Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở trẻ HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Nhi Trung ương

Mục tiêu: Mô tả thực trạng và phân tích một số yếu tố liên quan tới tuân thủ điều trị ARV

của trẻ HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Nhi Trung ương.

Phương pháp: Mô tả cắt ngang có phân tích. Trẻ có xét nghiệm khẳng định nhi m HIV

đang điều trị ngoại trú tại phòng khám ngoại trú - Bệnh viện Nhi Trung ương

Kết quả nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu cho thấy 63% trẻ HIV/AIDS tuân thủ điều trị và

37% trẻ chưa tuân thủ điều trị ARV. Qua phân tích hồi qu đa biến logistic tìm được 3 yếu

tố có liên quan đến sự không tuân thủ điều trị của bệnh nhi bao gồm; thời gian điều trị

ngắn dưới 1 năm (OR: 17,1; 95% CI: 2,26-75,5 và p < 0,01);="" thời="" gian="" chờ="" đợi="" lấy="">

quá dài (OR: 19,3; 95%CI: 7,9-50,9 và p < 0,01);="" người="" chăm="" sóc="" chính="" có="" tuổi="" ≥="">

(OR= 42,3; 95% CI từ 17,9-120,1 và p <>

Kết luận: Tỷ lệ tuân thủ điều trị của trẻ HIV/AIDS là 63%; các mô hình can thiệp tư vấn

nên được tập trung vào nhóm trẻ mới mắc, có thời gian điều trị dưới 1 năm và bệnh nhi có

người chăm sóc chính trên 50 tuổi để nâng cao tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc

pdf 7 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở trẻ HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Nhi Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở trẻ HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Nhi Trung ương

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở trẻ HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Nhi Trung ương
 Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 27-33 
27 
Research Paper 
Reality and some Factors Related to Treatment Adherence 
in HIV/AIDS Children at Outpatient Clinic, 
Vietnam National Children’s Hospital 
Tran Thi Ngoc*, Do Thien Hai, Tran Thi Duyen, Nguyen Le Chinh 
Vietnam National Children's Hospital, 18/879 La Thanh, Dong Da, Hanoi, Vietnam 
Received 11 August 2020 
Revised 22 August 2020; Accepted 28 August 2020 
Abstract 
Purpose: To characterize the prevalence and factors associated with ARV adherence in 
HIV/AIDS-infected children at outpatient clinics, Vietnam National Children's Hospital. 
Methods: A cross-sectional study was conducted at outpatient clinics, Vietnam National 
Children's Hospital in 2019. 
Results: The results showed that 63% of HIV/AIDS infected children adhered to 
treatment and 37% of them did not adhere to ARV. The study investigated the relevance of 
11 factors and found 5 factors related to pediatric noncompliance, including a short 
treatment period of less than 1 year (OR: 17.1; 95% CI: 2,26-75,5 and p < 0,01); waiting 
time for taking drugs was too long (OR: 19.3; 95% CI: 7.9-50.9 and p < 0.01); main 
caregivers aged ≥ 50 (OR = 42.3; 95% CI from 17.9-120.1 and p < 0.01. 
Conclusions: The prevalence of ARV adherence in HIV/AIDS-infected children was 
63%. Counseling intervention models to improve drug treatment compliance should be 
concentrated on newly infected children, treatment duration was less than 1 year and their 
primary caregivers over 50 years old. 
Keywords: Adherence to treatment; patients; HIV; ARV. 
*
_______ 
*
 Corresponding author. 
 E-mail address: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i5.224 
T.T. Ngoc et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 27-33 
28 
Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị 
ở trẻ HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú 
Bệnh viện Nhi Trung ương 
Trần Thị Ngọc*, Đỗ Thiện Hải, Trần Thị Du ên, Ngu n ệ Chinh 
Bệnh viện Nhi Trung ương, 18/879 La Thành, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam 
Nhận ngà 11 tháng 7 năm 2020 
Chỉnh sửa ngà 12 tháng 8 năm 2020; Chấp nhận đăng ngà 28 tháng 8 năm 2020 
Tóm tắt 
Mục tiêu: Mô tả thực trạng và phân tích một số yếu tố liên quan tới tuân thủ điều trị ARV 
của trẻ HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Nhi Trung ương. 
Phương pháp: Mô tả cắt ngang có phân tích. Trẻ có xét nghiệm khẳng định nhi m HIV 
đang điều trị ngoại trú tại phòng khám ngoại trú - Bệnh viện Nhi Trung ương 
Kết quả nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu cho thấy 63% trẻ HIV/AIDS tuân thủ điều trị và 
37% trẻ chưa tuân thủ điều trị ARV. Qua phân tích hồi qu đa biến logistic tìm được 3 yếu 
tố có liên quan đến sự không tuân thủ điều trị của bệnh nhi bao gồm; thời gian điều trị 
ngắn dưới 1 năm (OR: 17,1; 95% CI: 2,26-75,5 và p < 0,01); thời gian chờ đợi lấy thuốc 
quá dài (OR: 19,3; 95%CI: 7,9-50,9 và p < 0,01); người chăm sóc chính có tuổi ≥ 50 
(OR= 42,3; 95% CI từ 17,9-120,1 và p < 0,01). 
Kết luận: Tỷ lệ tuân thủ điều trị của trẻ HIV/AIDS là 63%; các mô hình can thiệp tư vấn 
nên được tập trung vào nhóm trẻ mới mắc, có thời gian điều trị dưới 1 năm và bệnh nhi có 
người chăm sóc chính trên 50 tuổi để nâng cao tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc. 
Từ khóa: Tuân thủ điều trị; bệnh nhi; HIV; ARV. 
1. Đặt vấn đề* 
Điều trị cho người nhi m HIV/AIDS 
bằng thuốc kháng retro virus (ARV) [1] 
giúp chống lại sự nhân lên của virus HIV và 
kéo dài cuộc sống của người bệnh. Những 
nghiên cứu gần đâ cho thấ điều trị ARV 
cho người nhi m HIV là liệu pháp dự phòng 
lâ nhi m tốt, làm giảm tử vong do AIDS 
và cả các bệnh liên quan đến AIDS. Duy trì 
nồng độ thuốc ARV trong máu nhằm ức chế 
tối đa sự nhân lên của virus HIV, giúp hệ 
mi n dịch được phục hồi, từ đó phòng ngừa 
_______ 
* Tác giả liên hệ. 
 Địa chỉ email: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i5.224 
các bệnh nhi m trùng cơ hội, cải thiện chất 
lượng cuộc sống cho người bệnh và tăng tỷ 
lệ sống sót [2, 3]. 
Tuân thủ điều trị cho trẻ em là một vấn 
đề phức tạp, bởi trẻ em chưa có đủ nhận 
thức về bệnh cũng như cách thức điều trị. 
Mặc dù đã có một số nghiên cứu trong nước 
và quốc tế về vấn đề tuân thủ điều trị ARV 
ở trẻ em nhưng trong bối cảnh nguồn lực 
cho phòng, chống HIV/AIDS chủ ếu dựa 
vào viện trợ của quốc tế đang cắt giảm 
nhanh, trong khi các nguồn tài chính trong 
nước (NSNN, BHYT) chưa kịp bù đắp thiếu 
hụt tài chính kết hợp với việc chu ển giao 
các dịch vụ HIV/AIDS từ nhà tài trợ sang 
cho quốc gia, công tác điều trị được chu ển 
từ hệ thống dự phòng sang hệ thống điều trị 
T.T. Ngoc et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 27-33 
29 
ít nhiều tha đổi qu trình, thủ tục hành 
chính đã phần nào ảnh hưởng đến du trì 
điều trị ARV của bệnh nhân. 
Chính vì vậ , chúng tôi tiến hành nghiên 
cứu nà nhằm mục tiêu: “Mô tả thực trạng 
tuân thủ điều trị ARV và một số ếu tố liên 
quan đến tuân thủ điều trị ở trẻ HIV/AIDS 
tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Nhi 
Trung ương”. 
2. Đối tượng và phương pháp 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn 
Trẻ HIV/AIDS từ 1 tháng tuổi đến 16 
tuổi đang điều trị ARV với thời gian từ 3 
tháng trở lên. Đối tượng là người chăm sóc 
chính của trẻ đang điều trị ARV tại phòng 
khám hợp tác và đồng ý trả lời bộ câu hỏi 
phỏng vấn. 
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ 
Không phải là người chăm sóc chính. 
Không đồng ý trả lời bộ câu hỏi phỏng vấn. 
Trẻ được điều trị thuốc ARV có thời gian 
dưới 3 tháng. 
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 
01/01/2019 - 30/10/2019 tại phòng khám 
ngoại trú Trung tâm Y học lâm sàng bệnh 
nhiệt đới trẻ em- Bệnh viện Nhi Trung ương. 
2.3. Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu được thiết kế là mô tả cắt 
ngang, có phân tích. 
2.4. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 
2.4.1. Cỡ mẫu 
Cỡ mẫu được tính theo công thức cho 
nghiên cứu mô tả như sau: 
Trong đó, n: Số lượng người chăm sóc 
chính, cũng là số trẻ nhi m HIV điều trị 
ngoại trú. p: Tỷ lệ ước tính tuân thủ điều trị 
ARV tốt; giá trị p được lấ theo nghiên cứu 
của tác giả Đoàn Thị Thù inh (năm 2011) 
là 78,9%. d: Khoảng sai lệch mong muốn, 
d = Ɛp, lấ Ɛ = 0,1. Độ tin cậ 99% thì 
α = 0,01 => Z(1-α/2) = 2,58.Cỡ mẫu tính được 
bao gồm 185 trẻ và cũng bao gồm 185 
người chăm sóc chính cho trẻ. Cộng thêm 
10% dự kiến trẻ không hợp tác, số mẫu là 
205. Thực tế trong 6 tháng đầu năm 2019 
chúng tôi lấ được 219 trẻ HIV điều trị 
ngoại trú để nghiên cứu. 
2.4.2. Cách chọn mẫu 
Cách chọn mẫu thuận tiện, lấ lần lượt 
trẻnhi m HIV đang điều trị ARV tại phòng 
khám ngoại trú Trung tâm Y học lâm sàng 
bệnh nhiệt đới trẻ em- Bệnh viện Nhi Trung 
ương cho đến khi đủ số lượng mẫu. 
2.5. Những tiêu chuẩn, chỉ tiêu sử dụng 
trong nghiên cứu 
Phân chia nhóm tuổi: Theo cách phân 
chia thông thường trong nghiên cứu nhi 
khoa, gồm <1 tuổi; 1- <3 tuổi; 3 - <5 tuổi; 
5-<10 tuổi và 10 -<16 tuổi. 
Xác định tình trạng dinh dưỡng dựa vào 
cân nặng và chiều cao của trẻ bệnh và phân 
loại theo chuẩn tăng trưởng của WHO, gồm 
các tình trạng: Bình thường; nhẹ cân; gầ 
còm; thấp còi; thừa cân, béo phì. 
Xác định có bệnh kèm theo theo kết quả 
khám và chẩn đoán của bác sĩ 
Giai đoạn bệnh: Theo Hướng dẫn chẩn 
đoán, điều trị HIV/AIDS - Bộ tế. 
Tuân thủ điều trị thuốc ARV là việc 
người bệnh uống đúng thuốc, đúng liều, 
đúng giờ, đúng cách theo chỉ định của bác 
sỹ, đến khám và làm xét nghiệm theo lịch 
hẹn. Không đúng 1 trong các điều kiện trên 
là không tuân thủ điều trị. Việc tuân thủ và 
T.T. Ngoc et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 27-33 
30 
không tuân thủ điều trị của trẻ bệnh được 
xác định theo tiêu chuẩn của WHO và theo 
hướng dẫn của BYT. 
Phương pháp và công cụ thu thập số 
liệu: Thu thập thông tin định lượng bằng 
cách sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn 
để phỏng vấn người chăm sóc trẻ. Với trẻ từ 
8 tuổi, nếu có thể trả lời sẽ phỏng vấn trực 
tiếp trẻ. ấ thông tin thứ cấp từ hồ sơ bệnh 
án điều trị ngoại trú của từng trẻ sử dụng 
phiếu thu thập thông tin thứ cấp theo mẫu 
thống nhất. 
2.6. Xử lý và phân tích số liệu 
Số liệu được xử lý trên phần mềm Stata 
14.1 (StataCorp). Sử dụng phương pháp 
thống kê mô tả và phân tích, kết quả được 
trình bà dưới dạng tần số, tỷ lệ %, giá trị 
trung bình. Phân tích ếu tố liên quan dựa 
vào các chỉ số: Tỷ suất chênh OR (Odd 
ratio), khoảng tin cậ CI, 95% và giá trị 
“p”. Hồi qu đa biến ogistic được áp dụng 
để xác định các ếu tố liên quan đến tuân 
thủ điều trị của trẻ. Số liệu thu thập được 
mã hóa, bảo mật và chỉ phục vụ phân tích 
cho nghiên cứu. 
2.7. Đạo đức nghiên cứu 
Nghiên cứu tìm ra các ếu tố ảnh hưởng 
đến tuân thủ điều trị giúp nhân viên tế giải 
qu ết vấn đề tốt hơn và không ảnh hưởng gì 
đến trẻ và gia đình. Nghiên cứu được hội 
đồng đạo đức nghiên cứu sinh Bệnh viện 
Nhi Trung ương phê du ệt. 
3. Kết quả 
Bảng 1. Tuổi và giới tính của trẻ HIV/AIDS trong NC (n = 219) 
Nhóm tuổi 
Trẻ trai Trẻ gái Chung 
Số BN Tỷ lệ % 
Số 
BN 
Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ % 
<1 tuổi 2 1,7 5 4,9 7 3,2 
1-<3 tuổi 2 1,7 5 4,9 7 3,2 
3-<5 tuổi 6 6,1 5 4,9 11 5,0 
5 –<10 tuổi 36 30,8 21 20,6 57 26,0 
10 –<16 tuổi 71 60,7 66 64,7 137 62,6 
Tuổi trung bình 9,2±3,2 
Tổng số 117 53,4 102 46,6 219 100,0 
Tỷ lệ trẻ theo giới gần tương đương 
nhau, trẻnam chiếm 53,4% và trẻ nữ chiếm 
46,6%. Tỷ lệ trẻ tăng dần theo nhóm tuổi, 
thấp nhất nhóm dưới 1 tuổi (chiếm 3,2%) và 
cao nhất nhóm trẻ bệnh từ 10-16 tuổi chiểm 
tới 62,6%. Tại các nhóm tuổi, tỷ lệ trẻ là nữ 
cao hơn nam. Sự khác biệt không có ý 
nghĩa thống kê (p >0,05). 
Bảng 2. Tuân thủ điều trị ARV của trẻ HIV/AIDS (n = 219) 
Tuân thủ điều trị Số lượng trẻ Tỷ lệ % 
Tuân thủ dùng thuốc (n=219) 174 79,5 
Tuân thủ tái khám (n=219) 207 94,5 
Tuân thủ xét nghiệm (n=219) 217 99,1 
Tuân thủ điều trị chung 138 63,0 
Không tuân thủ điều trị 81 37,0 
Tổng 219 100,0 
T.T. Ngoc et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 27-33 
31 
Bảng 3. Mối liên quan giữa ếu tố ở trẻ và người chăm sóc chính 
đối với tuân thủ điều trị ở trẻ (n = 219) 
Tuổi 
Không tuân 
thủ ĐT 
Tuân thủ ĐT OR 
95% CI 
P 
SL % SL % 
≥10 tuổi 56 40,9 81 51,1 1,57 
0,85-2,95 
0,123 
<10 tuổi 25 30,5 57 69,5 
Thời gian điều trị 
< 1 năm 9 90,0 1 10,0 17,1 
2,26-75,5 
<0,01 
≥ 1 năm 72 34,4 137 65,6 
Số lần uống ARV mỗi ngà 
2 lần 72 36,5 125 63,5 0,83 
0,31-2,32 
0,687 
1 lần 9 40,9 13 59,1 
Thời gian chờ lấ thuốc 
Quá dài 44 84,6 8 15,4 19,3 
7,9-50,9 
<0,01 
Không dài 37 22,2 130 77,8 
Tuổi người chăm sóc chính 
≥ 50 tuổi 67 82,7 14 17,3 42,3 
17,9-120,1 
<0,01 
< 50 tuổi 14 10,1 124 89,9 
Quan hệ của người chăm sóc chính với bệnh nhi 
Không phải bố, me, ông bà 22 44,9 27 55,1 1,53 
0,75-3,06 
0,192 
 à bố, mẹ, ông, bà 59 34,7 111 65,3 
Học vấn của người chăm sóc chính 
Chưa tốt nghiệp THPT 44 34,4 74 65,6 1,02 
0,57-1,85 
0,920 
≥THPT 37 36,6 64 63,4 
Nghề nghiệp của người chăm sóc chính 
Nông dân, công nhân và nghề khác 79 39,9 119 60,1 3,5 
0,53-12,9 
0,535 Cán bộ, công chức, viên chức 2 9,5 19 90,5 
Tình trạng hôn nhân của người chăm sóc chính 
Đọc thân, li thân, li dị 42 45,2 51 54,8 1,03 
0,51-3,72 
0,245 
Kết hôn và sống cùng GĐ 39 30,9 87 69,1 
Tình trạng nhi m HIV của người chăm sóc chính 
Có nhi m 12 36,4 21 63,6 0,96 
0,40-2,21 
0,935 
Không nhi m 69 37,1 117 62,9 
Khoảng cách từ nhà tới bệnh viện 
≥100 km 18 47,4 20 52,6 1,68 
0,77-3,62 
0,145 
Dưới 100 km 63 34,8 118 65,2 
q 
Các ếu tố liên quan đến sự không tuân thủ 
điều trị của trẻ HIV bao gồm thời gian điều trị 
ngắn dưới 1 năm, thời gian chờ đợi lấ thuốc 
quá dài, và người chăm sóc chính có tuổi ≥50. 
T.T. Ngoc et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 27-33 
32 
4. Bàn luận 
Khảo sát 219 trẻ chúng tôi thấ tỷ lệ 
tuân thủ điều trị chiếm 63%, tỷ lệ nà là 
thấp và ảnh hưởng nhiều tới kết quả điều trị 
và tiến triển của trẻ bệnh. Tỷ lệ tuân thủ 
điều trị trong nghiên cứu của chúng tôi thấp 
hơn so với các nghiên cứu trước đó, 75,1% 
tại Hà Nội và 71,0% tại Hải Dương [4]. 
Phân tích số liệu thu được nhằm tìm ếu tố 
liên quan tới tình trạng tuân thủ điều trị dựa 
trên 2 nhóm vấn đề từ trẻ bệnh và người 
chăm sóc chính. Tỷ suất chênh của việc 
tuân thủ điều trị cao hơn 17 lần ở các trẻcó 
thời gian dùng thuốc trên 12 tháng so với 
các trẻcó thời gian dùng thuốc dưới 12 
tháng (p <0,05). Chúng tôi cho rằng có 
nhiều lý do phù hợp để giải thích cho kết 
quả nà . Có thể do thời gian điều trị lâu hơn 
giúp trẻ và gia đình thấ được hiệu quả của 
thuốc cũng như tiếp cận với tru ền thông 
tốt hơn. Ngoài ra, có thể những người điều 
trị dưới 12 tháng, bao gồm những người 
mới điều trị có thể đang chủ quan và chưa 
nhận thức đầ đủ về hiệu quả của việc điều 
trị ARV. Các biện pháp tiếp cận cụ thể đối 
với từng cá nhân đã nhi m HIV/AIDS là 
cần thiết để có thể cung cấp cho họ đầ đủ 
kiến thức tốt nhất về việc tuân thủ điều trị 
ARV. Kết quả của chúng tôi phù hợp với 
kết quả của tác giả của tác giả Ngu n Thị 
Xu ên và tác giả Ngu n Ngọc Quý [5], 
[6]. Ngoài ra, khi sử dụng mô hình hồi qu 
đa biến logistics, ếu tố được báo cáo là có 
liên quan đến tuân thủ điều trị ở trẻlà tuổi 
của người chăm sóc chính. Giải thích cho 
kết quả nà có thể do những người dưới 50 
tuổi thường có địa vị xã hội cũng như giáo 
dục tốt hơn trong môi trường hiện đại ngà 
na , do đó nhận thức của họ tốt hơn để hiểu 
về vai trò quan trọng của việc tuân thủ điều 
trị ARV đối với người đã nhi m HIV/AIDS. 
Các biện pháp tiếp cận cụ thể đối với từng 
cá nhân đã nhi m HIV/AIDS là cần thiết để 
có thể cung cấp cho họ đầ đủ kiến thức tốt 
nhất về việc tuân thủ điều trị ARV [6-8]. 
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nhận thấ rằng 
thời gian chờ thuốc không dài thì tuân thủ 
điều trị gấp 19,3 (95%CI: 7,9-50,9) lần so 
với nhóm có thời gian chờ đợi thuốc dài. 
Giải thích cho điều nà có thể do tâm lý của 
gia đình trẻ điều trị HIV, cũng như tâm lý 
chung của người Việt là mong muốn sự 
nhanh chóng và thuận tiện. 
Một nghiên cứu gần đâ của tác giả 
Trần Xuân Bách [9] đã chỉ ra, tình trạng 
công việc, tình trạng hôn nhân, khu vực 
sinh sống, thu nhập và tình trạng mi n dịch 
liên quan có ý nghĩa đối với không tuân thủ 
điều trị. Thực tế, nhiều ếu tố có ý nghĩa 
trong mô hình được tìm ra bởi tác giả bởi 
tính chất rộng lớn và đại diện của cỡ mẫu, 
cụ thể, tác giả đã thực hiện trên đối tượng là 
những người đang điều trị ARV tại 7 bệnh 
viện và trung tâm tế cung cấp dịch vụ điều 
trị bằng thuốc kháng vi-rút tại ba tỉnh, bao 
gồm Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ 
Chí Minh. 
Nghiên cứu nà sử dụng cả hai nguồn số 
liệu sơ cấp (phỏng vấn trực tiếp) và thứ cấp 
(hồ sơ bệnh án của bệnh nhân), do vậ 
thông tin thu thập được có thể bổ trợ cho 
nhau, qua đó nhìn nhận một cách toàn diện 
tình hình chăm sóc, điều trị tại phòng khám 
ngoại trú tại Bệnh viện Nhi Trung ương, tỷ 
lệ tuân thủ điều trị và các ếu tố ảnh hưởng 
để từ đó đưa ra được các biện pháp can 
thiệp, cũng như cải tiến thiết thực nhất. 
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp đối với 
người chăm sóc chính của trẻ, kết hợp được 
sử dụng trong nghiên cứu có ưu điểm giúp 
người chăm sóc chính của trẻ d dàng chia 
sẻ hơn trong việc trao đổi thông tin về việc 
uống thuốc ha các hành vi cá nhân khác 
của trẻ, phương pháp phỏng vấn trực tiếp 
giúp hạn chế được khả năng đối tượng 
không hiểu ha không biết mà cứ khoanh 
vào tất cả các nội dung theo êu cầu của 
T.T. Ngoc et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 27-33 
33 
người bên cạnh hoặc một người tự điền 
nhiều phiếu. Hơn nữa điều tra viên là người 
trực tiếp làm nghiên cứu, làm việc tại trung 
tâm học lâm sàng các bệnh nhiệt đới trẻ 
em có kinh nghiệm trong điều tra nghiên 
cứu HIV/AIDS nên các thông tin thu được 
đảm bảo tính khách quan và sát thực hơn. 
5. Kết luận 
Chúng tôi nhận thấ tỷ lệ tuân thủ điều 
trị của trẻ HIV/AIDS là 63%. Điều dưỡng 
làm việc tại phòng khám ngoại trú trung 
tâm Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới trẻ 
em cần chú ý tư vấn thêm cho trẻ 
HIV/AIDS và gia đình trẻ về tầm quan 
trọng của việc tuân thủ điều trị. Từ kết quả 
phân tích hồi qu đa biến logistics, chúng 
tôi khu ến cáo tập trung các mô hình can 
thiệp tư vấn cho trẻ mới mắc, thời gian điều 
trị còn dưới 1 năm và bệnh nhi có người 
chăm sóc chính trên 50 tuổi để nâng cao tỷ 
lệ tuân thủ điều trị thuốc. 
Tài liệu tham khảo 
[1] Hanh PTV. Study on some clinical and 
laboratory epidemiological factors in children 
infected with HIV/AIDS at the Vietnam 
National Children’s Hospital and Hai Phong 
Children's Hospital. Thesis Specialist Level 
II, Hanoi Medical University; 2004. 
(in Vietnamese) 
[2] Xuyen NT. Survey of patients' use of ARV 
drugs and adherence to treatment at 
outpatient HIV / AIDS treatment clinics, Bac 
Giang Center for Disease Control. Thesis 
Specialized Pharmacist Level I. Hanoi 
University of Pharmacy; 2017. 
(in Vietnamese) 
[3] Hoa MD, Cuong PV. ART adherence among 
people living with HIV/AIDS in Ha Noi and 
Hai Duong: situation and associated factors. J 
Pract Med Hanoi 2011;242&243:5. 
[4] Quy NN. Survey on ARV use and treatment 
compliance of patients in outpatient clinics 
for HIV / AIDS Tran Yen Medical Center - 
Yen Bai, Thesis of Specialized Pharmacist 
Level I. Hanoi University of Pharmacy; 2018. 
(in Vietnamese) 
[5] Biadgilign S, Amare D, Amberbir A et al. 
Adherence to highly active antiretroviral 
therapy and its correlates among HIV 
infected pediatric patients in Ethiopia. 
BMC Pediatrics 2008;8:53. https://doi.org 
/10.1186/1471-2431-8-53 
[6] Davies MA, Boulle A, Fakir T et al. 
Adherence to antiretroviral therapy in young 
children in Cape Town, South Africa, 
measured by medication return and caregiver 
self-report: aprospective cohort study. BMC 
pediatrics 2008;8:34. https:// doi.org/10. 
1186/1471-2431-8-34 
[7] Goldman JD, Cantrell RA, Mulenga LB et al. 
Simple adherence Assessments to predict 
Virologic Failure among HIV-infected 
Adults with Discordant Immunologic and 
Clinical Responses to Antiretroviral 
Therapy. AIDS Res Hum Retroviruses 2008 
Aug;24(8):1031-1035. https://doi.org/10.10 
89/aid.2008.0035. 
[8] Bach TX, Long NT, Nga NH et al. 
Determinants of antiretroviral treatment 
adherence among HIV/AIDS patients: a 
multisite study. Glob Health Action. 
2013;6:19570. https://doi.org/10.3402/gha. 
v6i0.19570. 

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_den_tuan_thu_dieu_tri.pdf