Thực trạng stress nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan ở nhân viên điều dưỡng lâm sàng Bệnh viện E, năm 2018
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng stress nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan trên 309 điều dưỡng lâm sàng đang làm việc tại bệnh viện E năm 2018. Kết quả cho thấy tỷ lệ stress của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện E là 24,3%. Trong đó, tỉ lệ stress nhẹ và vừa là 18,8%; nặng và rất nặng là 5,5%. Các yếu tố nghề nghiệp liên quan tới tình trạng stress của điều dưỡng như sau: công việc phù hợp với trình độ chuyên môn (OR=2,45, 95%CI: 1,43-4,17); mức độ rõ ràng trong phân công công việc (OR=1,76, 95%CI: 1,02-3,01); hài lòng với công việc (OR=3,48, 95%CI: 2,01-5,96); tiếng ồn nơi làm việc (OR=1,89, 95%CI: 1,08- 3,30); tiếp xúc với tác nhân độc hại (OR=1,81, 95%CI: 1,03- 3,14); Hài lòng với hoạt động động viên, khuyến khích của BV (OR=1,85; 95%CI: 1,07-3,20, p<0,04) và="" đánh="" giá="" công="" bằng="" trong="" thành="" quả="" lao="" động="" (or="2,2," 95%ci:="" 1,29-="" 3,73).="" kết="" quả="" nghiên="" cứu="" góp="" phần="" xây="" dựng="" chương="" trình="" dự="" phòng="" nhằm="" giảm="" thiểu="" vấn="" đề="" stress="" và="" nâng="" cao="" sức="" khoẻ="" cho="" điều="" dưỡng="">0,04)>
Tóm tắt nội dung tài liệu: Thực trạng stress nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan ở nhân viên điều dưỡng lâm sàng Bệnh viện E, năm 2018
Tập 60 - Số 7-2020 Website: yhoccongdong.vn 131 VI N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THựC TRẠNG STRESS NGHỀ NGHIỆP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NHÂN VIÊN ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG BỆNH VIỆN E, NĂM 2018 Lương Quốc Hùng1, Vũ Đức Định1 TÓM TẮT Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng stress nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan trên 309 điều dưỡng lâm sàng đang làm việc tại bệnh viện E năm 2018. Kết quả cho thấy tỷ lệ stress của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện E là 24,3%. Trong đó, tỉ lệ stress nhẹ và vừa là 18,8%; nặng và rất nặng là 5,5%. Các yếu tố nghề nghiệp liên quan tới tình trạng stress của điều dưỡng như sau: công việc phù hợp với trình độ chuyên môn (OR=2,45, 95%CI: 1,43-4,17); mức độ rõ ràng trong phân công công việc (OR=1,76, 95%CI: 1,02-3,01); hài lòng với công việc (OR=3,48, 95%CI: 2,01-5,96); tiếng ồn nơi làm việc (OR=1,89, 95%CI: 1,08- 3,30); tiếp xúc với tác nhân độc hại (OR=1,81, 95%CI: 1,03- 3,14); Hài lòng với hoạt động động viên, khuyến khích của BV (OR=1,85; 95%CI: 1,07-3,20, p<0,04) và đánh giá công bằng trong thành quả lao động (OR=2,2, 95%CI: 1,29- 3,73). Kết quả nghiên cứu góp phần xây dựng chương trình dự phòng nhằm giảm thiểu vấn đề stress và nâng cao sức khoẻ cho điều dưỡng viên. Từ khóa: Stress, điều dưỡng lâm sàng. ABSTRACT STATUS OF OCCUPATIONAL STRESS AND SOME RELATED FACTORS AMONG CLINICAL NURSES AT E HOSPITAL IN 2018 A cross-sectional study was conducted in 2018 among 309 clinical nurses at E hospital to describe the occupational stress and some related factors. The study applied 2 self-report questionnaires about the stress with the short-form version of Depression Anxiety Stress Scale-21 (DASS-21) and some work related factors. The results showed that 24.3% of clinical nurses suffered occupational stress, in which light and medium stress was 18.8%; serious and very serious levels was 5.5%. There were some factors related to occupational stress among clinical nurses: the nurses who have job that are not or relatively suitable with professional qualifications had 2.45 times higher occupational stress risk (OR=2.45, 95%CI: 1.43-4.17) than those having suitable job-qualification; the nurses who have not clear or relatively unclear defined jobs had 1.76 times higher occupational stress risk (OR = 1.76, 95% CI: 1.02-3.01) than those with clear defined job group; the nurses that were not satisfied with job had 3.47 times higher occupational stress risk (OR=3.48, 95%CI: 2.01-5.96) than those satisfied with their job; those who often work in noisy condition had 1.89 times higher occupational stress risk (OR=1.89, 95%CI: 1.08- 3.30) than those who work in quiet places; those who were often exposure to toxic agents had 1.81 times higher occupational stress risk (OR=1.81, 95%CI: 1.03- 3.14) than those without exposure; those who were not fairly evaluated about their performance had 2.2 - fold risk of stress (OR=2,2, 95%CI: 1,29- 3,73) compared to group that was fairly evaluated. Research results contribute to the development of prevention programs to reduce stress and improve the health of nurses. Keywords: Stress, nurses, clinical nurses. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Y tế là ngành nghề đặc biệt liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người. Nhân viên y tế luôn làm việc trong môi trường nhiều áp lực như quá tải, áp lực từ phía người bệnh, người nhà, xã hội, nguy cơ lây nhiễm bệnh tật, nguy cơ tổn thương do các vật sắc nhọn, các hóa chất độc hại,.. từ đó nhân viên y tế dễ bị các vấn đề về sức khỏe tâm thần trong đó có stress. Một số nghiên cứu của các tác giả gần đây cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế bị stress Ngày nhận bài: 23/09/2020 Ngày phản biện: 01/10/2020 Ngày duyệt đăng: 09/10/2020 1. Bệnh viện E Tác giả chính: Lương Quốc Hùng Điện thoại: 0915022577; Email: [email protected] Tập 60 - Số 7-2020 Website: yhoccongdong.vn132 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020 khá cao. Nghiên cứu của Sharifah Zainiyah (2011) tại một bệnh viện (BV) ở Kuala Lumpur cho thấy tỷ lệ điều dưỡng bị stress là 23,6% [1]. Tác giả Zairah Muqaddas Ansari (2015) cho thấy tỷ lệ bị stress của các điều dưỡng là 41% [2]. Ở Việt Nam, nghiên cứu của Trần Thị Thúy (2011) chỉ ra tỷ lệ bị stress ở khối cán bộ lâm sàng ở Bệnh viện ung bướu Hà Nội là 36,9% [3]. Tác giả Bạch Nguyên Ngọc (2015) tại Đồng Nai cho thấy tỷ lệ bị stress của điều dưỡng khối lâm sàng là 25,2% [2]. Điều dưỡng viên là những người trực tiếp tiếp xúc, chăm sóc, điều trị, cho người bệnh từ lúc nhập viện cho đến khi ra viện. Họ là người thường xuyên phải đối mặt với nhiều nguy cơ nghề nghiệp. Trong môi trường làm việc với nhiều áp lực như vậy, người điều dưỡng có nguy cơ bị stress là rất cao. Với mong muốn tìm hiểu thực trạng stress của nhân viên điều dưỡng lâm sàng tại viện E hiện nay như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến thực trạng trên. Chúng tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu về “Stress nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan ở nhân viên điều dưỡng Bệnh viện E, năm 2018”. II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu Nhân viên điều dưỡng làm việc tại các khoa Lâm sàng Bệnh viện E năm 2018, đồng ý tham gia nghiên cứu, có mặt tại thời điểm nghiên cứu và có thời gian công tác từ 12 tháng trở lên theo danh sách phòng tổ chức cung cấp. 2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện E Trung Ương, 87 - 89 Trần Cung, Cầu Giấy, Hà Nội. Từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2018 2.3. Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích 2.4. Cỡ mẫu và chọn mẫu Áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ. Lấy toàn bộ nhân viên điều dưỡng đang làm việc tại các khoa lâm sàng Bệnh viện E Trung ương đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu. Tổng số nhân viên theo danh sách là 347 nhân viên. Tổng số nhân viên đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn là 309 đối tượng. 2.5. Tiêu chuẩn đánh giá Đánh giá mức độ stress của các nhân viên điều dưỡng bằng cách cộng điểm các câu hỏi trong bộ công cụ DASS 21 theo từng nhóm sau đó nhân với hệ số 2, cụ thể: Stress bao gồm các câu hỏi có số thứ tự 1, 6, 8, 11, 12, 14, 18. Các mức độ stress bao gồm bình thường (0-14 điểm); nhẹ (15-18 điểm); vừa (19-25 điểm); nặng (26-33 điểm); rất nặng (≥ 34 điểm) 2.6. Xử lý và phân tích số liệu Sử dụng phần mềm epidata 3.1 để nhập liệu và phần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu. 2.7. Đạo đức nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành sau khi được sự đồng ý của hội đồng duyệt đề cương trường Đại học Thăng Long và được sự cho phép của Ban giám đốc và Hội đồng khoa học Bệnh viện E. III. KẾT QUẢ Hình 1. Thực trạng stress nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu (n=309) Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ điều dưỡng bị stress nghề nghiệp là 24,3% trong đó 12,3% đối tượng bị stress ở mức độ nhẹ, 6,5% đối tượng bị ở mức độ vừa, mức độ nặng và rất nặng lần lượt là 4,5% và 1%. Tập 60 - Số 7-2020 Website: yhoccongdong.vn 133 VI N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Kết quả nêu tại bảng 1 cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính (OR=2,29; 95%CI: 1,229- 4,259; p=0,01), chăm sóc con nhỏ dưới 5 tuổi (OR=2,41; 95%CI: 1,17-4,936), thời gian công tác tại khoa/ phòng hiện tại (OR=1,93; 95%CI: 1,129-3,283; p=0,02) với tình trạng stress. Điều dưỡng làm việc nơi ồn ào có nguy cơ mắc stress cao gấp 1,89 lần so với nhóm còn lại (OR=1,89; 95%CI: 1,086-3,302; p<0,05). Điều dưỡng thường xuyên tiếp xúc với tác nhân độc hại có nguy cơ mắc stress cao gấp 1,81 lần so với nhóm còn lại (OR=1,81; 95%CI: 1,039-3,146; p<0,05). Bảng 1. Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân đến tình trạng stress của điều dưỡng Các yếu tố Stress OR (CI 95%) p Có (n,%) Không (n,%) Giới Nam Nữ 21(38,2%) 54(21,3%) 34(61,8%) 200(78,7%) 2,29 1,22-4,25 0,01 Chăm sóc con nhỏ dưới 5 tuổi Có Không 35(27,6%) 12(13,6%) 92(72,4%) 76(86,4%) 2,41 1,17-4,936 0,02 Thời gian công tác tại khoa phòng hiện tại Từ 5 năm trở xuống Trên 5 năm 47(30,1%) 28(18,3%) 09(69,9%) 125(81,7%) 1,93 1,129-3,283 0,02 Bảng 2. Mối liên quan giữa một số yếu tố về môi trường làm việc và tình trạng stress của điều dưỡng Các yếu tố Stress OR (CI 95%) p Có (SL,%) Không (SL,%) Tiếng ồn nơi làm việc Ồn ào Yên tĩnh & bình thường 28(33,3%) 47(20,9%) 56(66,7%) 178(79,1%) 1,89 1,086-3,302 0,03 Tiếp xúc với tác nhân độc hại Thường xuyên Không bao giờ & thỉnh thoảng 28(32,6%) 47(21,1%) 58(67,4%) 176(78,9%) 1,81 1,039-3,146 0,04 Tập 60 - Số 7-2020 Website: yhoccongdong.vn134 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020 Bảng 3 Mối liên quan giữa một số yếu tố về nội dung công việc và tình trạng stress của điều dưỡng Các yếu tố Stress OR (CI 95%) p Có (SL,%) Không (SL,%) Mức độ phù hợp công việc với trình độ chuyên môn Chưa và tương đối phù hợp Phù hợp 46 (33,3%) 29 (17,0%) 92 (66,7%) 142 (83,0%) 2,45 1,436-4,175 < 0,01 Mức độ rõ ràng trong công việc Chưa và tương đối rõ ràng Rõ ràng 49 (28,8%) 26 (18,7%) 121 (71,2%) 113 (81,3%) 1,76 1,025-3,012 0,039 Mức độ hài lòng với công việc Không hài lòng Hài lòng 40 (40,8%) 35 (16,6%) 58 (59,2%) 176 (83,4%) 3,47 2,017-5,963 < 0,01 Bảng 4. Mối liên quan giữa một số yếu tố về động viên khuyến khích, phát triển nghề nghiệp và tình trạng stress của điều dưỡng Các yếu tố Stress OR (CI 95%) p Có (SL,%) Không (SL,%) Không và ít công bằng Công bằng 45(32,1%) 30(17,8%) 95(67,9%) 139(82,2%) 2,2 1,291-31,731 <0,01 Không & không rõ ràng Hài lòng 51(29,0%) 24(18,0%) 125(71,0%) 109(82,0%) 1,85 1,07-3,208 0,03 Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ phù hợp công việc với trình độ chuyên môn (OR=2,45; 95%CI: 1,436-4,175, p< 0,05); mức độ rõ ràng trong công việc (OR=1,76; 95%CI: 1,025-3,012, p<0,05); mức độ hài lòng với công viêc (OR=3,47; 95%CI: 2,017-5,963; p< 0,05) với tình trạng stress của điều dưỡng. Kết quả nêu tại Bảng 4 cho thấy điều dưỡng cho rằng việc đánh giá thành quả lao động không hoặc ít công bằng có nguy cơ stress cao gấp 2,2 lần so với nhóm công bằng. Nhóm điều dưỡng không hoặc không rõ ràng hài lòng với hoạt động động viên, khuyến khích của bệnh viện có nguy cơ stress gấp 1,85 lần so với nhóm hài lòng. IV. BÀN LUẬN 4.1. Thực trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng lâm sàng Bệnh viện E năm 2018 Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có 24,3% điều dưỡng bị stress. Tỷ lệ này thấp hơn kết quả nghiên cứu của Mai Hòa Nhung năm 2013 tại Bệnh viện Giao thông vận tải Trung ương (40,8%) [3], nghiên cứu năm 2014 của tác giả Dương Thành Hiệp (56,9%) [6]. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi lại cao hơn nghiên cứu của Trần Thị Thu Thủy năm 2015 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức với tỉ lệ điều dưỡng bị stress là 18,5% [5]. Trong nghiên cứu của chúng tôi mức độ stress của đối tượng lần lượt là 12,3% mức độ nhẹ, 6,5% mức độ vừa, 4,5% mức độ nặng và 1% mức độ rất nặng. So với kết quả nghiên cứu của Bạch Nguyên Ngọc năm 2015 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai thì tỉ lệ đối tượng bị trầm cảm nhẹ ở nghiên cứu của chúng tôi cao hơn (10,4%), trong khi tỉ lệ đối tượng bị trầm cảm vừa,và nặng của Tập 60 - Số 7-2020 Website: yhoccongdong.vn 135 VI N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC chúng tôi lại thấp hơn (8,8% trầm cảm mức độ vừa và 6% trầm cảm mức độ nặng) [2]. 4.2. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của điều dưỡng lâm sàng Bệnh viện E năm 2018 4.2.1. Một số yếu tố cá nhân liên quan đến tình trạng stress của điều dưỡng lâm sàng Kết quả nghiên cứu cho thấy nam giới có nguy cơ bị stress cao gấp 2,29 lần so với nữ giới, điều này có ý nghĩa thống kê với p <0,05. Kết quả này của chúng tôi có sự khác biệt so với kết quả nghiên cứu của Mai Hòa Nhung. Tác giả Mai Hòa Nhung cũng tìm được mối liên quan giữa giới tính với tình trạng stress của đối tượng tuy nhiên nam giới có nguy cơ bị stress bằng 0,266 lần so với nữ giới [3]. Nhóm điều dưỡng lâm sàng có thời gian công tác từ 5 năm trở xuống có nguy cơ bị stress cao gấp 1,93 lần nhóm có thời gian công tác trên 5 năm, điều này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Nhóm cần phải chăm sóc con nhỏ dưới 5 tuổi có nguy cơ bị stress cao gấp 2,41 lần nhóm không phải chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi, điều này có ý nghĩa thống kê với p <0,05. Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của một số tác giả như Ngô Thị Kiểu My năm 2014 (OR=1,83, 95%CI=1,12-2,99, p = 0,021) [6]. 4.2.2. Mối liên quan giữa một số yếu tố về môi trường làm việc với tình trạng stress của điều dưỡng Nghiên cứu của chúng tôi tìm thấy 2 yếu tố liên quan đến tình trạng stress của điều dưỡng viên lâm sàng Bệnh viện E bao gồm tiếng ồn nơi làm việc và tiếp xúc với tác nhân độc hại. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm điều dưỡng cảm thấy ồn ào tại nơi làm việc có nguy cơ bị stress cao gấp 1,89 lần nhóm cảm thấy yên tĩnh hoặc bình (p <0,05). Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuyên (OR=2,0; p<0,05) [7]. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nhóm điều dưỡng thường xuyên tiếp xúc với tác nhân độc hại có nguy cơ bị stress cao gấp 1,81 lần nhóm không bao giờ hoặc thỉnh thoảng tiếp xúc với tác nhân độc hại (p <0,05). Kết quả này hoàn toàn phù hợp với kết quả của tác giả Mai Hòa Nhung [3]. 4.2.3. Một số yếu tố liên quan giữa nội dung công việc với tình trạng stress của điều dưỡng lâm sàng Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm điều dưỡng cảm thấy chưa hoặc tương đối phù hợp công việc với trình độ chuyên môn có nguy cơ bị stress cao gấp 2,45 lần nhóm cảm thấy phù hợp công việc với trình độ chuyên môn, điều này có ý nghĩa thống kê với p <0,05. Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Đậu Thị Tuyết (OR=3,0, 95%CI=1,8-5,3, p <0,001) [8]. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng: Nhóm cảm thấy chưa hoặc tương đối rõ ràng trong công việc có nguy cơ bị stress cao gấp 1,76 lần nhóm cảm thấy rõ ràng trong công việc, điều này có ý nghĩa thống kê với p <0,05. Kết quả này của chúng tôi tương đồng với kết quả nghiên cứu của Mai Hòa Nhung (OR=5,6, 95%CI=1,1-28, p < 0,05) [5]. Nghiên cứu cũng tìm thấy mối liên quan giữa sự hài lòng của điều dưỡng với tình trạng stress của họ. Nhóm điều dưỡng không hài lòng hoặc không rõ ràng với công việc có nguy cơ bị stress cao gấp 3,47 lần nhóm hài lòng với công việc, điều này có ý nghĩa thống kê với p <0,05. 4.2.4. Mối liên quan giữa một số yếu tố về động viên khuyến khích và phát triển nghề nghiệp với tình trạng stress của điều dưỡng Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả, nhóm điều dưỡng cảm thấy không công bằng hoặc ít công bằng trong đánh giá thành quả lao động có nguy cơ bị stress cao gấp 2,2 lần nhóm cảm thấy công bằng trong đánh giá thành quả lao động, điều này có ý nghĩa thống kê với p <0,05. Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Đậu Thị Tuyết Nhóm cảm thấy không hài lòng hoặc không rõ ràng trong hoạt động , động viên , khuyến khích của bệnh viện có nguy cơ bị stress cao gấp 1,85 lần nhóm cảm thấy hài lòng với hoạt động, động viên, khuyến khích của bệnh viện, điều này có ý nghĩa thống kê với p <0,05. V. KẾT LUẬN Tỉ lệ nhân viên điều dưỡng khối lâm sàng Bệnh viện E năm 2018 mắc stress cao (24,3%). Trong đó mức độ stress lần lượt là 12,3% nhẹ, 6,5% vừa, 4,5% nặng và 1% rất nặng. Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 giữa một số yếu tố và tình trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng viên gồm: Yếu tố nội dung công việc (mức độ phù hợp công việc với trình độ chuyên môn, mức độ rõ ràng trong công việc, mức độ hài lòng với công việc); yếu tố môi trường làm việc (tiếng ồn nơi làm việc và tiếp xúc với tác nhân độc hại); yếu tố về động viên khuyến khích và phát triển nghề nghiệp (công bằng trong đánh giá thành quả lao động, hài lòng với hoạt động động viên, khuyến khích của bệnh viện). Tập 60 - Số 7-2020 Website: yhoccongdong.vn136 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trần Thị Thúy. Đánh giá trạng thái stress của cán bộ y tế khối lâm sàng Bệnh viện Ung bướu Hà Nội năm 2011. Luận văn thạc sỹ quản lý bệnh viện, 2011, Đại học Y tế công cộng. 2. Bạch Nguyên Ngọc. Stress nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai, năm 2015. Luận văn Thạc sĩ Y tế công cộng, 2015, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội. 3. Mai Hòa Nhung. Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở điều dưỡng viên lâm sàng tại Bệnh viện Giao thông vận tải Trung ương năm 2014. Luận văn thạc sỹ Y tế công cộng, 2014, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội. 4. Dương Thành Hiệp. Tình trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng, hộ sinh ở 8 khoa lâm sàng tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre năm 2014 và một số yếu tố liên quan,.Luận văn thạc sĩ Quản lý bệnh viện, 2014, Trường Đại học Y tế Công cộng. 5. Trần Thị Thu Thủy và Nguyễn Thị Liên Hương. “Tình trạng căng thẳng và một số yếu tố nghề nghiệp liên quan đến căng thẳng ở điều dưỡng viên tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2015”, Tạp chí Y tế Công cộng. 2016, 40: 20-25. 6. Ngô Thị Kiều My. “Đánh giá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của điều dưỡng và hộ sinh khối lâm sàng bệnh viện Phụ Sản - Nhi Đà Nẵng năm 2014”. Luận văn thạc sĩ Quản lý bệnh viện, 2014, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội. 7. Nguyễn Văn Tuyên. Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến căng thẳng của điều dưỡng viên lâm sàng Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, năm 2015. Luận văn thạc sĩ Y tế công cộng, 2015, Trường Đại học Y tế Công cộng. 8. Đậu Thị Tuyết. Tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của cán bộ y tế khối lâm sàng tại Bệnh viện đa khoa 115 Nghệ An năm 2013 và một số yếu tố liên quan. Luận văn thạc sĩ Quản lý bệnh viện, 2013, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội. 9. Sharifah Zainiyah SY et. al. “Stress and its associated factors amongst ward nurses in a public hospital Kuala Lumpur”. Malaysian journal of public health medicine. 2011, 11(1): 78-85. 10. Zairah Muqaddas Ansari, et al. “Occupational Stress among Emergency Department (ED) Staff and the Need for Investment in Health Care; a View from Pakistan”. British Journal of Medicine & Medical Research, 2015, 10(10): 1-9.
File đính kèm:
thuc_trang_stress_nghe_nghiep_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_o_n.pdf

