Thực trạng phân loại chất thải y tế tại các cơ sở y tế tại huyện Võ Nhai - Tỉnh Thái Nguyên

Bằng phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế nghiên

cứu cắt ngang, các tác giả đã nghiên cứu ở 15 trạm y tế và

các khoa phòng của Bệnh viện huyện Võ Nhai tỉnh Thái

Nguyên cho thấy có 66,7% số trạm y tế phân loại không

đúng chất thải y tế vào dụng cụ có màu vàng, 86,7% các

trạm y tế phân loại không đúng chất thải y tế không nguy

hại vào các dụng cụ có màu đen; 73,3% các trạm y tế

phân loại không đúng chất thải y tế thông thường vào

các dụng cụ có màu xanh; 33,3% các trạm y tế phân loại

không đúng chất thải y tế tái chế vào các dụng cụ có màu

trắng; 60,0% các trạm y tế không phân loại chất thải y tế

tại nơi phát sinh; 64,3% đến 71,4% các khoa phân loại

đúng chất thải rắn y tế nguy hại tại nơi phát sinh, phân

loại đúng mã màu vàng, màu xanh đối với bao bì, dụng

cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm; 14,2% số khoa

phân loại đúng mã màu đen đối với bao bì, dụng cụ, thiết

bị lưu chứa chất thải lây nhiễm.

Các tác giả khuyến nghị các trạm y tế và các khoa

phòng của Bệnh viện huyện Võ Nhai cần thực hiện đúng

cách phân loại chất thải y tế

pdf 6 trang phuongnguyen 260
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng phân loại chất thải y tế tại các cơ sở y tế tại huyện Võ Nhai - Tỉnh Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thực trạng phân loại chất thải y tế tại các cơ sở y tế tại huyện Võ Nhai - Tỉnh Thái Nguyên

Thực trạng phân loại chất thải y tế tại các cơ sở y tế tại huyện Võ Nhai - Tỉnh Thái Nguyên
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn108
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
THỰC TRẠNG PHÂN LOẠI CHẤT THẢI Y TẾ TẠI CÁC CƠ SỞ 
Y TẾ TẠI HUYỆN VÕ NHAI - TỈNH THÁI NGUYÊN 
Nguyễn Thị Quỳnh Hoa1, Trương Viết Trường1, Đỗ Văn Hàm1, Hạc Văn Vinh1
TÓM TẮT
Bằng phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế nghiên 
cứu cắt ngang, các tác giả đã nghiên cứu ở 15 trạm y tế và 
các khoa phòng của Bệnh viện huyện Võ Nhai tỉnh Thái 
Nguyên cho thấy có 66,7% số trạm y tế phân loại không 
đúng chất thải y tế vào dụng cụ có màu vàng, 86,7% các 
trạm y tế phân loại không đúng chất thải y tế không nguy 
hại vào các dụng cụ có màu đen; 73,3% các trạm y tế 
phân loại không đúng chất thải y tế thông thường vào 
các dụng cụ có màu xanh; 33,3% các trạm y tế phân loại 
không đúng chất thải y tế tái chế vào các dụng cụ có màu 
trắng; 60,0% các trạm y tế không phân loại chất thải y tế 
tại nơi phát sinh; 64,3% đến 71,4% các khoa phân loại 
đúng chất thải rắn y tế nguy hại tại nơi phát sinh, phân 
loại đúng mã màu vàng, màu xanh đối với bao bì, dụng 
cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm; 14,2% số khoa 
phân loại đúng mã màu đen đối với bao bì, dụng cụ, thiết 
bị lưu chứa chất thải lây nhiễm. 
Các tác giả khuyến nghị các trạm y tế và các khoa 
phòng của Bệnh viện huyện Võ Nhai cần thực hiện đúng 
cách phân loại chất thải y tế.
Từ khóa: Chất thải y tế. 
 ABSTRACT
SITuATIon of ClASSIfICATIon of 
meDICAl WASTe AT HeAlTH fACIlITIeS In 
vo nHAI DISTRICT - THAI nguyen PRovInCe
By descriptive research method, cross-sectional 
study design, the authors studied at 15 health stations 
and departments of hospitals of Vo Nhai district, Thai 
Nguyen province showed that 66.7% of health stations 
incorrect classification of medical waste, 86.7% of 
health stations incorrectly classify non-hazardous 
medical waste into black instruments; 73.3% of health 
stations incorrectly classify common medical waste 
into green devices; 33.3% of health stations incorrectly 
classify recycled medical wastes into white devices; 
60.0% of health stations do not classify medical waste 
at the place of arising; 64.3% to 71.4% of departments 
correctly classify hazardous medical solid wastes at their 
place of generation, correctly classify yellow and blue 
codes for packaging, tools and equipment containing 
infectious waste infection; 14.2% of faculties correctly 
classify black codes for packaging, tools and equipment 
containing infectious waste.
The authors recommend that the medical stations and 
departments of Vo Nhai district hospitals have to properly 
classify medical waste.
Keywords: Medical waste.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Việt Nam, lượng chất thải y tế ngày càng tăng 
nhưng hầu hết các cơ sở y tế chưa có hướng giải quyết 
đúng đắn, ý thức về tác hại do chất thải y tế chưa cao 
ở hầu hết người dân và cũng chưa có sự quan tâm đặc 
biệt của các tổ chức cũng như cơ quan chức năng cho 
vấn đề này. Chất thải y tế nếu không được xử lý tốt thì 
sẽ là một trong những nguy cơ gây ô nhiễm nghiêm 
trọng đối với môi trường sống, là nguồn gây ô nhiễm 
trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Vì vậy việc quản 
lý và xử lý chất thải y tế là một trong những mục tiêu 
quan trọng trong chiến lược bảo vệ môi trường của 
Việt Nam. Ngày 31/12/2015 Bộ Y tế - Bộ Tài nguyên 
và Môi trường đã ban hành Thông tư liên tịch số 
58/2015/TTLT-BYT-BTNMT về việc ban hành Quy 
định về quản lý CTYT. Thực trạng phân loại chất thải 
y tế tại các trạm y tế hiện nay ra sao? Chính vì vậy 
chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu: Mô 
tả được thực trạng phân loại chất thải y tế tại các cơ 
sở y tế tại huyện Võ Nhai năm 2017. Số liệu của bài 
báo được trích từ nguồn số liệu của đề tài “Thực trạng, 
yếu tố ảnh hưởng và đề xuất một số giải pháp về xử lý 
chất thải y tế ở tuyến y tế cơ sở công lập tại huyện Võ 
Nhai - tỉnh Thái Nguyên”. 
Ngày nhận bài: 19/08/2019 Ngày phản biện: 24/08/2019 Ngày duyệt đăng: 04/09/2019
1. Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn 109
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 
CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
- Các trạm y tế và Bệnh viện huyện tại huyện Võ Nhai. 
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2 năm 2017 đến 
tháng 6 năm 2017
- Địa điểm nghiên cứu: 
 15 trạm y tế xã, thị trấn và Bệnh viện huyện của 
huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 
Trong đó 5 trạm y tế gần trung tâm y tế huyện (< 
7km) gồm các xã: xã Phú Thượng, La Hiên, thị trấn Đình 
Cả, xã Lâu Thượng, xã Tràng Xá. 
 10 trạm y tế xa trung tâm y tế huyện (> 7km ) gồm 
các xã: xã Bình Long, xã Dân Tiến, xã Thần Sa, xã Thượng 
Nung, xã Sảng Mộc, xã Nghinh Tường, xã Vũ Chấn, xã 
Liên Minh, xã Phương Giao, xã Cúc Đường.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế nghiên cứu 
cắt ngang. 
2.3.2. Cỡ mẫu, chọn mẫu nghiên cứu 
Chọn toàn bộ 15 trạm y tế và các khoa phòng của 
bệnh viện huyện trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái 
Nguyên. Trong đó 5 trạm y tế gần trung tâm y tế huyện và 
10 trạm y tế xa trung tâm y tế huyện. 
2.4. Chỉ số nghiên cứu
Tỷ lệ các trạm y tế thực hiện phân loại chất thải y tế 
vào dụng cụ có mầu vàng đối với chất thải lây nhiễm;
Tỷ lệ các trạm y tế thực hiện phân loại chất thải y tế 
vào dụng cụ có mầu đen đối với chất thải nguy hại không 
lây nhiễm;
Tỷ lệ các trạm y tế thực hiện phân loại chất thải y tế 
vào dụng cụ có mầu xanh đối với chất thải thông thường;
Tỷ lệ các trạm y tế thực hiện phân loại chất thải y tế 
vào dụng cụ có mầu trắng đối với chất thải tái chế;
Tỷ lệ các trạm y tế phân loại chất thải y tế tại nơi 
phát sinh;
Tỷ lệ các khoa phòng phân loại chất thải y tế đúng 
theo quy định.
2.5. Kỹ thuật thu thập số liệu và tiêu chuẩn 
đánh giá
2.5.1. Công cụ thu thập số liệu
Bảng kiểm đánh giá phân loại chất thải y tế theo 
Thông tư 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT của Bộ Y tế - Bộ 
Tài nguyên và Môi trường. 
2.5.2. Phương pháp thu thập số liệu
Quan sát quá trình phân loại chất thải y tế bằng bảng 
kiểm dựa trên Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-
BTNMT của Bộ Y tế - Bộ Tài nguyên và Môi trường.
2.5.3. Tiêu chí đánh giá chỉ số nghiên cứu
Đánh giá các chỉ số về phân loại chất thải y tế theo 
Thông tư 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT
Phân loại chất thải y tế: Phải được thực hiện ngay tại 
thời điểm chất thải phát sinh và phải đựng chất thải trong 
các túi hoặc thùng theo đúng quy định. 
- Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng 
hoặc hộp có màu vàng. Chất thải lây nhiễm sắc nhọn bao 
gồm kim tiêm, bơm tiêm kèm hoặc không kèm kim tiêm, 
dao mổ, pipet Pasteur, các lam kính xét nghiệm, đĩa nuôi 
cấy bằng thủy tinh, các lọ thủy tinh dính máu hay các vật 
sắc nhọn khác
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi 
hoặc thùng có lót túi và có màu vàng. Chất thải lây nhiễm 
không sắc nhọn bao gồm những vật liệu bị thấm máu, thấm 
dịch cơ thể và các chất bài tiết của người bệnh (băng, bông, 
gạc, dây truyền dịch, ống dẫn lưu); môi trường nuôi cấy 
và các dụng cụ lưu giữ các tác nhân lây nhiễm ở trong 
phòng xét nghiệm, các đĩa nuôi cấy bằng nhựa và các dụng 
cụ sử dụng để cấy chuyển, phân lập; chất thải dược phẩm: 
dược phẩm quá hạn, dược phẩm bị nhiễm khuẩn, các thuốc 
gây độc tế bào, các loại huyết thanh, vaccin sống và vaccin 
giảm độc lực cần thải bỏ. Các chất thải của động vật, xác 
xúc vật bị nhiễm hoặc được tiêm các tác nhân lây nhiễm; 
mọi loại chất thải phát sinh từ các buồng cách ly. 
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: Đựng trong túi 
hoặc thùng có lót túi và có màu vàng. Những vật liệu bị 
thấm máu, thấm dịch cơ thể và các chất bài tiết của người 
bệnh (băng, bông, gạc, dây truyền dịch, ống dẫn lưu); 
môi trường nuôi cấy và các dụng cụ lưu giữ các tác nhân 
lây nhiễm ở trong phòng xét nghiệm, các đĩa nuôi cấy bằng 
nhựa và các dụng cụ sử dụng để cấy chuyển, phân lập; mọi 
loại chất thải phát sinh từ các buồng cách ly. 
- Chất thải giải phẫu đựng trong 2 lần túi hoặc trong 
thùng có lót túi và có màu vàng. Chất thải giải phẫu bao 
gồm các mô và các tổ chức, phủ tạng của cơ thể (dù nhiễm 
khuẩn hay không nhiễm khuẩn). 
- Chất thải không lây nhiễm dạng rắn đựng trong 
túi hoặc thùng lót túi và có màu đen. Chất thải không lây 
nhiễm dạng rắn bao gồm: Chất hàn răng amalgam thải bỏ; 
các thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng có chứa thủy 
ngân và các kim loại nặng; bóng đèn huỳnh quang thải bỏ; 
các thiết bị, linh kiện điện tử thải hoặc các thiết bị điện; 
bao bì mềm, giẻ lau thải; chất thải là vỏ chai thuốc, lọ 
thuốc, các dụng cụ dính thuốc thuộc nhóm gây độc tế bào 
hoặc có cảnh báo nguy hại; bùn thải từ hệ thống xử lý nước 
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn110
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
thải y tế; chất hấp thụ, vật liệu lọc thải bỏ từ quá trình xử 
lý khí thải.
* Quy định về màu sắc của túi, hộp và thùng đựng 
chất thải
- Màu vàng: Đựng chất thải lâm sàng, bên ngoài phải 
có biểu tượng về nguy hại sinh học.
- Màu xanh: Đựng chất thải sinh hoạt.
- Màu đen: Đựng chất thải hóa học, chất thải phóng 
xạ, thuốc gây độc tế bào.
- Các túi, hộp và thùng đựng có các màu trên chỉ 
được sử dụng để đựng chất thải và không dùng vào mục 
đích khác.
* Tiêu chuẩn túi đựng chất thải
- Túi đựng chất thải để đem đi đốt phải là túi nhựa 
PE hoặc PP, không dùng túi nhựa PVC vì khi đốt sẽ tạo ra 
nhiều chất gây ô nhiễm.
- Thành túi dày, kích thước túi phù hợp với lượng chất 
thải phát sinh, thể tích tối đa của túi là 0,1 m3
- Bên ngoài túi phải có đường kẻ ngang ở mức 2/3 túi 
và có dòng chữ “Không được đựng quá vạch này”.
* Tiêu chuẩn của các hộp đựng các vật sắc nhọn
- Làm bằng các vật liệu cứng, không bị xuyên thủng, 
không bị rò rỉ và có thể thiêu đốt được.
- Dung tích hộp: Cần có hộp đựng với kích thước 
khác nhau (2,5 lít, 6 lít, 12 lít và 20 lít) phù hợp với lượng 
các vật sắc nhọn phát sinh.
- Các hộp đựng vật sắc nhọn phải thiết kế sao cho 
thuận lợi cho việc thu gom cả bơm và kim tiêm, khi di 
chuyển chất thải bên trong không bị đổ ra ngoài, có quai 
và có nắp để dán kín lại khi hộp đã đầy 2/3. Hộp có màu 
vàng, có nhãn đề “Chỉ đựng vật sắc nhọn” . 
Phân loại đúng chất thải y tế theo quy định đánh giá của 
Thông tư 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT, phân loại không 
đúng là không thực hiện các quy định của thông tư này. 
2.6. Đạo đức trong nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vì mục đích phục vụ sức khỏe cộng 
đồng, không vì lợi ích kinh tế, thực hiện nghiêm túc và đầy 
đủ các quy định về y đức của ngành Y tế. 
Đề tài đã được thông qua Hội đồng Y đức của trường 
Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên. 
2.7. Xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập được làm sạch, mã hóa và 
nhập dữ liệu vào máy tính, sử dụng phần mềm EpiData 
3.1; Phân tích số liệu bằng sử dụng phần mềm SPSS 26.0. 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 3.1. Tỷ lệ các trạm y tế thực hiện phân loại chất thải y tế vào dụng cụ có màu vàng đối với chất thải lây nhiễm 
Phân loại
Địa điểm
Phân loại không đúng Phân loại đúng
Sl TL% Sl TL%
TYT xa trung tâm (SL=10) 7 70,0 3 30,0
TYT gần trung tâm (SL=5) 3 60,0 2 40,0
Tổng số (SL= 15) 10 66,7 5 33,3
Bảng 3.2. Tỷ lệ các trạm y tế thực hiện phân loại chất thải y tế vào dụng cụ có màu đen
đối với chất thải nguy hại không lây nhiễm 
Phân loại
Địa điểm
Phân loại không đúng Phân loại đúng
Sl TL% Sl TL%
TYT xa trung tâm (SL=10) 9 90,0 1 10,0
TYT gần trung tâm (SL=5) 4 80,0 1 20,0
Tổng số (SL= 15) 13 86,7 2 13,3
Nhận xét: 66,7% số trạm y tế phân loại không đúng 
và 33,3% số trạm y tế phân loại đúng, 70% các trạm y tế ở 
xa trung tâm có phân loại không đúng vào dụng cụ có màu 
vàng đối với chất thải lây nhiễm. 
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn 111
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nhận xét: 86,7% các trạm y tế phân loại không đúng 
chất thải y tế không nguy hại vào các dụng cụ có màu đen. 
Có 90% các trạm y tế ở xa trung tâm và 80% các trạm y tế 
ở gần trung tâm phân loại không đúng chất thải y tế không 
nguy hại vào các dụng cụ có màu đen
Nhận xét: 73,3% các trạm y tế phân loại không đúng 
chất thải y tế thông thường vào các dụng cụ có màu xanh. 
Có 70% các trạm y tế ở xa trung tâm và 80% các trạm y tế 
ở gần trung tâm phân loại không đúng chất thải y tế thông 
thường vào các dụng cụ có màu xanh. 
Bảng 3.3. Tỷ lệ các trạm y tế thực hiện phân loại chất thải y tế vào dụng cụ có màu xanh đối với chất thải thông thường 
Phân loại
Địa điểm
Phân loại không đúng Phân loại đúng
Sl TL% Sl TL%
TYT xa trung tâm (SL=10) 7 70,0 3 30,0
TYT gần trung tâm (SL=5) 4 80,0 1 20,0
Tổng số (SL= 15) 11 73,3 4 26,7
Nhận xét: 33,3% các trạm y tế phân loại không đúng 
chất thải y tế tái chế vào các dụng cụ có màu trắng. 40,0% 
các trạm y tế ở xa trung tâm và 20% các trạm y tế ở gần 
trung tâm phân loại không đúng chất thải y tế tái chế vào 
các dụng cụ có màu trắng. 
Nhận xét: 60,0% các trạm y tế không phân loại chất thải y tế tại nơi phát sinh. Trong đó có 60,0 % các trạm y tế ở 
xa trung tâm và ở gần trung tâm. 
Bảng 3.4. Tỷ lệ các trạm y tế thực hiện phân loại chất thải y tế vào dụng cụ có mầu trắng đối với chất thải tái chế
Phân loại
Địa điểm
Phân loại không đúng Phân loại đúng
Sl TL% Sl TL%
TYT xa trung tâm (SL=10) 4 40,0 6 60,0
TYT gần trung tâm (SL=5) 1 20,0 4 80,0
Tổng số (SL= 15) 5 33,3 10 66,7
Bảng 3.5. Tỷ lệ các trạm y tế phân loại chất thải y tế tại nơi phát sinh
 Phân loại
Địa điểm
Không phân loại tại nơi phát sinh Có phân loại tại nơi phát sinh
Sl TL% Sl TL%
TYT xa trung tâm (SL=10) 6 60,0 4 40,0
TYT gần trung tâm (SL=5) 3 60,0 2 40,0
Tổng số (SL= 15) 9 60,0 6 40,0
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn112
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
Bảng 3.6. Thực trạng phân loại chất thải y tế tại các khoa phòng của Bệnh viện huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Phân loại SL (=14) Tỷ lệ %
Số khoa thực hiện phân loại đúng chất thải rắn y tế nguy hại ngay tại nơi phát sinh 10/14 71,4
Số khoa phân loại đúng mã màu vàng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải 
lây nhiễm
9/14 64,3
Số khoa phân loại đúng mã màu đen đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải nguy 
hại không lây nhiễm
2/14 14,2
Số khoa phân loại đúng mã màu xanh đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải 
y tế thông thường
11/14 78,6
Số khoa phân loại đúng mã màu trắng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải 
tái chế
9/14 64,3
Nhận xét: 64,3% đến 71,4% các khoa phân loại đúng 
chất thải rắn y tế nguy hại tại nơi phát sinh, phân loại đúng 
mã màu vàng, màu xanh đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị 
lưu chứa chất thải lây nhiễm; 14,2% số khoa phân loại 
đúng mã màu đen đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa 
chất thải lây nhiễm. 
IV. BÀN LUẬN
Y tế và các dịch vụ y tế đang phát triển phục vụ 
chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng tốt hơn, nhiều 
hơn, nhưng các chất thải của nó đang là vấn đề cần phải 
quan tâm xử lý. Các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới 
đã chứng minh, chất thải y tế có ảnh hưởng lớn đến sức 
khỏe của cán bộ, nhân viên y tế và cộng đồng dân cư. 
Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt 
động của các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại, 
chất thải y tế thông thường và nước thải y tế. 66,7% 
số trạm y tế phân loại không đúng chất thải y tế vào 
các dụng cụ có màu vàng, 86,7% các trạm y tế phân loại 
không đúng chất thải y tế không nguy hại vào các dụng 
cụ có màu đen; 73,3% các trạm y tế phân loại không đúng 
chất thải y tế thông thường vào các dụng cụ có màu xanh; 
33,3% các trạm y tế phân loại không đúng chất thải y tế 
tái chế vào các dụng cụ có màu trắng; 60,0% các trạm y 
tế không phân loại chất thải y tế tại nơi phát sinh; 64,3% 
đến 71,4% các khoa phân loại đúng chất thải rắn y tế 
nguy hại tại nơi phát sinh, phân loại đúng mã màu vàng, 
màu xanh đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất 
thải lây nhiễm; 14,2% số khoa phân loại đúng mã màu 
đen đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải 
lây nhiễm. 
V. KẾT LUẬN 
66,7% số trạm y tế phân loại không đúng chất thải y 
tế vào các dụng cụ có màu vàng;
86,7% các trạm y tế phân loại không đúng chất thải y 
tế không nguy hại vào các dụng cụ có màu đen; 
73,3% các trạm y tế phân loại không đúng chất thải y 
tế thông thường vào các dụng cụ có màu xanh; 
33,3% các trạm y tế phân loại không đúng chất thải y 
tế tái chế vào các dụng cụ có màu trắng; 
60,0% các trạm y tế không phân loại chất thải y tế tại 
nơi phát sinh; 
64,3% đến 71,4% các khoa phân loại đúng chất thải 
rắn y tế nguy hại tại nơi phát sinh, phân loại đúng mã màu 
vàng, màu xanh đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa 
chất thải lây nhiễm; 14,2% số khoa phân loại đúng mã 
màu đen đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất 
thải lây nhiễm.
VI. KHUYẾN NGHỊ
Các trạm y tế và các khoa phòng của Bệnh viện 
huyện Võ Nhai cần thực hiện phân loại chất thải y tế theo 
quy định.
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn 113
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế - Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), “Quy định về quản lý chất thải y tế” Thông tư liên tịch số 
58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2015.
2. Phan Thanh Lam, Trần Thị Ngọc Lan, Lã Ngọc Quảng (2013), “Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại các trạm 
y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013”. Tạp chí Y học Thực hành, Tập 876 (số 7), tr. 48-52.
3. Vi Trung Lâm ( 2016), Thực trạng xử lý chất thải y tế tại cơ sở y tế công lập huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, 
Luận văn Bác sỹ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên.
4. Bùi Thị Thu Thủy, Trần Thị Thanh Tâm (2011), “Đánh giá nhận thức, thái độ của nhân viên y tế trong việc thu 
gom, phân loại chất thải y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Thống nhất”, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, Tập 16 (số 
1), tr. 32–36.

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_phan_loai_chat_thai_y_te_tai_cac_co_so_y_te_tai_h.pdf