Thực trạng tuân thủ điều trị của trẻ động kinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương

Mục tiêu: Đánh giá tuân thủ điều trị và tái khám theo hẹn của trẻ động kinh tại Bệnh viện

Nhi Trung ương năm 2019.

Đối tượng: Thực hiện 01 nghiên cứu cắt ngang trên bệnh nhi và người chăm sóc chính

đến khám và điều trị tại Khoa thần kinh, Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 01/2019 đến

tháng 12/2019.

Kết quả: Tuổi trung bình là 74,3 ± 45,1 (tháng tuổi). Nhóm tuổi thường gặp nhất là nhóm

2-6 tuổi (40,5%), thấp hơn là nhóm 6-12 tuổi (30,0%), các nhóm còn lại có tỷ lệ thấp. Tỷ

lệ nam: nữ là 1,43:1. Hầu hết người chăm sóc chính là cha mẹ (92,5%). Thời gian điều trị

trung bình là 20,4 ± 15,7 tháng, tỷ lệ trẻ tuân thủ điều trị tốt 43,5%, 31,5% trẻ tuân thủ

điều trị trung bình và 25,0% tuân thủ điều trị kém, trong vòng 6 tháng có 40,5% trẻ tái

khám đúng hẹn. Lý do không tuân thủ tái khám đúng hẹn chủ yếu do người nuôi dưỡng

bận việc hoặc trẻ bận học (37,8%) và khoảng cách từ nhà tới bệnh viện xa (26,1%)

Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị và tái khám không cao. Các yếu tố liên quan

có ý nghĩa thống kê với việc không tuân thủ điều trị thuốc ở trẻ em đó là: mức độ bảo hiểm

y tế, tuổi khởi phát cơn, thời gian điều trị bệnh và tần suất cơn sau điều trị bệnh.

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng tuân thủ điều trị của trẻ động kinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thực trạng tuân thủ điều trị của trẻ động kinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương

Thực trạng tuân thủ điều trị của trẻ động kinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương
 Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 49-54 
49 
Research Paper 
Current Situation of Treatment 
and Follow-up Re-examination of Children 
with Epilepsy at Vietnam National Children’s Hospital 
Tran Thi Huyen1,*, Cao Vu Hung2, Tran Van Hoc2, Nguyen Danh Ngon2 
1
Thai Bình Children's Hospital, No 2 Ton That Tung, 
Tran Lam, Thai Binh City, Thai Binh, Vietnam 
2
Vietnam National Children's Hospital, 18/879 La Thanh, Dong Da, Hanoi, Vietnam 
Received 17 August 2020 
Revised 24 August 2020; Accepted 03 September 2020 
Abstract 
Purpose: To assess treatment compliance and follow-up appointment of children with 
epilepsy at Vietnam National Children’s Hospital in 2019. 
Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on pediatric patients and 
primary caregivers came for examination and treatment at the Neurology Department, 
Vietnam National Children’s Hospital from January 2019 to December 2019. 
Results: Mean age was 74.3 ± 45.1 (month age). The most common age group was the 2-6 
year old group (40.5%), the lower rate was the 6-12 year old group (30.0%), and rest 
groups was the low rate. The male: female ratio is 1.43:1. Most of the main caregivers are 
parents (92.5%). Average treatment time was 20.4 ± 15.7 months, the rate of good 
adherence to treatment 43.5%, 31.5% of children had moderated adhering to treatment and 
25.0% had poor adhering to treatment. Within 6 months, 40.5% of children re-examined on 
time. The reasons for not complying with on-time re-examination were mainly due to the 
caregiver's busy work or the child was busy at school (37.8%) and the distance from home 
to hospital (26.1%). 
Conclusions: The percentage of patients who complied with treatment and re-examination 
is not high. Factors that were statistically significant for children's non-compliance are 
health insurance level, age of onset, duration of treatment, and frequency of attacks 
following treatment. 
Keywords: Treatment compliance, re-examination, epilepsy, children
1 
_______ 
* Corresponding author. 
 E-mail address: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/ jprp.v4i5.232 
T.T. Huyen et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 49-54 
50 
Thực trạng tuân thủ điều trị của trẻ động kinh 
tại Bệnh viện Nhi Trung ương 
Trần Thị Huyền1,*, Cao Vũ Hùng2, Trần Văn Học2, Nguyễn Danh Ngôn2 
1Bệnh viện Nhi Thái Bình, Số 02 phố Tôn Thất Tùng, Trần Lãm, 
Thành phố Thái Bình, Thái Bình, Việt Nam 
2Bệnh viện Nhi Tr ng ng, La Thành, ống a, à N i, Việt Nam 
Nhận ngày 17 tháng 8 năm 2020 
Chỉnh sửa ngày 24 tháng 8 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 3 tháng 9 năm 2020 
Tóm tắt 
Mục tiêu: Đánh giá tuân thủ điều trị và tái khám theo hẹn của trẻ động kinh tại Bệnh viện 
Nhi Trung ương năm 2019. 
Đối tượng: Thực hiện 01 nghiên cứu cắt ngang trên bệnh nhi và người chăm sóc chính 
đến khám và điều trị tại Khoa thần kinh, Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 01/2019 đến 
tháng 12/2019. 
Kết quả: Tuổi trung bình là 74,3 ± 45,1 (tháng tuổi). Nhóm tuổi thường gặp nhất là nhóm 
2-6 tuổi (40,5%), thấp hơn là nhóm 6-12 tuổi (30,0%), các nhóm còn lại có tỷ lệ thấp. Tỷ 
lệ nam: nữ là 1,43:1. Hầu hết người chăm sóc chính là cha mẹ (92,5%). Thời gian điều trị 
trung bình là 20,4 ± 15,7 tháng, tỷ lệ trẻ tuân thủ điều trị tốt 43,5%, 31,5% trẻ tuân thủ 
điều trị trung bình và 25,0% tuân thủ điều trị kém, trong vòng 6 tháng có 40,5% trẻ tái 
khám đúng hẹn. Lý do không tuân thủ tái khám đúng hẹn chủ yếu do người nuôi dưỡng 
bận việc hoặc trẻ bận học (37,8%) và khoảng cách từ nhà tới bệnh viện xa (26,1%) 
Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị và tái khám không cao. Các yếu tố liên quan 
có ý nghĩa thống kê với việc không tuân thủ điều trị thuốc ở trẻ em đó là: mức độ bảo hiểm 
y tế, tuổi khởi phát cơn, thời gian điều trị bệnh và tần suất cơn sau điều trị bệnh. 
Từ khóa: Tuân thủ điều trị, tái khám, động kinh, trẻ em. 
1. Đặt vấn đề* 
Động kinh là bệnh lý thần kinh trung 
ương thườn gặp, chiếm khoảng 0,5% dân số 
toàn cầu, trong đó 75% tại các nước đang 
phát triển [1]. Bệnh động kinh có thể xảy ra ở 
mọi lứa tuổi tuy nhiên tỷ lệ ở trẻ em cao hơn 
người lớn. Các nghiên cứ của tác giả trong và 
ngoài nước cho thấy có thể điều trị thành 
công với thuốc chống động kinh 
_______ 
* Tác giả liên hệ. 
 ịa chỉ email: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/ jprp.v4i5.232 
[2-4]. Những trường hợp thất bại thường là 
bởi sự kém tuân thủ điều trị của người bệnh 
[5]. Tuy nhiên, khác với người lớn, trẻ em 
thường có sự tuân thủ điều trị kém hơn. Hiện 
tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về 
vấn đề này, đặc biệt là ở trẻ em. Chính bởi 
vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm 
mục tiêu: “Đánh giá tuân thủ điều trị và tái 
khám theo hẹn của trẻ động kinh tại Bệnh 
viện Nhi Trung ương năm 2019”. 
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 
T.T. Huyen et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 49-54 
51 
2. . ối t ợng, địa điểm và thời gian 
nghiên cứ 
Bệnh nhi và người chăm sóc chính đến 
khám, điều trị tại khoa Thần kinh, Bệnh viện 
Nhi Trung ương từ tháng 01/2019 đến tháng 
12/2019. 
2.1. 1. Tiêu chuẩn lựa chọn 
- Trẻ được bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán 
động kinh bằng lâm sàng và/hoặc điện 
não đồ. 
- Trẻ đang điều trị ít nhất một thuốc chống 
động kinh tối thiểu 6 tháng. 
- Trẻ có sổ khám bệnh với đầy đủ thông 
tin về chẩn đoán, đơn thuốc và ngày tái khám 
trong đó có ít nhất 2 đơn kèm ngày hẹn tái 
khám trong 6 tháng gần nhất với thời điểm 
lấy số liệu. 
- Người chăm sóc chính của bệnh nhi hợp 
tác, đồng ý tham gia nghiên cứu. 
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ 
- Trẻ không đủ tiêu chuẩn chấn đoán. 
- Trẻ chưa được điều trị thuốc chống 
động kinh. 
- Trẻ được chẩn đoán và điều trị thuốc 
chống động kinh tại cơ sở y tế khác. 
- Sổ khám bệnh không đầy đủ. 
- Người chăm sóc chính của bệnh nhi 
không đồng ý tham gia nghiên cứu. 
2.2. Ph ng pháp nghiên cứ 
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 
Mô tả cắt ngang. 
2.2.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu 
Tính theo công thức cỡ mẫu ước lượng 
một tỷ lệ: 
Cỡ mẫu nhóm trẻ cần khảo sát: n là cỡ 
mẫu tối thiểu cần điều tra, α là ý nghĩa thống 
kê, ở mức α = 0,05 giá trị Z tương ứng là 
1,96. p = 0,418 theo tỷ lệ tuân thủ điều trị tốt 
là 41,8% trong nghiên cứu của Trần Diệp 
Tuấn [1]. d là sai số mong đợi, lấy d = 0,07. 
Thay vào công thức tính được n = 191trẻ. 
Chúng tôi lấy tròn cỡ mẫu là 200 trẻ và 
bà mẹ. 
2.2.3. Nội dung và phương pháp thu thập 
Để đánh giá mức độ tuân thủ điều trị, 
nghiên cứu sử dụng bảng “The Morisky 8 
item medication adherence scale”. Bảng đánh 
giá này được dịch sang tiếng Việt, thay đổi 
cấu trúc cho phù hợp với người hỏi là người 
chăm sóc chính của trẻ. Tuân thủ điều trị kém 
khi tổng điểm < 6, trung bình khi 6-7 điểm và 
tốt khi đạt 8 điểm. 
Để đo lường tái khám theo hẹn, chúng tôi 
dựa vào các lần tái khám gần nhất trong vòng 
6 tháng trước thời điểm nghiên cứu. Theo 
WHO, khám đúng hẹn là khi đến khám đúng 
ngày được hẹn trước hoặc trước và sau ngày 
hẹn 1 ngày. Những trường hợp trễ hơn được 
xem là tái khám trễ. 
Bảng 1. Thang điểm đánh giá Morisky 
 Nội dung Đánh giá 
Bạn có thỉnh thoảng quên 
cho trẻ uống thuốc không? 
“Không” = 1; 
“Có” = 0 
Trong 2 tuần qua, bạn có 
quên cho trẻ uống thuốc 
ngày nào không? 
“Không” = 1; 
“Có” = 0 
Bạn có bao giờ tự ngưng 
thuốc mà không hỏi ý kiến 
“Không” = 1; 
“Có” = 0 
T.T. Huyen et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 49-54 
52 
bác sĩ khi cảm thấy trẻ co 
giật nhiều hơn khi uống 
thuốc không? 
Khi bạn và trẻ đi xa nhà 
vài ngày, bạn có quên 
mang thuốc theo không? 
“Không” = 1; 
“Có” = 0 
Ngày hôm qua, bạn có cho 
trẻ uống đầy đủ thuốc như 
trong đơn không? 
“Không” = 1; 
“Có” = 0 
Khi bạn thấy trẻ hết co 
giật, bạn có ngưng cho trẻ 
uống thuốc hay không? 
“Không” = 1; 
“Có” = 0 
Bạn có thấy việc cho trẻ 
uống thuốc mỗi ngày 
khiến bạn cảm thấy rắc rối 
phức tạp không? 
“Không” = 1; 
“Có” = 0 
Việc không nhớ cho trẻ 
uống thuốc xảy ra thường 
xuyên như thế nào? 
“Không bao giờ 
quên” = 4 
“Lâu lâu mới 
quên” = 3 
“Thỉnh thoảng” 
= 2 
“Thường 
xuyên” = 1 
“Ngày nào cũng 
quên” = 0 
Lấy điểm số 
chia cho 4. 
2.2.5. Xử lý số liệu 
Số liệu được nhập bằng phần mềm Epi 
data 3.1 và xử lý bằng phần mềm thống kê 
SPSS 20.0. 
3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận 
Việc tuân thủ điều trị khó có thể đo lường 
một cách chính xác. Có nhiều phương pháp 
đánh giá tuân thủ điều trị: trực tiếp, gián tiếp 
với nhiều ưu và nhược điểm riêng. Trong đó 
đánh giá qua báo cáo của bệnh nhân và người 
chăm sóc là thông dụng và dễ sử dụng nhất. 
Phương pháp này không xâm lấn, nhanh, rẻ 
tiền, có thể triển khai với cỡ mẫu lớn. Đây 
chính là lý do chúng tôi lựa chọn thang đo 
Morisky để đánh giá mức độ tuân thủ điều trị 
trẻ động kinh. 
3. . ặc điểm mỗi nghiên cứ 
Nghiên cứu của chúng tôi có 200 bệnh 
nhi, tuổi trung bình là 74,3 ± 45,1 (tháng 
tuổi). Nhóm tuổi thường gặp nhất là nhóm 
2-6 tuổi (40,5%), thấp hơn là nhóm 6-12 tuổi 
(30,0%), các nhóm còn lại có tỷ lệ thấp. Tỷ lệ 
nam: nữ là 1,43:1. Hầu hết người chăm sóc 
chính là cha mẹ (92,5%). Chỉ có 3,5% đang 
sống ly thân hoặc góa. Có 31,0% tốt nghiệp 
trung học phổ thông trở lên. 
Có 16,0% trẻ có tiền sử gia đình có người 
mắc động kinh hoặc sốt cao co giật. Phần lớn 
trẻ động kinh không có các bệnh lý kèm theo 
(78,0%). Hội chứng động kinh cục bộ chiếm 
tỷ lệ cao nhất với 55,0%, ít hơn là hội chứng 
động kinh toàn thể với 42,5% và thấp nhất là 
hội chứng động kinh đặc biệt (2,5%). Trung 
bình khởi phát cơn động kinh là 39,3 ± 31,2 
tháng tuổi. Đa số khởi phát trước 1 tuổi. 
Thời gian điều trị trung bình là 20,4 ± 
15,7 tháng, trong đó 40,0% dưới 1 năm. 
Thuốc chống động kinh được sử dụng nhiều 
nhất là sodium valproate (91,5%). Đa số trẻ 
chỉ uống 1 loại thuốc (72,5%) và uống 2 
lần/ngày (83,0%). Phần lớn trẻ uống không có 
tác dụng phụ (75,5%). 
3.2. Tỷ lệ t ân thủ điề trị 
Bảng 2. Tuân thủ điều trị của trẻ động kinh 
Tuân thủ điều trị Số lượng Tỷ lệ % 
Tuân thủ tốt 87 43,5 
Tuân thủ trung bình 63 31,5 
Tuân thủ kém 50 25,0 
Tính theo thang đo Morisky, có 43,5% trẻ 
tuân thủ điều trị tốt, 31,5% trẻ tuân thủ điều 
T.T. Huyen et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 49-54 
53 
trị trung bình và 25,0% tuân thủ điều trị kém. 
Các nghiên cứu về tuân thủ điều trị dùng 
thuốc ở trẻ em ít hơn người lớn, đặc biệt là về 
động kinh. Nghiên cứu tổng hợp của Shope 
(1981) về tuân thủ thuốc ở trẻ em từ 1960 đến 
1980 có 16 nghiên cứu nhưng chỉ có 5 nghiên 
cứu liên quan tới động kinh. Trong các 
nghiên cứu này, tỷ lệ tuân thủ dao động từ 
25% - 75% [5]. Nghiên cứu của Deogratias M 
Katabalo có phương pháp gần giống với 
chúng tôi cho thấy tỷ lệ tuân thủ tốt là 36,9%, 
trung bình là 39,8% và kém là 23,3% [6]. 
Trần Diệp Tuấn nghiên cứu sự tuân thủ điều 
trị của các trẻ khu vực miền Nam cũng cho ra 
kết quả tương đồng với nghiên cứu của chúng 
tôi [1]. 
Trong nghiên cứu này, lý do không tuân 
thủ điều trị chủ yếu do người nuôi dưỡng trẻ 
bận. Lý do không tuân thủ điều trị do người 
nuôi trẻ bận (37,2%), tự nhiên quên (24,8%), 
sợ tác dụng phụ (8,0%), quên khi đi xa 
(5,3%), nghĩ trẻ đã khỏi bệnh (2,6%), không 
muốn người khác biết trẻ bị bệnh (2,6%) và 
không mua được thuốc (1,8%). Kết quả này 
không có nhiều khác biệt so với các tác giả 
trong và ngoài nước khác [1,7]. 
3.3. Tỷ lệ t ân thủ tái khám 
Bảng 3. Tuân thủ tái khám của trẻ động kinh 
Tuân thủ tái khám Số lượng Tỷ lệ % 
Tái khám đúng hẹn 81 40,5 
Tái khám không 
đúng hẹn 
114 57,0 
Không tái khám 5 2,5 
Tái khám thường xuyên cũng là yếu tố 
quan trọng ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị. 
Việc tái khám thường xuyên giúp cho mối 
quan hệ bác sĩ - bệnh nhân chặt chẽ. Bác sĩ sẽ 
nắm rõ thông tin và giúp người bệnh nhận 
thức tốt hơn về tác dụng của uống thuốc đều 
đặn cũng như tác hại của việc bỏ điều trị. Qua 
nghiên cứu, chúng tôi thấy trong vòng 6 tháng 
có 40,5% trẻ tái khám đúng hẹn, 57,0% trẻ tái 
khám không đúng hẹn và 2,5% không 
tái khám. 
Lý do không tuân thủ tái khám đúng hẹn 
chủ yếu do người nuôi dưỡng bận việc hoặc 
trẻ bận học (37,8%) và khoảng cách từ nhà tới 
bệnh viện xa (26,1%). Các lý do khác như 
quên ngày tái khám (20,2%), còn thuốc đang 
uống (7,6%). Kết quả này cũng tương tự 
nghiên cứu của Trần Diệp Tuấn [1]. 
3.4. Các yế tố liên q an đến t ân thủ điề trị 
Bảng 4. Phân tích hồi quy đa biến 
các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị 
Yếu tố OR 95%CI p 
Nhóm tuổi 2-6 
tuổi 
2,12 1,06 – 4,34 
0,0
47 
Có bảo hiểm y tế 3,46 1,77 – 5,98 
0,0
02 
Tuổi khởi phát 
cơn < 10 tuổi 
3,07 1,25 – 6,87 
0,0
29 
Thời gian điều trị 
bệnh < 1 năm 
0,56 0,30 – 0,89 
0,0
38 
Tần suất cơn 
(không có 
cơn nào) 
0,48 0,21 – 0,76 
0,0
11 
Phân tích hồi quy logistic đa biến giữa các 
yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị khi kiểm 
soát các yếu tố còn lại cho thấy đều có ý 
nghĩa thống kê. Những bệnh nhân sử dụng 
dịch vụ có mức tuân thủ gấp 3,46 lần so với 
nhóm dùng bảo hiểm y tế. Có thể giải thích 
do người nuôi dưỡng trẻ chưa tin tưởng vào 
các loại thuốc chống động kinh trong diện 
bảo hiểm y tế, lo lắng về việc thuốc rẻ sẽ có 
nhiều tác dụng phụ. Những bệnh có cơn khởi 
phát trước 10 tuổi có mức tuân thủ gấp 3,07 
T.T. Huyen et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 49-54 
54 
lần so với nhóm khởi phát cơn sau 10 tuổi. 
Chúng tôi cho rằng ở lứa tuổi này, bố mẹ lo 
lắng về việc gián đoạn học tập của con do đó 
quan tâm nhiều hơn đến việc cho trẻ đi khám 
định kỳ, tránh ảnh hưởng đến kết quả trên 
lớp. Những bệnh nhân điều trị > 1 năm tuân 
thủ điều trị kém hơn 44% so với nhóm 
< 1 năm. Và những bệnh nhân kiểm soát 
không tốt cơn động kinh có tỷ lệ tuân thủ kém 
hơn 52% so với nhóm kiểm soát tốt. Cả hai 
điều trên đều dễ giải thích do bệnh nhân thấy 
tiến triển của bệnh tốt hơn do đó tin tưởng 
vào quá trình điều trị, bởi lẽ đó mức độ tuân 
thủ cũng cao hơn. 
4. Kết luận 
43,5% tuân thủ điều trị tốt, 40,5% tuân 
thủ tái khám theo hẹn. Các yếu tố liên quan 
có ý nghĩa thống kê với việc không tuân thủ 
điều trị thuốc ở trẻ em đó là: mức độ bảo 
hiểm y tế, tuổi khởi phát cơn, thời gian điều 
trị bệnh và tần suất cơn sau điều trị bệnh. 
Tài liệu tham khảo 
[1] Tuan TD. Assessment of treatment 
compliance and follow-up appointment for 
children with epilepsy at the Children's 
Hospital No.1. Journal of Medicine in Ho 
Chi Minh City 2016;20(1):172-179. (in 
Vietnamese) 
[2] Ferrari CM, Cardoso de Sousa RM, Castro 
LH. Factors associated with treatment non-
adherence in patients with epilepsy in 
Brazil. Seizure 2013;22(5):384-389. 
https://doi.org/10.1016/j.seizure.2013.02.006 
[3] Cramer JA, Glassman M, Rienzi V. The 
relationship between poor medication 
compliance and seizures. Epilepsy Behav 
2002;3(4):338-342. https://doi.org/10.1016 
/s1525-5050(02)00037-9 
[4] World Health Organization. Adherence to 
long-term therapies: evidence for action. 
Geneva; 2003, p. 81-87. 
[5] Shope JT. Medication compliance. 
Pediatric Clinics of North America 
1981;28:5-21. 
[6] Deogratias M, Katabalo. Determinants of 
adherence to anticonvulsants and 
compliance health psychology - Processes 
and Applications. London, Chapman & 
Hall; 2015, p. 74-102. 
[7] Liu L, Yiu CH, Yen DJ et al. Medication 
education for patients with epilepsy in 
Taiwan. Seizure 2003;12(7):473-477. 

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_tuan_thu_dieu_tri_cua_tre_dong_kinh_tai_benh_vien.pdf