Thực trạng viêm mũi dị ứng ở học sinh trung học cơ sở tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An năm 2015

Bằng nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 3366 học sinh trung học cơ sở

(THCS) nhằm mô tả thực trạng bệnh viêm mũi dị ứng (VMDƯ) ở học sinh trên địa bàn

thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An từ tháng 2/2015 đến tháng 6/2015. Số liệu được thu thập bằng

phỏng vấn, khám sức khỏe, nội soi Tai- mũi- họng, làm test lẩy da. Kết quả đã chỉ ra rằng,

tỷ lệ mắc VMDƯ trong học sinh THCS là 15,3%. Trong đó tỷ lệ học sinh nữ mắc viêm mũi

dị ứng là 15,4% và học sinh nam là 15,2%. Độ tuổi mắc cao nhất ở học sinh 15 tuổi (chiếm

16,69%). Có 84,9% HS mắc VMDƯ có phản ứng dương tính với ít nhất 1 loại dị nguyên (mạt

bụi nhà, lông vũ, bụi bông, nấm mốc), trong đó bụi nhà là 48,28%, lông vũ là 34,32% và bụi

bông là 16,25%. Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe với cha mẹ của trẻ cần được quan

tâm để giảm nguy cơ tiếp xúc dị nguyên ở trẻ, góp phần làm giảm các đợt bùng phát triệu

chứng viêm mũi dị ứng

pdf 8 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng viêm mũi dị ứng ở học sinh trung học cơ sở tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thực trạng viêm mũi dị ứng ở học sinh trung học cơ sở tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An năm 2015

Thực trạng viêm mũi dị ứng ở học sinh trung học cơ sở tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An năm 2015
THỰC TRẠNG VIÊM MŨI DỊ ỨNG Ở HỌC SINH 
TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ VINH, 
TỈNH NGHỆ AN NĂM 2015
Tăng Xuân Hải1, Vũ Minh Thục2, Phạm Văn Hán3
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Bằng nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 3366 học sinh trung học cơ sở 
(THCS) nhằm mô tả thực trạng bệnh viêm mũi dị ứng (VMDƯ) ở học sinh trên địa bàn 
thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An từ tháng 2/2015 đến tháng 6/2015. Số liệu được thu thập bằng 
phỏng vấn, khám sức khỏe, nội soi Tai- mũi- họng, làm test lẩy da. Kết quả đã chỉ ra rằng, 
tỷ lệ mắc VMDƯ trong học sinh THCS là 15,3%. Trong đó tỷ lệ học sinh nữ mắc viêm mũi 
dị ứng là 15,4% và học sinh nam là 15,2%. Độ tuổi mắc cao nhất ở học sinh 15 tuổi (chiếm 
16,69%). Có 84,9% HS mắc VMDƯ có phản ứng dương tính với ít nhất 1 loại dị nguyên (mạt 
bụi nhà, lông vũ, bụi bông, nấm mốc), trong đó bụi nhà là 48,28%, lông vũ là 34,32% và bụi 
bông là 16,25%. Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe với cha mẹ của trẻ cần được quan 
tâm để giảm nguy cơ tiếp xúc dị nguyên ở trẻ, góp phần làm giảm các đợt bùng phát triệu 
chứng viêm mũi dị ứng
Từ khóa: viêm mũi dị ứng, học sinh, trung học cơ sở, Nghệ An
Abstract
CURRENT SITUATION OF ALLERGIC RHINITIS AMONG STUDENTS
AT SECONDARY SCHOOLS IN VINH CITY, NGHE AN PROVINCE IN 2015
A cross-sectional descriptive study was conducted on 3,366 students of 6 secondary schools in 
order to describe the current situation of allergic rhinitis among students in Vinh city, Nghe An 
province from February 2015 to June 2015. The data were collected by interviews, medical check 
up, ENT endoscope and prick test. The results showed that 15.3% of students suffered from allergic 
rhinitis. The proportion of male students was 15.2% and that of female students was 15.4%. 
15-year-old students had the highest allergic rhinitis with 16.69%. The tests showed that popular 
allergens of AR in these students included cotton dust, house dust, feathers (48.28%; 34.32% 
1 Bệnh viện đa khoa tỉnh Nghệ An
2 Bệnh viện Tâm Anh, Hà Nội
3 Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
Chịu trách nhiệm chính: Tăng Xuân Hải. Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 28/09/2018; Ngày phản biện khoa học: 08/10/2018; Ngày duyệt bài: 17/10/2018
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018) I 73
NGHIÊN CỨU
and 16.25%, respectively). Health education and communication with parents of children should 
be considered to reduce the risk of ectopic exposure in children, contributing to the reduction of 
allergic rhinitis symptoms.).
Keywords: allergic rhinitis, students, cotton dust, house dust, feathers.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm mũi dị ứng (VMDƯ) là một trong 
những bệnh mạn tính rất thường gặp của 
đừơng hô hấp trong chuyên khoa Tai Mũi 
Họng và chuyên khoa Dị ứng ở nước ta [2], 
[3]. Hiện nay, VMDƯ đang ngày một gia tăng 
cả ở các nước phát triển và đang phát triển 
chiếm 10-15% dân số) [3] do mức độ ô nhiễm 
môi trường ngày một tăng, khí hậu càng ngày 
càng kém thuận lợi, nhất là khi nước ta đang 
thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa. 
Đây cũng là nguyên nhân làm giảm chất 
lượng cuộc sống của người bệnh, tăng thời 
gian nghỉ học của học sinh, làm tăng chi phí 
cho nền y tế [1], [10].
Học sinh trung học cơ sở là thời kỳ đang 
phát triển về tâm sinh lý, VMDƯ ảnh hưởng 
nhiều tới sự phát triển của trẻ. Theo Vũ Trung 
Kiên (2013), học sinh trung học cơ sở TP Thái 
Bình có tỷ lệ mắc VMDƯ là 23,1% [7]. Theo 
Nguyễn Thanh Hải (2009) học sinh độ tuổi 
13-14 có tỷ lệ mắc VMDƯ là 21,6% [4], và 
một số nghiên cứu trong nước khác. Ở Việt 
Nam nghiên cứu về thực trạng viêm mũi dị 
ứng ở lứa tuổi này còn ít. Đặc biệt tại tỉnh 
Nghệ An chưa có một nghiên cứu nào được 
thực hiện đầy đủ và hệ thống về Viêm mũi dị 
ứng học đường cũng như đề ra giải pháp điều 
trị. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài nhằm 
mục tiêu “Mô tả thực trạng bệnh viêm mũi 
dị ứng ở học sinh trung học cơ sở thành phố 
Vinh - Nghệ An năm 2015”.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian 
nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh 
trung học cơ sở đang học tập và sinh sống 
trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu: 6 trường THCS 
trực thuộc thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An:
Nội thành: Bến Thủy, Cửa Nam, Hưng 
Dũng, Trường Thi
Ngoại thành: Hưng Lộc, Nguyễn Trường 
Tộ
2.1.3. Thời gian nghiên cứu: Tháng 2/2015 
đến tháng 6/2015.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt 
ngang
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu:
Áp dụng theo công thức:
Trong đó:
Z(1-α/2): là hệ số tin cậy phụ thuộc α, chọn 
α=0,05 thì Z(1-α/2)=1,96.
ε : là độ sai số mong muốn; chọn = 0,03
p: là tỉ lệ mắc viêm mũi dị ứng ở trẻ em do 
dị nguyên tại cộng đồng, ước tính qua một 
điều tra trước của chúng tôi là 13,6%.
Tính được n = 502
Đây là cỡ mẫu của học sinh 1 trường 
THCS => cỡ mẫu nghiên cứu cho 6 trường 
THCS là 502x6 = 3012. Trên thực tế chúng 
74 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018)
THỰC TRẠNG VIÊM MŨI DỊ ỨNG Ở HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ VINH, 
TỈNH NGHỆ AN NĂM 2015
tôi khám và điều tra toàn bộ n=3366 học sinh 
của 6 Trường THCS trên địa bàn thành phố.
Chọn mẫu: Nhiều giai đoạn:
- Trong 16 phường nội thành và 9 trường 
ngoại thành chọn ngẫu nhiên 6 phường/xã 
gồm: 4 phường nội thành và 2 phường ngoại 
thành.
- Trong mỗi phường/xã được lựa chọn, 
tiến hành chọn trường THCS của phường/
xã đại diện cho quần thể nghiên cứu - Các 
trường THCS thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 
và thực hiện nghiên cứu trên học sinh toàn 
trường.
2.2.3. Phương pháp thu thập thông tin:
Tiến hành phỏng vấn, khám lâm sàng, nội 
soi Tai-mũi-họng, làm test lẩy da, do đoàn 
khám bệnh của Bệnh viện đa khoa tỉnh Nghệ 
An phối hợp với Bệnh viện Tai mũi họng 
Trung ương. Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm mũi 
dị ứng trên lâm sàng dựa trên bảng câu hỏi 
đánh giá triệu chứng mũi của bệnh đường hô 
hấp (phần mũi) từ bộ câu hỏi của Viện Y học 
nghề nghiệp trong tạp chí Anh quốc về Y học 
công nghiệp 1988 và bảng đánh giá mức độ 
các triệu chứng cơ năng và thực thể qua khám 
lâm sàng.
2.2.4. Phân tích và xử lý số liệu
Số liệu được làm sạch trước khi nhập bằng 
phần mềm Epidata 3.1 và được xử lý bằng 
phần mềm Stata 12.
2.3. Đạo đức trong nghiên cứu
Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y 
Dược Hải Phòng thông qua. Nghiên cứu có sự 
đồng ý của lãnh đạo các Trường và tự nguyện 
của cha mẹ học sinh. Mọi thông tin của các 
đối tượng được bảo mật, chỉ sử dụng cho mục 
đích nghiên cứu. Đối tượng tham gia nghiên 
cứu hoàn toàn dựa trên tinh thần tự nguyện.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Phân bố đối tượng theo lớp, trường (n=3366)
Trường
Tuổi
Bến 
Thủy
(n=535)
(SL, %)
Cửa 
Nam
(n=514)
(SL,%)
Hưng 
Dũng
(n=895)
(SL,%)
Hưng 
Lộc
(n=402)
(SL,%)
N. Trường 
Tộ
(n=546)
(SL,%)
Trường 
Thi
(n=474)
(SL,%)
Chung
(n=3366)
(SL,%)
Lớp 6 166 (31,03)
158
(30,74)
259 
(28,94)
111 
(27,61)
162 
(29,67)
155
(32,70)
1011
(30,04)
Lớp 7 87 (16,26)
125 
(24,32)
182 
(20,33)
90 
(22,39)
128 
(23,44)
136 
(28,69)
748
(22,22)
Lớp 8 151 (28,22)
122 
(23,73)
230 
(25,70)
105 
(26,12)
137 
(25,09)
102 
(21,52)
847
(25,16)
Lớp 9 131 (24,48)
109 
(21,21)
224 
(25,03)
96 
(23,88)
119 
(21,79)
81 
(17,09)
760
(22,58)
Tổng 535 (15,89)
514 
(15,27)
895 
(26,59)
402 
(11,94)
546 
(16,22)
474 
(14,08
3366
(100,0)
Nhận xét: Số học sinh lớp 6 chiếm tỷ lệ cao nhất (30,04%), học sinh lớp 8 chiếm 25,16%, số học 
sinh lớp 7 và lớp 9 chiếm xấp xỉ 22%.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018) I 75
NGHIÊN CỨU
Bảng 2. Tỉ lệ bệnh viêm mũi dị ứng của đối tượng nghiên cứu theo giới tính 
(n=3366)
VMDƯ
Giới tính
Có
(n=515)
Không
(n=2851) P
SL % SL %
Nam 268 15,2 1491 84,8
> 0,05
Nữ 247 15,4 1360 84,6
Tổng 515 15,3 2851 84,7
Nhận xét: Tỉ lệ học sinh mắc Viêm mũi dị ứng là 15,3%. Tỉ lệ học sinh nam mắc viêm mũi dị 
ứng (15,2%) thấp hơn tỉ lệ học sinh nữ mắc bệnh (15,4%). Sự khác biệt không có ý nghĩa thống 
kê với p>0,05.
Bảng 3. Tỷ lệ đối tượng mắc viêm mũi dị ứng theo lứa tuổi (n=3366)
VMDƯ
Lứa tuổi
Mắc Không mắc
P
SL % SL %
Lớp 6 (n=1011) 142 14,05 869 85,95
0,55
Lớp 7 (n=748) 115 15,37 633 84,63
Lớp 8 (n=847) 133 15,70 714 84,30
Lớp 9 (n=760) 125 16,45 635 83,55
Tổng 515 15,3 2851 84,7
Nhận xét: Tỷ lệ viêm mũi ở độ tuổi 11 -12 tuổi (lớp 6) là 14,05%; ở độ tuổi 13, 14, 15 tuổi (lớp 
7,8,9) lần lượt là 15,37; 15,70 và 16,45%. Sự khác biệt về tỷ lệ viêm mũi dị ứng giữa các độ tuổi 
là không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.
Hình 2. Tỷ lệ các lượt dị nguyên dương tính (n=437)
Nhận xét: Trong số học sinh viêm mũi dị ứng qua khám lâm sàng có 84,9% phản ứng dương 
tính với các loại dị nguyên (437 lượt), trong đó tỷ lệ học sinh dương tính với bụi nhà chiếm cao 
nhất 48,28%, lông vũ là 34,32% và bụi bông là16,25%.
76 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018)
THỰC TRẠNG VIÊM MŨI DỊ ỨNG Ở HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ VINH, 
TỈNH NGHỆ AN NĂM 2015
Hình 3. Tỷ lệ học sinh mắc viêm mũi dị ứng phản ứng dương tính phối hợp 
nhiều loại dị nguyên (n=269)
Nhận xét: Học sinh chủ yếu dương tính với đa dị nguyên chiếm 69,15% trong đó nhiều nhất 
là dương tính 2 loại dị nguyên chiếm 56,88%, phản ứng dương tính 3 loại dị nguyên là 10,78%, 
có 1,49% dương tính với 4/4 loại dị nguyên.
IV. BÀN LUẬN
Nhìn chung, 3366 học sinh tham gia 
nghiên cứu được phân bố đều giữa các 
trường và có 98,07% học sinh đi học đúng 
lứa tuổi 12-15 tuổi. Còn 41 HS thuộc nhóm 
16 tuổi do học chậm một năm và có 24 HS 
đi học sớm một năm ở lứa tuổi 11 tại thời 
điểm nghiên cứu.
Nghiên cứu xác định tỷ lệ mắc VMDƯ 
tại trường THCS chúng tôi điều tra đã thu 
được kết quả tỷ lệ mắc VMDƯ của học sinh 
là 15,3%. Tỷ lệ này thấp hơn nghiên cứu của 
Vũ Trung Kiên 2013 khi điều tra tỷ lệ mắc 
VMDƯ tại thành phố Thái Bình điều tra 
trên 1081 đối tượng học sinh tại 2 trường 
THCS thì tỷ lệ này là 23,1% [7]; thấp hơn rất 
nhiều so với nghiên cứu của Nguyễn Thanh 
Hải ( 2009) khi điều tra tỷ lệ mắc VMDƯ 
tại thành phố Cần Thơ với 3362 đối tượng 
trẻ em 13-14 tuổi đang sống trên thành phố 
Cần Thơ [4] Khi cuộc sống càng phát triển, 
đô thị hóa càng tăng thì càng xuất hiện 
nhiều dị nguyên, bệnh dị ứng nói chung 
và VMDƯ ngày càng tăng. Tuy vậy có thể 
nhận thấy thành phố Vinh - Nghệ An vẫn 
đảm bảo được điều kiện môi trường sạch sẽ, 
thông thoáng. Kết quả nghiên cứu này cũng 
phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác 
giả nước ngoài: Glove, Cinkotai, Mraur X, 
tỷ lệ VMDƯ dao động từ 10%- 34,7%[9].
Tỷ lệ VMDƯ ở nam (15,2%) thấp hơn 
nữ (15,4%), sự khác biệt không có ý nghĩa 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018) I 77
NGHIÊN CỨU
thống kê với p>0.05. Kết quả trên giống 
với hầu hết các nghiên cứu về VMDƯ khác 
được thực hiện trên các lứa tuổi khác nhau: 
không thấy sự khác biệt về giới trong bệnh 
VMDƯ. Bên cạnh đó, trong nghiên cứu của 
Vũ Trung Kiên năm 2013 tại Thái Bình và 
Hải Phòng cho thấy có sự khác biệt trong 
tỷ lệ mắc viêm mũi dị ứng giữa các giới [7]. 
Điều này có thể lý giải là do các yếu tố cụ 
thể về cơ địa khác biệt giữa nam và nữ, và 
các yếu tố địa lý, môi trường ở đây khác so 
với các khu vực khác mà các tác giả khác đã 
nghiên cứu, nên đã ảnh hưởng đến kết quả 
tỷ lệ mắc VMDƯ.
Tuổi trung bình mắc VMDU 13,41±1,17. 
Nhóm tuổi 15 mắc viêm mũi dị ứng nhiều 
nhất (16,69%), tiếp đến là nhóm tuổi 14 
(15,70%) và nhóm tuổi 11 và 16 tuổi mắc ít 
nhất, lần lượt là 8,33% và 12,20%, p>0,05. 
Kết quả này khác với kết quả nghiên cứu 
về VMDƯ học sinh THCS của Vũ Trung 
Kiên, Vũ Minh Thục, trong đó nhóm 11 tuổi 
chiếm tỷ lệ cao nhất (28,5%) và nhóm 13 
tuổi là thấp nhất (17,4%) và có sự khác biệt 
về nhóm tuổi với p<0,05 [6], nhưng phù hợp 
với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh 
Hải và Phạm Thị Minh Hồng (2009) [4] hay 
nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Chức và 
cộng sự [5] đều không thấy sự khác biệt về 
lứa tuổi trong VMDƯ học sinh. Jensen P.A 
đã thống nhất đưa ra kết luận; tuổi nghề 
càng cao thì mắc bệnh VMDƯ càng nhiều 
[8]. Theo chúng tôi, có thể do từ lứa tuổi 12, 
13,14, trẻ bắt đầu dậy thì, yếu tố nội tiết ảnh 
hưởng tới tỷ lệ bệnh và loại dị nguyên gây 
VMDƯ ở lứa tuổi học đường là dị nguyên 
gây VMDƯ quanh năm như: bụi nhà. Bên 
cạnh đó, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi 
là học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 tương đương 
với 12 đến 15 tuổi nên số lượng học sinh 11, 
16 tuổi không nhiều (có thể do đi học sớm, 
đi học muộn), làm ảnh hưởng đến tỉ lệ mắc 
bệnh thực tế của 2 lứa tuổi này.
Nhìn chung, tỷ lệ VMDƯ giữa các 
trường không có sự chênh lệch lớn xấp 
xỉ 15% và không có sự khác biệt giữa các 
trường (p>0,05). Tuy nhiên bên cạnh đó 
trường THCS Trường Thi có tỉ lệ mắc Viêm 
mũi dị ứng cao nhất (19,83%) và tỉ lệ mắc 
tại trường THCS Nguyễn Trường Tộ là 
thấp nhất (13,00%), sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê với p<0,05. Trường THCS Trường 
Thi nằm gần với trung tâm thành phố Vinh, 
có mức đô thị hóa cao hơn so với các các 
vùng gần ngoại ô như trường THCS Nguyễn 
Trường Tộ. Điều này cho thấy rõ hơn ảnh 
hưởng của điều kiện môi trường, lối sống, 
đô thị hóa đến tỉ lệ mắc của bệnh viêm mũi 
dị ứng, đặc biệt là ở đối tượng lứa tuổi học 
sinh.
Trong 3366 đối tượng tham gia nghiên 
cứu có 269 HS có kết quả dương tính với dị 
nguyên và tổng số lượt dương tính lên tới 
437 lượt. Tỉ lệ học sinh mắc viêm mũi dị ứng 
phản ứng dương tính với dị nguyên mạt bụi 
nhà là cao nhất chiếm 48,28%, thấp nhất là 
dị nguyên nấm 1,14%. Tỉ lệ này tương đồng 
ở 2 nhóm nam và nữ. Kết quả này phù hợp 
với kết quả của Nguyễn Ngọc Chức [5] với 
hai loại dị nguyên là bụi bông và bụi nhà 
thấy kết quả dương tính với dị nguyên bụi 
nhà cao hơn dị nguyên bụi bông. Dị nguyên 
bụi nhà là loại dị nguyên gây VMDƯ quanh 
năm, còn dị nguyên bụi bông và lông vũ 
thuộc loại dị nguyên gây VMDƯ nghề 
nghiệp (gây VMDƯ cho công nhân các xí 
nghiệp may, chế biến lông vũ). Với sự phát 
triển của xã hội, các sản phẩm tiêu dùng sử 
dụng hàng ngày được chế biến từ sợi bông, 
lông vũ càng được sử dụng nhiều trong 
cộng đồng góp phần làm tỷ lệ dương tính 
với hai loại dị nguyên trên tăng, và trên một 
78 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018)
THỰC TRẠNG VIÊM MŨI DỊ ỨNG Ở HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ VINH, 
TỈNH NGHỆ AN NĂM 2015
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Lương Sĩ Cần (1998), Viêm mũi dị ứng, Tập bài giảng Tai Mũi Họng, chủ biên, NXB 
Y học Hà nội, tr. 2-9
2. Nguyễn Văn Hướng (1991), “Góp phần nghiên cứu nguyên nhân, chẩn đoán và điều 
trị viêm mũi dị ứng”, Luận án PTS Y học. Đại học Y Hà Nội.
3. Vũ Minh Thục và csự (2004), “Đánh giá hiệu quả điều trị miễn dịch đặc hiệu đường 
tiêm ở bệnh nhân Viêm mũi dị ứng do dị nguyên mạt bụi nhà D.pteronyssinus”, Đề 
tài cấp bộ.
4. Nguyễn Thanh Hải và Phạm Thị Minh Hồng (2007), “Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh hen 
phế quản, viêm mũi dị ứng và chàm ở trẻ em 13-14 tuổi tại thành phố Cần Thơ”, Tạp 
chí Y học thực hành. 8, tr. 12-14.
5. Nguyễn Ngọc Chức và cộng sự (2008), Thực trạng viêm mũi dị ứng và hen phế quản 
của học sinh trung học cơ sở thành phố Thái Bình, Tỉnh Thái Bình.
6. Vũ Trung Kiên và Nguyễn Ngọc Chức (2009), Thực trạng mắc hen phế quản, viêm 
mũi dị ứng và một số yếu tố liên quan ở trẻ em 11-14 tuổi tại Thành phố Thái Bình, 
Luận văn Thạc sĩ, Đại học Y Thái Bình.
7. Vũ Trung Kiên, Vũ Minh Thục và Phạm Kiên Hữu (2012), “Tỷ lệ viêm mũi dị ứng và 
các yếu tố liên quan của học sinh trung học cơ sở thành phố Thái Bình năm 2012”. 
Luận án tiến sỹ Y học, Đại học Y Thái Bình.
đối tượng có thể phản ứng với nhiều loại dị 
nguyên. Học sinh chủ yếu dương tính với 
đa dị nguyên chiếm 69,15% trong đó nhiều 
nhất là dương tính 2 loại dị nguyên chiếm 
56,88%, phản ứng dương tính 3 loại dị 
nguyên là 10,78%, có 1,49% dương tính với 
4/4 loại dị nguyên ( p<0,01). Dị ứng thường 
xảy ra trên một cơ địa atopi, từ khai thác 
tiền sử dị ứng thầy thuốc có thể nhận định 
một cơ thể dị ứng hay không, kết hợp với 
ảnh hưởng của môi trường xung quanh giúp 
định hướng một hoặc một nhóm dị nguyên 
nghi ngờ. Vì vậy, khi phát hiện HS có dị ứng 
thường các cháu dị ứng với một nhóm dị 
nguyên trên nền là cơ thể atopi.
V. KẾT LUẬN
Trong tổng số 3366 học sinh tham gia 
vào nghiên cứu, tỉ lệ viêm mũi dị ứng là 
15,3%, cao nhất ở trường THCS Trường Thi 
19,83% và thấp nhất ở trường THCS Nguyễn 
Trường Tộ 13,00%. Các học sinh nam và nữ 
mắc VMDƯ với tỷ lệ tương đương nhau 
thêm vào đó học sinh chủ yếu dương tính 
với dị nguyên Mạt bụi nhà và dị ứng với đa 
dị nguyên (69,15%).
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018) I 79
NGHIÊN CỨU
8. A. G. Palma-Carlos, M Branco-Ferreira và M L Palma-Carlos (2001), “Allergic 
rhinitis and asthma: more similarities than differences”, Allergie et immunologie 
1/07/200107. 33(6), tr. 237.
9. Stephen Holgate và các cộng sự (2005), “The anti-inflammatory effects of omalizumab 
confirm the central role of IgE in allergic inflammation”, The Journal of allergy and 
clinical immunology. 01/04/200504. 115(3), tr. 495-65.
10. A. G. Togias (2003), “Rhinitis and asthma: evidence for respiratory system 
intergration”, J ALLERGY CLIN IMMUNOL. 111, tr. 83.
80 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018)

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_viem_mui_di_ung_o_hoc_sinh_trung_hoc_co_so_tai_th.pdf