Thực trạng tử vong và số năm sống tiềm tàng mất đi do ung thư tại một số phường trung tâm thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2014-2016
Mục tiêu: Phân tích số năm sống tiềm tàng mất
đi do ung thư tại một số phường trung tâm thành phố
Thái Nguyên trong giai đoạn 2014-2016. Phương
pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang được tiến hành
bằng cách hồi cứu số liệu quản lý tử vong tại trạm y
tế và ủy ban nhân dân các phường. Kết quả: Số ca
tử vong do ung thư trong giai đoạn 2014-2016 là 193
ca. Tổng số YLL do ung thư là 3007,8 năm, AYLL là
15,6 năm. Nữ giới có số năm mất đi trung bình cao
hơn nam giới. Nhóm tuổi từ 51-60 có YLL cao nhất
(chiếm 43,2%). Chỉ số YLL theo loại ung thư: ung thư
phổi chiếm tỷ lệ cao nhất (20,0%), tiếp theo là ung thư
gan, vòm họng, dạ dày, vú. Tính theo chỉ số AYLL thì
ung thư vú có AYLL cao nhất (29,8 năm), sau đó là
ung thư máu, cổ tử cung, vòm họng và gan. Kết luận
và khuyến nghị: Cần tăng cường công tác sàng lọc
ung thư; việc quản lý, theo dõi tử vong phải được thực
hiện đồng bộ và chính xác
Tóm tắt nội dung tài liệu: Thực trạng tử vong và số năm sống tiềm tàng mất đi do ung thư tại một số phường trung tâm thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2014-2016
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 131 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TÓM TẮT Mục tiêu: Phân tích số năm sống tiềm tàng mất đi do ung thư tại một số phường trung tâm thành phố Thái Nguyên trong giai đoạn 2014-2016. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang được tiến hành bằng cách hồi cứu số liệu quản lý tử vong tại trạm y tế và ủy ban nhân dân các phường. Kết quả: Số ca tử vong do ung thư trong giai đoạn 2014-2016 là 193 ca. Tổng số YLL do ung thư là 3007,8 năm, AYLL là 15,6 năm. Nữ giới có số năm mất đi trung bình cao hơn nam giới. Nhóm tuổi từ 51-60 có YLL cao nhất (chiếm 43,2%). Chỉ số YLL theo loại ung thư: ung thư phổi chiếm tỷ lệ cao nhất (20,0%), tiếp theo là ung thư gan, vòm họng, dạ dày, vú. Tính theo chỉ số AYLL thì ung thư vú có AYLL cao nhất (29,8 năm), sau đó là ung thư máu, cổ tử cung, vòm họng và gan. Kết luận và khuyến nghị: Cần tăng cường công tác sàng lọc ung thư; việc quản lý, theo dõi tử vong phải được thực hiện đồng bộ và chính xác. Từ khóa: Ung thư, tử vong, YLL, AYLL, Thái Nguyên. SUMMARY THE SITUATION OF DEATH AND YLL DUE TO CANCER IN SOME CENTRAL WARD OF THAI NGUYEN CITY FOR THE PERIOD 2014-2016 Objectives: To analyze the years of potential life lost due to cancer in some central wards of Thai Nguyen city for the period 2014-2016. Methods: Cross-sectional description was performed by retrospective management of mortality data at health stations and the People’s Committees at the study sites. Results: The number of cancer deaths for the period 2014-2016 was 193. The total number of YLLs due to cancer is 3007.8 years, AYLL is 15.6 years. Females loose on average more life years to cancer than men (22,2 vs 12,0). Lung cancer causes the most YLL (20.0%), followed by liver cancer, nasopharynx cancer, stomach cancer and breast cancer. Breast cancer loses the average number of years of life (29.8 years), followed by blood cancer, cervix cancer, throat cancer and liver cancer. Conclusions and Recommendations: The need for increased screening for cancer; the management and monitoring of death must be carried out in a uniform and accurate manner. Keywords: Cancer, death, YLL, AYLL, Thai Nguyen I. ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư đang trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới cũng như tại Việt Nam. Theo thống kê của Tổ chức Đánh giá gánh nặng bệnh tật toàn cầu (The Global Burden Disease – GBD) mỗi năm trên toàn cầu có khoảng 14,9 triệu ca mới mắc ung thư và 8,2 triệu ca tử vong, trong đó có tới 2/3 là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình [0]. Tại Việt Nam mỗi năm có khoảng trên 125.000 ca mắc ung thư mới và tỉ lệ tử vong chiếm gần 75%, trung bình mỗi ngày tại Việt Nam có khoảng 250 người chết vì căn bệnh ung thư. Dự báo vào năm 2020 sẽ có ít nhất 189 344 ca ung thư mới mắc. Trong số ca ung thư, nữ chiếm 43% và nam giới 57%. Bốn loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới là ung thư gan, phổi, dạ dày và đại trực tràng, chiếm 66% tổng số ca ung thư mới mắc ở nam giới. Ở nữ giới, bốn loại phổ biến nhất là ung thư vú, phổi, gan, cổ tử cung, chiếm gần 50% tổng số ca ung thư mới mắc ở nữ. Theo số liệu ước tính số năm sống tiềm tàng mất đi do bệnh (YLL) trong năm 2010 tổng số YLL do các bệnh không lây nhiễm là 6.760.146 năm, chiếm 56,1% tổng số gánh nặng bệnh tật, trong đó ung thư chiếm 19,2%, đứng đầu trong các nguyên nhân gây tử vong [0]. Hiện tại có nhiều phương pháp để đánh giá gánh nặng bệnh tật đối với con người. Trong đó số năm sống mất đi THỰC TRẠNG TỬ VONG VÀ SỐ NĂM SỐNG TIỀM TÀNG MẤT ĐI DO UNG THƯ TẠI MỘT SỐ PHƯỜNG TRUNG TÂM THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2014-2016 Trịnh Văn Hùng1, Nguyễn Mạnh Tuấn1 Ngày nhận bài: 15/01/2018 Ngày phản biện: 20/02/2018 Ngày duyệt đăng: 28/02/2018 1. Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn132 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 do tử vong sớm (YLL) là phương pháp đơn giản, phản ánh mô hình bệnh tật và tử vong. Việc áp dụng chỉ số YLL đã được tiến hành tại nước ta từ khá lâu, tuy nhiên các nghiên cứu tại Thái Nguyên còn ít các nghiên cứu áp dụng chỉ số này trong việc đánh giá gánh nặng bệnh tật. Vì những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu: Phân tích số năm sống tiềm tàng mất đi do ung thư tại một số phường trung tâm thành phố Thái Nguyên trong giai đoạn 2014-2016. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu - Các trường hợp tử vong do ung thư tại 4 phường trung tâm thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2014-2016. - Hệ thống sổ sách, báo cáo thống kê về tử vong do ung thư được quản lý tại trạm y tế và UBND phường. Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu - Các trường hợp tử vong do ung thư từ 01/01/2014 đến 31/12/2016. Địa điểm nghiên cứu - Tại 4 phường trung tâm thành phố Thái Nguyên bao gồm: Quang Trung, Hoàng Văn Thụ, Phan Đình Phùng, Trưng Vương. Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu mô tả, thiết kế cắt ngang Phương pháp thu thập số liệu - Số liệu thứ cấp được thu thập dựa trên hệ thống sổ sách có sẵn tại trạm y tế và UBND các phường. Các thông tin thu thập bao gồm chẩn đoán bệnh khi tử vong, tuổi khi tử vong, giới, dân tộc, nghề nghiệp, ngày tử vong và nơi tử vong. Phương pháp phân tích số liệu Việc đánh giá gánh nặng bệnh tật trong nghiên cứu này dựa trên hai chỉ số là số năm sống mất đi do tử vong sớm và số năm sống trung bình mất đi do tử vong sớm: - Số năm sống mất đi do tử vong sớm (YLL) của mỗi người được tính bằng hiệu số giữa tuổi thọ trung bình và tuổi tử vong thực. Nếu một người có tuổi tử vong lớn hơn tuổi thọ trung bình, thì YLL của người đó được thiết lập về không (tức là không có YLL “tiêu cực”). Trong thực tế, chỉ tính những người tử vong trước tuổi thọ trung bình bao gồm trong tính toán. Nghiên cứu này sử dụng kỳ vọng sống của người Việt Nam là 71,3 ở nam giới và 80,7 tuổi ở nữ giới theo số liệu của WHO năm 2015 [8]. - Số năm sống trung bình mất đi do tử vong sớm (AYLL) được tính bẳng cách chia tổng số YLL cho số người tử vong trong khoảng thời gian xác định, chỉ số này cung cấp một thước đo về gánh nặng của bệnh ung thư cho từng bệnh nhân, chứ không phải toàn bộ dân số, nó cho thấy trung bình bao nhiêu năm cuộc sống của bệnh nhân có thể bị rút ngắn do ung thư. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Bảng 1. Chỉ số YLL và AYLL do ung thư theo địa dư Phường Số trường hợp tử vong YLL AYLL (năm)Số năm Tỷ lệ % Quang Trung 42 617,2 20,5 14,7 Hoàng Văn Thụ 46 809,8 26,9 17,6 Phan Đình Phùng 67 1003,4 33,4 15,0 Trưng Vương 38 577,4 19,2 15,2 Tổng 193 3007,8 100,0 15,6 Nhận xét: Trong 4 phường nghiên cứu, phường Phan Đình Phùng có số ca tử vong nhiều nhất và chiếm 33,4% YLL trong tổng số. Số ca tử vong ít nhất là ở phường Trưng Vương, YLL chiếm 19,2%. Tính theo chỉ số AYLL phường Hoàng Văn Thụ có AYLL cao nhất (17,6 năm) và phướng Quang Trung có AYLL thấp nhất (14,7 năm). SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 133 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Bảng 2. Chỉ số YLL và AYLL do ung thư theo giới Giới Số trường hợp tử vong YLL AYLL (năm) Số năm Tỷ lệ % Nam 125 1497,6 49,8 12,0 Nữ 68 1510,2 50,2 22,2 Tổng 193 3007,8 100,0 15,6 Nhận xét: Chỉ số YLL và AYLL ở nam giới lần lượt là 1497,6 và 12,0 năm, đều thấp hơn so với nữ giới (1510,2 và 22,2 năm) Nhận xét: Nhóm tuổi từ 51-60 tuổi có chỉ số YLL cao nhất là 1300,5 năm, chiếm 43,2%. Nhóm tuổi có YLL thấp nhất là 71-80 tuổi, chiếm 1,5%. Bảng 3. Chỉ số YLL và AYLL do ung thư theo nhóm tuổi Nhóm tuổi Số trường hợp tử vong YLL AYLL (năm) Số năm Tỷ lệ % ≤40 tuổi 13 526,3 17,5 40,5 41-50 tuổi 22 624,8 20,8 28,4 51-60 tuổi 73 1300,5 43,2 17,8 61-70 tuổi 50 510 17,0 10,2 71-80 26 46,2 1,5 1,8 >80 9 0,0 0,0 - Tổng 193 3007,8 100,0 15,6 Bảng 4. Chỉ số YLL và AYLL do ung thư theo dân tộc Dân tộc Số trường hợp tử vong YLL AYLL (năm)Số năm Tỷ lệ % Kinh 180 2794,6 92,9 15,5 Khác 13 213,2 7,1 16,4 Tổng 193 3007,8 100,0 15,6 Nhận xét: Chỉ số YLL ở người dân tộc Kinh cao hơn so với dân tộc khác, tuy nhiên tính theo AYLL thì số năm sống mất đi trung bình ở các dân tộc khác cao hơn so với người dân tộc Kinh. SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn134 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 Bảng 5. Chỉ số YLL và AYLL do ung thư theo vị trí Vị trí ung thư Tử vong YLL AYLL (năm) Số lượng Tỷ lệ % Số năm Tỷ lệ % Phổi 44 22,8 602,2 20,0 13,7 Gan 30 15,5 463,9 15,4 15,5 Vòm họng 23 11,9 364,0 12,1 15,8 Dạ dày 22 11,4 256,2 8,5 11,6 Đại tràng 12 6,2 169,1 5,6 14,1 Thực quản 11 5,7 123,1 4,1 11,2 Vú 8 4,1 238,2 7,9 29,8 Tử cung 8 4,1 198,8 6,6 24,9 Máu 5 2,6 138,8 4,6 27,8 Trực tràng 4 2,1 47,2 1,6 11,8 Khác 26 13,6 406,3 13,5 15,6 Tổng số 193 100,0 3007,8 100,0 15,6 Bảng 6. Chỉ số YLL và AYLL do ung thư theo năm Năm Số trường hợp tử vong YLL AYLL (năm) Số năm Tỷ lệ % 2014 42 814,8 27,1 19,4 2015 96 1331,6 44,3 13,9 2016 55 861,4 28,6 15,7 Tổng 193 3007,8 100,0 15,6 Nhận xét: Các vị trí ung thư có số lượng tử vong nhiều là ung thư phổi (22,8%), gan (15,5%), vòm họng (11,9%), dạ dày (11,4%), đại tràng (6,2%). Tính theo chỉ số YLL thì ung thư phổi cũng chiếm tỷ lệ cao nhất (20,0%), tiếp theo là ung thư gan, vòm họng, dạ dày, vú. Tính theo chỉ số AYLL thì ung thư vú có AYLL cao nhất (29,8 năm), sau đó là ung thư máu (27,8 năm), cổ tử cung (24,9 năm), vòm họng (15,8 năm) và gan (15,5 năm). Nhận xét: Trong 3 năm từ 2014-2016, số ca tử vong nhiều nhất tập trung trong năm 2015 (96/193 ca). Chỉ số YLL cao nhất ở năm 2015 (chiếm 44,3%), tính theo AYLL thì năm 2014 có chỉ số AYLL cao nhất (19,4 năm). SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 135 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC IV. BÀN LUẬN Việc đánh giá gánh nặng bệnh tật luôn là vấn đề quan trọng trong y tế cộng cộng, đặc biệt là đo lường gánh nặng tử vong. Tại Việt Nam hiện nay việc theo dõi, ghi chép và quản lý tử vong vẫn còn nhiều thiếu sót, đặc biệt là ở tuyến cơ sở. Nghiên cứu này sử dụng thông tin từ việc so sánh, đối chiếu giữa sổ quản lý tử vong (A6), sổ theo dõi bệnh ung thư (A12) tại trạm y tế và sổ khai tử tại UBND phường để thu thập được thông tin tối đa và chính xác nhất. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong khoảng thời gian từ 2014-2016 đã có tổng cộng 193 trường hợp tử vong do ung thư tại 4 phường khu vực trung tâm thành phố Thái Nguyên. Tổng số YLL trong 3 năm là 3007,8 năm và trung bình mỗi người mất đi 15,6 năm cuộc sống do ung thư. YLL theo giới tính: Số ca tử vong do ung thư ở nam là 125 ca, cao hơn so với nữ (68 ca), tuy nhiên chỉ số YLL ở nam lại thấp hơn so với ở nữ. Tương tự chỉ số AYLL ở nam cũng thấp hơn nữ (12,0 năm và 22,2 năm). Nghiên cứu tại Iran cho thấy tỷ lệ YLL ở nam là 50,6%, cao hơn ở nữ giới [8]. Nghiên cứu tại Nauy cho thấy tỷ lệ YLL ở nữ giới cao hơn nam giới và nữ giới cũng mất trung bình nhiều năm sống hơn ở nam giới (14,9 so với 12,7 năm) [8]. Báo cáo của Cơ quan Ung thư quốc gia Hoa Kỳ đã chỉ ra trung bình mỗi người chết vì ung thư tại quốc gia này mất khoảng 15,4 năm cuộc sống [8]. Theo báo cáo gánh nặng bệnh tật tại Việt Nam năm 2008, gánh nặng bệnh tật ở nam giới cao hơn ở nữ giới ở hầu hết các loại ung thư [8]. Sự khác nhau giữa các nghiên cứu có thể là do đặc tính của mẫu, hoặc do sử dụng kỳ vọng sống khác nhau giữa các quần thể và giai đoạn. Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng kỳ vọng sống riêng cho hai giới tại Việt Nam năm 2015, vì vậy YLL, AYLL ở nữ cao hơn nam có thể một phần là do kỳ vọng sống ở nữ giới (80,7 tuổi) chênh lệch khá nhiều so với nam giới (71,3 tuổi). YLL theo nhóm tuổi: Nhóm tuổi có chỉ số YLL cao nhất là từ 51-60 tuổi, chiếm 43,2%, nhóm có YLL thấp nhất là 71-80 tuổi (chiếm 1,5%), điều này hoàn toàn phù hợp vì số ca chết do ung thư chủ yếu ở nhóm 51-60 tuổi (73/193 ca). Các nghiên cứu khác cũng cho thấy đây là độ tuổi có tỷ lệ tử vong cao nhất do ung thư. Chỉ số YLL thấp nhất ở nhóm 71-80 tuổi là do ở nhóm tuổi này số ca tử vong do ung thư thấp (26 ca) và đã gần đạt tới kì vọng sống. YLL theo vị trí ung thư: Tính chung cho cả hai giới, 5 vị trí ung thư có YLL cao nhất là phổi (chiếm 20,0%), gan (15,4%), vòm họng (12,1%), dạ dày (8,5%), vú (7,9%). Tuy nhiên có sự khác biệt khi tính toán theo AYLL, theo chỉ số này 5 vị trí ung thư làm mất đi số năm sống trung bình cao nhất lần lượt là vú (29,8 năm), máu (27,8 năm), tử cung (24,9 năm), vòm họng (15,8 năm), gan (15,5 năm). Theo kết quả nghiên cứu của Tổ chức Gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2013 có tổng cộng hơn 8 triệu ca tử vong do ung thư các loại, trong đó tử vong do ung thư phổi là nhiều nhất (khoảng 1,6 triệu ca), một số loại ung thư khác có số tử vong cao là dạ dày, gan, đại trực tràng, vú [8]. Báo cáo tại Việt Nam năm 2012 cũng cho thấy các loại ung thư có tỷ lệ tử vong cao lần lượt là gan, phổi, dạ dày, vú, đại trực tràng. Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng chỉ số YLL phản ánh gánh nặng tử vong tương đồng với số ca tử vong do bệnh, đặc biệt là ở những loại ung thư thường gặp, tức là đưa ra ra tác động của bệnh với xã hội. Trong khi đó chỉ số AYLL lại đặc trưng cho gánh nặng bệnh tật của mỗi cá nhân, hay nói cách khác những loại ung thư có AYLL cao sẽ làm cho bệnh nhân mất đi nhiều tuổi thọ hơn, bởi vậy nó có thể là những loại ung thư có thời gian sống thêm ngắn (máu, phổi) hoặc là những loại ung thư gặp ở lứa tuổi trẻ hơn (vú, tử cung). V. KẾT LUẬN - YLL do ung thư tại 4 phường trung tâm thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2014-2016 là 3007,8 năm, AYLL là 15,6 năm - Chỉ số YLL và AYLL ở nữ giới đều cao hơn so với ở nam giới - Nhóm tuổi từ 51-60 tuổi có chỉ số YLL cao nhất, chiếm 43,2%. Nhóm tuổi có YLL thấp nhất là 71-80 tuổi, chiếm 1,5%. - Chỉ số YLL ở người dân tộc Kinh cao hơn so với các dân tộc khác, tuy nhiên AYLL ở người dân tộc khác cao hơn so với dân tộc Kinh - Chỉ số YLL theo loại ung thư: Ung thư phổi chiếm tỷ lệ cao nhất (20,0%), tiếp theo là ung thư gan, vòm họng, dạ dày, vú. Tính theo chỉ số AYLL thì ung thư vú có AYLL cao nhất (29,8 năm), sau đó là ung thư máu, cổ tử cung, vòm họng và gan. VI. KHUYẾN NGHỊ 1. Cần tăng cường công tác sàng lọc, phát hiện sớm ung thư, đặc biệt là ở tuyến y tế cơ sở 2. Việc giám sát, quản lý, theo dõi các trường hợp tử vong tại các trạm y tế, UBND phường cần phải được thực hiện đồng bộ, chính xác. SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn136 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 1. Bộ Y tế (2011), Gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam năm 2008, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. 2. Bộ Y tế, (2015) “Báo cáo chung ngành Y tế ”, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. 3. Altekruse SF, et al (2010), SEER Cancer Statistics Review, 1975-2007, National Cancer Institute. 4. Khorasani S1, Rezaei S, Rashidian H, Daroudi R (2015), Years of potential life lost and productivity costs due to premature cancer-related mortality in Iran, Asian Pac J Cancer Prev, 16(5), 1845-50. 5. Mohsen Naghavi (2015), The Global Burden of Cancer 2013, JAMA Oncology 6. N G Burnet, S J Jefferies, R J Benson, D P Hunt, F P Treasure (2005), Years of life lost (YLL) from cancer is an important measure of population burden — and should be considered when allocating research funds, British Journal of Cancer 92, 241–24 7. O T Brustugun, B Møller and Helland (2014), Years of life lost as a measure of cancer burden on a national level, Br J Cancer, 111(5), 1014–1020. 8. WHO (2015), “Global Health Observatory Data Repository: Life expectancy – Data by country” (CSV). Geneva, Switzerland: World Health Statistics 2015, World Health Organization. TÀI LIỆU THAM KHẢO
File đính kèm:
thuc_trang_tu_vong_va_so_nam_song_tiem_tang_mat_di_do_ung_th.pdf

