LIVING LIMITATIONS 
AMONG ELDERLY PATIENTS WITH DIABETES TYPE 2 
IN OUTPATIENT CLINIC OF THONG NHAT HOSPITAL, HO CHI MINH CITY IN 2020 
Phan Nhu Quynh, Pham Nhat Tuan, Doan Duy Tan, Nguyen Van Thuan 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 2- 2021: 141 - 147 
Background: Diabetes and its complications are proved as risk factors of functional decline. While clinicians 
often focus on physical-function impairments, social-function limitations, which are reflected by the ability to 
perform instrumental activities of daily living, are usually neglected. 
Objectives: This study aims to determine the prevalence of instrumental activities of daily living (IADL) 
limitations among patients aged 60 years and older with diabetes type 2 in outpatient clinic of Thong Nhat 
hospital, Ho Chi Minh City in 2020. 
Methods: This cross-sectional study consisted of 110 patients with type 2 diabetes mellitus aged 60 years 
1Bệnh viện Thống Nhất TP. Hồ Chí Minh 2Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Phan Như Quỳnh ĐT: 0938325216 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 143 
and above who were being treated at outpatients clinic of Thong Nhat hospital, Ho Chi Minh City between May 
18th, 2020 and June 12th, 2020. Data were collected through directly interview and electrical medical records. 
Result: The prevalence of IADL limitation among elderly patients with diabetes type 2 was 59.1%. IADL 
impairments were associated with age and other diseases (included gout, chronic hepatitis, COPD, on treatment 
of tuberculosis, hypothyroidism, hypethyroidism, cushing). 
Conclusions: The figure for IADL limitations among elderly patients with diabetes type 2 was considerable. 
There is a need for future studies which aim to evaluate the association between IADL impairments and 
comorbidity among elderly with diabetes type 2. 
Keywords: instrumental activities of daily living, diabetes, elderly 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Đái tháo đường (ĐTĐ) được biết đến như là 
một yếu tố nguy cơ của suy giảm tình trạng chức 
năng ở người cao tuổi(2). Trong khi các nhân viên 
y tế thường chú ý đến sự suy giảm về chức năng 
thể chất thông qua các hoạt động sinh hoạt hàng 
ngày (HĐSHHN) cơ bản (bao gồm ăn uống, tiêu 
tiểu tự chủ, di chuyển, đi vệ sinh, mặc quần áo 
và tắm rửa), thì chức năng xã hội thể hiện qua 
các hoạt động sinh hoạt hàng ngày có sử dụng 
công cụ (IADL) lại thường bị bỏ quên. IADL 
(instrumental Activities of Daily Living - hoạt 
động sinh hoạt hàng ngày có sử dụng công cụ) 
là các hoạt động đòi hỏi kỹ năng tư duy phức 
tạp, bao gồm cả kỹ năng tổ chức, sắp xếp và cần 
thiết để duy trì một cuộc sống độc lập trong 
cộng đồng, bao gồm những công việc: quản lý 
tiền bạc, lấy thuốc uống, đi mua sắm, làm việc 
nhà, di chuyển bằng các phương tiện giao thông 
và chuẩn bị bữa ăn. Những người có hạn chế 
HĐSHHN trong cấp độ này đòi hỏi một cuộc 
sống cần được hỗ trợ tại nhà, hoặc các dịch vụ 
chăm sóc cộng đồng(2). 
Ở Tây Ban Nha, có 35,3% đến 49.2% bệnh 
nhân ĐTĐ cao tuổi có hạn chế IADL(3). Số liệu 
này ở Mỹ là 37,2% ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ từ 60 
tuổi trở lên(4). Tại Việt Nam, một số nghiên cứu 
báo cáo tỉ lệ hạn chế IADL ở người cao tuổi 
trong cộng đồng qua thang đo Lawton IADL là 
từ 27,1% đến 52,2% ở các địa điểm khác 
nhau(5,8,7). Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có nghiên 
cứu nào báo cáo tỉ lệ hạn chế IADL ở bệnh nhân 
ĐTĐ cao tuổi ở Việt Nam. Vì lý do trên, nghiên 
cứu được tiến hành tại phòng khám ngoại trú 
bệnh viện Thống Nhất, TP. Hồ Chí Minh với 
mục tiêu xác định tỉ lệ hạn chế hoạt động sinh 
hoạt hàng ngày có sử dụng công cụ ở bệnh nhân 
ĐTĐ type 2 từ 60 tuổi trở lên. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Được tiến hành trên 110 bệnh nhân ĐTĐ 
type 2 từ 60 tuổi trở lên điều trị ngoại trú tại 
bệnh viện Thống Nhất trong khoảng thời gian 
18/05/2020 đến 12/06/2020 bằng kỹ thuật chọn 
mẫu thuận tiện. 
Tiêu chuẩn chọn vào 
Bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên. 
Được chẩn đoán ĐTĐ type 2 ít nhất 6 tháng. 
Đến khám tại phòng khám ngoại trú bệnh 
viện Thống Nhất. 
Đồng ý tham gia vào nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn loại ra 
Trả lời thiếu bất kỳ câu nào của bảng câu hỏi 
chỉ số Katz hoặc không trả lời từ 7 câu hỏi trở lên 
(20%) trong toàn bộ bộ câu hỏi. 
Bệnh nhân có vấn đề về giao tiếp (câm, 
điếc,) mà không có người trợ giúp giao tiếp đi 
kèm. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu cắt ngang. 
Các biến số chính 
Những biến số nền gồm: giới tính, tuổi, 
dân tộc, tôn giáo, nơi sống, nghề nghiệp, trình 
độ học vấn, thu nhập trung bình, tình trạng 
kinh tế, người sống cùng, BMI. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 144 
Các đặc điểm bệnh lý đái tháo đường type 
2 được khảo sát bao gồm thời gian mắc đái 
tháo đường, chỉ số HbA1c, chỉ số đường huyết 
đói, điều trị hiện tại (uống thuốc viên, tiêm 
insulin, cả 2). 
Các tình trạng bệnh lý và các biến số khác 
được khảo sát bao gồm: hút thuốc lá, cholesterol 
toàn phần, triglycerid, LDL, HDL, tăng huyết áp, 
suy thận, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, ung thư, cơ 
xương khớp, bệnh lý võng mạc, bệnh lý thần 
kinh ngoại biên và bệnh khác. 
Biến số kết cuộc: hạn chế HĐSHHN có sử 
dụng công cụ (IADL) được đánh giá qua thang 
đo Lawton IADL (gồm 8 hoạt động như sử dụng 
điện thoại, đi chợ, nấu ăn, làm việc nhà, giặt giũ, 
sử dụng phương tiện giao thông, sử dụng thuốc 
và quản lý chi tiêu). Có hạn chế IADL khi người 
cao tuổi không thực hiện được từ một hoạt động 
trở lên(8). Thang đo Lawton IADL đã được chuẩn 
hóa ở nhiều nước với chỉ số Cronbach’s alpha 
cao, ở phiên bản tiếng Thổ Nhĩ Kỳ chỉ số này là 
0,843; ở phiên bản tiếng Trung, tiếng Hàn chỉ số 
này đều đạt 0,90(8,10,10). 
Thu thập dữ liệu và xử lý số liệu 
Nghiên cứu viên tiến hành thu thập số liệu 
bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp với bộ 
câu hỏi soạn sẵn có cấu trúc và tra cứu bệnh án 
điện tử. 
Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 
3.1 và xử lý bằng phần mềm Stata 14.0. 
Thống kê mô tả biến số định tính bằng tần số 
và phần trăm. Với các biến số định lượng, mô tả 
bằng trung bình và độ lệch chuẩn. Nếu biến số 
định lượng có phân phối không bình thường, 
trung vị và khoảng tứ phân vị được sử dụng. 
Để kiểm định mối liên quan giữa hạn chế 
HĐSHHN với các biến số độc lập, kiểm định 
Chi bình phường được sử dụng. Kiểm định 
chính xác Fisher được sử dụng để thay thế cho 
kiểm định Chi bình phương nếu có trên 20% 
các ô có vọng trị <5 hoặc có ô vọng trị <1. Mức 
độ kết hợp được ước lượng với tỉ số tỉ lệ hiện 
mắc (Prevalence ratio:PR) với khoảng tin cậy 
(KTC) 95%. 
Những biến số gây nhiễu được kiểm soát 
qua phân tích đa biến bằng hồi quy poisson. 
Những biến số được chọn vào mô hình hồi quy 
đa biến bao gồm những biến số trong phân tích 
đơn biến có giá trị p <0,2 và đã được chứng minh 
có liên quan đến hạn chế HĐSHHN có sử dụng 
công cụ ở những nghiên cứu trước. 
Y đức 
Nghiên cứu đã được chấp thuận của Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học bệnh 
viện Thống Nhất - số 14/2020/BVTN-HĐYĐ kí 
ngày 06/05/2020. 
KẾT QUẢ 
Bảng 1: Đặc điểm dân số - xã hội của đối tượng 
nghiên cứu (n=110) 
Đặc điểm Tần số Phần trăm 
Giới tính 
Nam 55 50,0 
Nữ 55 50,0 
Nhóm tuổi 
60-69 tuổi 50 45,5 
70-79 tuổi 36 32,7 
Từ 80 tuổi trở lên 24 21,8 
Dân tộc 
Kinh 109 99,1 
Khmer 1 0,9 
Khác 0 0 
Tôn giáo 
Không tôn giáo 66 60,0 
Đạo Phật 35 31,8 
Đạo Thiên chúa 9 8,2 
Khác 0 0 
Nơi sống 
Thành thị 98 89,1 
Nông thôn 12 10,9 
Nghề nghiệp hiện tại 
Lao động trí óc 3 2,7 
Lao động phổ thông 5 4,5 
Nội trợ 7 6,4 
Già, nghỉ hưu 95 86,4 
Trình độ học vấn 
Mù chữ 2 1,8 
Biết đọc biết viết 14 12,7 
Tiểu học 5 4,6 
Trung học cơ sở 11 10 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 145 
Đặc điểm Tần số Phần trăm 
Trung học phổ thông 23 20,9 
Trên trung học phổ thông 55 50 
Tình trạng kinh tế 
Dư dả 19 17,3 
Đủ sống 70 63,6 
Không đủ sống 21 19,1 
Người sống cùng 
Sống một mình 6 5,5 
Sống cùng người thân 104 94,5 
Nam và nữ phân bố đều nhau, nhóm từ 60-
69 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất. Dân tộc Kinh, không 
tôn giáo, nghề nghiệp già nghỉ hưu chiếm đa số. 
Một nửa số đối tượng có học vấn trên trung học 
phổ thông. Đa số có kinh tế đủ sống và sống 
cùng người thân (Bảng 1). 
Bảng 2: Phân loại chỉ số khối cơ thể (BMI) (n=108) 
Đặc điểm Tần số Phần trăm 
Phân loại BMI (n=108) 
Bình thường (BMI <23kg/m
2
) 45 41,7 
Thừa cân (BMI≥23 kg/m
2
) 63 58,4 
Tỉ lệ bệnh nhân có BMI>23kg/m2 chiếm đa số 
(Bảng 2). 
Bảng 3: Đặc điểm bệnh lý đái tháo đường type 2 
(n=110) 
Đặc điểm Tần số Phần trăm 
Khoảng thời gian mắc đái tháo đường 
≤ 10 năm 70 63,6 
> 10 năm 40 36,4 
Chỉ số HbA1c 
Kiểm soát kém (> 7%) 63 57,3 
Kiểm soát tốt (≤ 7%) 47 42,7 
Chỉ số đường huyết đói 
Kiểm soát kém (> 7mmol/l) 65 59,1 
Kiểm soát tốt (≤ 7mmol/l) 45 40,9 
Điều trị hiện tại 
Uống thuốc viên 78 70,9 
Tiêm insulin 11 10 
Cả 2 21 19,1 
Đa số bệnh nhân có thời gian mắc đái tháo 
đường type 2 từ 10 năm trở xuống. Về kiểm soát 
đường huyết, ở cả 2 chỉ số HbA1c và chỉ số 
đường huyết đói, hơn một nửa số bệnh nhân có 
tình trạng kiểm soát kém. Điều trị hiện tại đa số 
bằng thuốc viên hạ đường huyết (Bảng 3). 
Đa số bệnh nhân chưa từng hút thuốc. Ở 
các chỉ số chuyển hóa lipid, tỉ lệ bệnh nhân 
không đạt mục tiêu điều trị là từ 30% trở 
xuống (Bảng 4). 
Bảng 4: Tình trạng hút thuốc lá và chuyển hóa lipid 
(n=110) 
Đặc điểm Tần số Phần trăm 
Hút thuốc lá 
Chưa từng hút thuốc 72 65,5 
Từng hút nhưng đã bỏ 28 25,4 
Vẫn đang hút thuốc 10 9,1 
Cholesterol cao (n=109) 
≥ 5,3 mmol/l 25 22,7 
< 5,3 mmol/l 85 77,3 
Triglycerid cao 
> 2,3 mmol/l 33 30 
≤ 2,3 mmol/l 77 70 
LDL cao 
≥ 3,4 mmol/l 16 14,6 
< 3,4 mmol/l 94 85,4 
HDL thấp 
<0,9 mmol/l 20 18,2 
≥ 0,9 mmol/l 90 81,8 
Bảng 5: Bệnh lý đi kèm và biến chứng 
Loại bệnh 
Tần số (Phần trăm) 
Có Không 
Tăng huyết áp 97 (88,2) 13 (11,8) 
Cơ xương khớp 42 (38,2) 68 (61,8) 
Biến chứng thần kinh ngoại biên 23 (20,9) 87 (79,1) 
Bệnh khác* 19 (17,3) 91 (82,7) 
Bệnh lý võng mạc 17 (15,5) 93 (84,5) 
Suy thận 13 (11,8) 97 (88,2) 
Đột quỵ 6 (5,5) 104 (94,5) 
Nhồi máu cơ tim 5 (4,5) 105 (95,5) 
Ung thư 1 (0,9) 109 (99,1) 
Chưa ghi nhận bệnh đi kèm hoặc 
biến chứng 
5 (4,5) 105 (95,5) 
* Bệnh khác gồm: Gút, viêm gan mạn, COPD, lao phổi 
đang điều trị, suy giáp, cường giáp, Cushing 
Tăng huyết áp là bệnh có tỉ lệ mắc cao nhất, 
ung thư là bệnh có tỉ lệ mắc thấp nhất. Chỉ có 
4,5% bệnh nhân chưa ghi nhận có bệnh lý đi 
kèm hay biến chứng (Bảng 5). 
Trong 8 hoạt động được đánh giá, chuẩn bị 
bữa ăn là hoạt động có tỉ lệ phụ thuộc cao nhất 
(42,7%), sử dụng phương tiện giao thông là hoạt 
động có tỉ lệ phụ thuộc thấp nhất (7,3%). Tỉ lệ 
hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày có sử 
dụng công cụ (IADL) ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 
từ 60 tuổi trở lên điều trị ngoại trú tại bệnh viện 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 146 
Thống Nhất năm 2020 là 59,1% (KTC 95% 49,8 – 
68,4) (Bảng 6). 
Bảng 6: Tỉ lệ và phân loại hạn chế hoạt động sinh 
hoạt hàng ngày có sử dụng công cụ (thang đo Lawton 
IADL) (n=110) 
Hoạt động 
Tần số (Phần trăm) 
Phụ thuộc Độc lập 
Sử dụng điện thoại 15 (13,6) 95 (86,4) 
Mua sắm 32 (29,1) 78 (70,9) 
Chuẩn bị bữa ăn 47 (42,7) 63 (57,3) 
Việc nhà 20 (18,2) 90 (81,8) 
Giặt giũ 23 (20,9) 87 (79,1) 
Sử dụng phương tiện giao thông 8 (7,3) 102 (92,7) 
Sử dụng thuốc 14 (12,7) 96 (87,3) 
Quản lý tiền bạc 10 (9,1) 100 (90,9) 
IADL 65 (59,1) 45 (40,9) 
Bảng 7: Mô hình hồi quy đa biến poisson giữa hạn 
chế IADL và các yếu tố liên quan 
Hạn chế IADL PR (KTC 95%) Giá trị p 
Nhóm tuổi 
60-69 tuổi 1 
70-79 tuổi 1,48 (1,01 - 2,19) 0,046 
80 tuổi trở lên 1,97 (1,35 - 2,88) <0,001 
Người sống cùng 
Sống cùng người thân 4,22 (0,99-17,95) 0,051 
Phân loại BMI 
Thừa cân 1,00 (0,74-1,37) 0,986 
Thời gian mắc đái tháo đường 
Trên 10 năm 1,08 (0,82 – 1,43) 0,588 
Chỉ số HbA1c 
Kiểm soát kém 1,24 (0,91 – 1,71) 0,176 
Bệnh khác* 
Có 1,60 (1,19-2,17) 0,002 
* Bệnh khác gồm: Gút, viêm gan mạn, COPD, lao phổi 
đang điều trị, suy giáp, cường giáp, cushing 
Kết quả phân tích đa biến cho thấy, nhóm 
từ 70 đến 79 tuổi có tỉ lệ hạn chế IADL cao hơn 
48% so với nhóm từ 60 đến 69 tuổi với p=0,046. 
Nhóm từ 80 tuổi trở lên có tỉ lệ hạn chế IADL 
cao hơn 1,97 lần so với nhóm từ 60 đến 69 tuổi 
với p <0,001 (Bảng 7). 
Ngoài ra, nhóm mắc bệnh khác (bao gồm 
gút, viêm gan mạn, COPD, lao phổi đang điều 
trị, suy giáp, cường giáp, Cushing) có tỉ lệ hạn 
chế IADL cao hơn 60% so với nhóm không mắc 
bệnh khác, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với 
p=0,002. 
BÀN LUẬN 
Trong tổng số 110 đối tượng tham gia vào 
nghiên cứu, nhóm từ 60 đến 69 tuổi chiếm tỉ lệ 
cao nhất. Đáng chú ý, một nửa số đối tượng có 
học vấn cao (trên trung học phổ thông) và có thu 
nhập ổn định (Bảng 1). Điều này phù hợp với 
đặc điểm của địa điểm nghiên cứu là bệnh viện 
Thống Nhất – nơi tiếp nhận điều trị cho đối 
tượng hưu trí ở Thành phố Hồ Chí Minh và khu 
vực phía nam. 
Nghiên cứu này có tỉ lệ hạn chế hoạt động 
sinh hoạt hàng ngày có sử dụng công cụ (IADL) 
là 59,1% (Bảng 6). Tỉ lệ này cao hơn kết quả của 
Maria Huedo ở Tây Ban Nha trên đối tượng là 
người từ 65 tuổi trở lên (từ 35,3 đến 49,2%)(2), 
nghiên cứu của Munshi M ở Mỹ trên 60 bệnh 
nhân ĐTĐ 70 tuổi trở lên (39%)(12), nghiên cứu 
Kalyani S ở Mỹ (43,6%)(4), nghiên cứu tại Thổ 
Nhĩ Kỳ của Istek N (24,7%)(13). Sự khác biệt này 
ngoài các lý do như sự khác biệt trong dân số 
chọn mẫu, thang đo được sử dụng, thì có lẽ còn 
đến từ các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Các 
nghiên cứu được đề cập ở trên được tiến hành ở 
các nước Âu Mỹ, là nơi có nền y tế phát triển, đi 
kèm theo đó là các dịch vụ xã hội được xây dựng 
chuyên biệt phù hợp với chăm sóc sức khỏe lão 
khoa. Do IADL là các hoạt động phản ánh chức 
năng xã hội, môi trường có tác động lớn đến sự 
thực hiện các hoạt động chức năng xã hội của 
người cao tuổi. Điều này cho thấy sự cần thiết 
của việc xây dựng hệ thống chăm sóc sức khỏe 
người cao tuổi trong cộng đồng, cũng như hình 
thành các dịch vụ dành riêng cho người cao tuổi 
– những thứ chưa phổ biến ở nước ta. Tại Việt 
Nam, tác giả chưa tìm thấy nghiên cứu nào báo 
cáo tỉ lệ hạn chế IADL trên người cao tuổi có 
bệnh nền là ĐTĐ. Tỉ lệ hạn chế IADL ở người 
cao tuổi trong cộng đồng được báo cáo tại Việt 
Nam thấp hơn tỉ lệ hạn chế IADL ở nghiên cứu 
này(5,8,7). Điều này là hợp lý vì theo một phân tích 
gộp, số chênh hạn chế IADL ở bệnh nhân ĐTĐ 
cao gấp 1,65 lần so với nhóm không có ĐTĐ(2). 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 147 
Hoạt động IADL có tỉ lệ hạn chế cao nhất là 
chuẩn bị bữa ăn với 42,7%, trong khi đó hoạt 
động có tỉ lệ hạn chế thấp nhất là sử dụng 
phương tiện giao thông với 7,3% (Bảng 6). Điều 
này có thể là do đa phần các đối tượng sống tại 
thành phố và có kinh tế ổn định, nhiều đối 
tượng cho rằng họ không thể nấu ăn vì không 
biết sử dụng các thiết bị nhà bếp hiện đại mà con 
cháu họ trang bị trong nhà. Ngược lại, với hoạt 
động sử dụng phương tiện giao thông, thang đo 
Lawton quy định chỉ cần người cao tuổi có thể 
tự đi bằng taxi, xe ôm hoặc sử dụng phương tiện 
giao thông công cộng với sự giúp đỡ của người 
khác. Điều này dễ dàng hơn cho người dân 
thành thị khi các phương tiện giao thông công 
cộng cũng như dịch vụ taxi, xe ôm rộng khắp. 
Không tìm thấy mối liên quan giữa BMI, các 
đặc điểm bệnh lý ĐTĐ type 2, hút thuốc lá, các 
chỉ số lipid và hạn chế IADL. 
Ở nghiên cứu này, tỉ lệ hạn chế IADL có sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm tuổi 
khác nhau (Bảng 7). Có thể thấy, quá trình lão 
hóa tự nhiên có tác động đáng kể lên khả năng 
thực hiện các HĐSHHN có sử dụng công cụ ở 
người cao tuổi mắc ĐTĐ. 
Ngoài ra, nhóm có bệnh khác (bao gồm gút, 
viêm gan mạn, COPD, lao phổi đang điều trị, 
suy giáp, cường giáp, cushing) có tỉ lệ hạn chế 
IADL cao hơn 60% so với nhóm không mắc 
(KTC 95% 1,19-2,17), sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê với p=0,002 (Bảng 7). Do đặc tính của 
các đối tượng trong nghiên cứu, các bệnh khác 
được ghi nhận gồm những bệnh mạn tính có 
tính chất nghiêm trọng, việc mắc các bệnh này 
làm tăng tỉ lệ suy giảm mức độ độc lập IADL là 
có thể lý giải được. Điều này gợi ý sự cần thiết 
của việc thêm vào các bệnh này như một biến số 
độc lập trong việc tìm kiếm các nguyên nhân 
làm suy giảm IADL trên bệnh nhân ĐTĐ cao 
tuổi trong tương lai. 
Số liệu nghiên cứu được thu thập dựa trên 
bệnh án điện tử, hạn chế sai lệch thông tin. Tuy 
nhiên, nghiên cứu vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. 
Với thiết kế nghiên cứu cắt ngang cộng với cỡ 
mẫu nhỏ, nghiên cứu chỉ ghi nhận được tỉ lệ 
hiện mắc và mối liên quan chứ không xác định 
được yếu tố thời gian và quan hệ nguyên nhân 
kết quả. Dù vậy, kết quả nghiên cứu có thể làm 
tiền đề cho những nghiên cứu bệnh chứng và 
đoàn hệ trong tương lai. 
KẾT LUẬN 
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ hạn chế 
HĐSHHN có sử dụng công cụ ở bệnh nhân 
ĐTĐ cao tuổi là khá cao. Cần có thêm những 
nghiên cứu khác đi sâu vào phân tích mối liên 
quan giữa hạn chế IADL và các bệnh lý đi kèm. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Wong E, Backholer K, Gearon E, et al (2013). Diabetes and risk 
of physical disability in adults: a systematic review and meta-
analysis. Lancet Diabetes Endocrinol, 1(2):106-114. 
2. Edemekong PF, Bomgaars DL, Sukumaran S, et al (2020). 
Activities of Daily Living. URL: 
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK470404/. 
3. Martinez-Huedo AM, Andres AL, Hernandez-Barrera V, et al 
(2011). Trends in the prevalence of physical and functional 
disability among Spanish elderly suffering from diabetes (2000–
2007). Diabetes Research and Clinical Practice, 94(2):30-33. 
4. Kalyani R, Saudek CD, Brancati FL, et al (2010). Association of 
diabetes, comorbidities, and A1C with functional disability in 
older adults: results from the National Health and Nutrition 
Examination Survey (NHANES), 1999-2006. Diabetes Care, 
33(5):1055-1060. 
5. Nguyễn Thị Lan Thanh (2015). Khảo sát tình trạng hạn chế chức 
năng và mối liên quan với các bệnh lý đi kèm ở người cao tuổi 
trong cộng đồng xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. 
Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược TP. HCM. 
6. Huỳnh Thị Kim Huệ (2017). Tần suất hạn chế chức năng và các 
yếu tố liên quan ở người cao tuổi trong cộng đồng quận 4 thành 
phố Hồ Chí Minh. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 21(2):204-209. 
7. Võ Văn Tài (2013). Tỉ lệ hạn chế hoạt động trong cuộc sống hàng 
ngày của người cao tuổi tại thành phố Vũng Tàu năm 2013. 
Luận án chuyên khoa II Chuyên ngành Quản lý y tế, Đại học Y Dược 
TP. HCM. 
8. Fisher T (2008). Assessing function in the elderly: Katz ADL and 
Lawton IADL. Masters of Health Informatics, Dalhousie 
University. 
9. Isik EI, Yilmaz S, Uysal I, et al (2020). Adaptation of the Lawton 
Instrumental Activities of Daily Living Scale to Turkish: Validity 
and Reliability Study. Annals of Geriatric Medicine and research, 
24(1):35-40. 
10. Tong AY, Man DW (2002). The validation of the Hong Kong 
Chinese version of the Lawton Instrumental Activities of Daily 

File đính kèm:

  • pdfti_le_han_che_hoat_dong_sinh_hoat_hang_ngay_co_su_dung_cong.pdf