Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan của sản phụ sau đẻ mổ tại khoa sản Bệnh viện Đa khoa Đức Giang năm 2018

Hoàn cảnh, lý do nghiên cứu: Tỷ lệ mổ đẻ đang ngày

càng gia tăng trong những năm gần đây. Mổ đẻ ảnh hưởng

nhiều đến sự tiết sữa và nuôi con bằng sữa mẹ. Phương

pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang phỏng vấn và quan

sát bữa bú của 260 sản phụ (SP) sau mổ đẻ tại khoa Sản –

Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, ngày thứ 3, không có biến

chứng. Kết quả: 11,5% SP có kiến thức tốt về nuôi con

bằng sữa mẹ (NCBSM); 26,3% khá và 52,3% có kiến thức

kém. Thời điểm cho con bú lần đầu của SP < 6="" giờ="" là="">

có 58,8% SP đã cho con ăn thức ăn khác trước lần bú mẹ

đầu tiên; có 51,2% trẻ ngậm bắt vú chưa tốt; có 18,0% SP

thực hành đạt, còn lại chưa đạt chiếm 82,0%.

pdf 6 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan của sản phụ sau đẻ mổ tại khoa sản Bệnh viện Đa khoa Đức Giang năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan của sản phụ sau đẻ mổ tại khoa sản Bệnh viện Đa khoa Đức Giang năm 2018

Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan của sản phụ sau đẻ mổ tại khoa sản Bệnh viện Đa khoa Đức Giang năm 2018
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn 61
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÓm TẮT
Hoàn cảnh, lý do nghiên cứu: Tỷ lệ mổ đẻ đang ngày 
càng gia tăng trong những năm gần đây. Mổ đẻ ảnh hưởng 
nhiều đến sự tiết sữa và nuôi con bằng sữa mẹ. Phương 
pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang phỏng vấn và quan 
sát bữa bú của 260 sản phụ (SP) sau mổ đẻ tại khoa Sản – 
Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, ngày thứ 3, không có biến 
chứng. Kết quả: 11,5% SP có kiến thức tốt về nuôi con 
bằng sữa mẹ (NCBSM); 26,3% khá và 52,3% có kiến thức 
kém. Thời điểm cho con bú lần đầu của SP < 6 giờ là 7,0%; 
có 58,8% SP đã cho con ăn thức ăn khác trước lần bú mẹ 
đầu tiên; có 51,2% trẻ ngậm bắt vú chưa tốt; có 18,0% SP 
thực hành đạt, còn lại chưa đạt chiếm 82,0%. Có 3 yếu tố 
liên quan đến kiến thức của sản phụ sau mổ đẻ về NCBSM 
là trình độ học vấn PTTH trở lên (OR= 3,15; 95%CI: 1,69 
– 5,85); sản phụ sống ở thành thị (OR= 2,40; 95%CI: 1,32 
– 4,37); NVYT tư vấn (OR= 2,74; 95%CI: 1,58 – 4,76). 
Có 2 mối liên quan đến thực hành NCBSM là cán bộ viên 
chức (OR= 3,3; 95%CI: 1,53 – 7,19); được NVYT tư vấn 
(OR= 11,08; 95%CI: 4,63– 26,47). Kết luận: Các yếu tố 
liên quan đến NCBSM của sản phụ sau mổ đẻ là trình độ 
học vấn, ở thành thị, cán bộ viên chức và NVYT tư vấn. 
Kiến nghị: Tăng cường truyền thông về kiến thức 
NCBSM cho phụ nữ mang thai và sau đẻ; Bệnh viện cần 
có những quy định cụ thể hơn để thúc đẩy việc cho trẻ bú 
mẹ sau mổ càng sớm càng tốt, NVYT cần hỗ trợ giúp đỡ 
các SP sau mổ đẻ cho con bú. 
Từ khóa: Sau mổ lấy thai, NCBSM sau mổ đẻ.
SummARy
CuRRenT STATuS of fACToRS RelATeD 
To BReAST-feeDIng of Women AfTeR 
CeSAReAn DelIveRy In oBSTeTRICS 
DePARTmenT - DuC gIAng geneRAl 
HoSPITAl In 2018 
Circumstances, the reasons for the study: 
Caesarean section rates are increasing in recent years. 
Lactation greatly affects milk secretion and breastfeeding.
Methods: Cross-sectional study of interviews and 
observation of nursing of 260 women after cesarean section 
in obstetrics department - Duc Giang General Hospital, day 
3, without complications.Results:only 11.5% of women 
have good knowledge about breast-feeding; 26.3% were 
good and 52.3% had poor knowledge. The time of first 
breastfeeding of women <6 hours accounted for only 
7.0%; 58.8% of mothers gave their babies other food / 
drink before their first breastfeeding; 51.2% of babies are 
not good at attaching to breast. 18.0% of pregnant women 
practice, the rest is not yet accounted for 82.0%. There are 
3 factors related to knowledge of pregnant women after 
cesarean section on breastfeeding, high school education or 
higher (OR = 3.15; 95% CI: 1.69 - 5.85); women living in 
urban areas (OR = 2.40; 95% CI: 1.32 - 4.37); consulting 
medical staff (OR = 2.74; 95% CI: 1.58 - 4.76). There 
are 2 linkages to breastfeeding practice among officials 
who are breastfeeding (OR = 3.31; 95% CI: 1.53 - 7.19); 
counseled by medical staff (OR = 11.08; 95% CI: 4.63– 
26.47).Conclusion: The factors related to breast-feeding of 
pregnant women after cesarean section are education level, 
in urban areas, public officials and medical staff consulting.
 Recommendation: Enhance communication on 
breastfeeding knowledge for pregnant and postpartum 
women; The hospital needs to have more specific 
regulations to promote breastfeeding after surgery as soon 
as possible, counselors need to support pregnant women 
after the caesarean section. 
Keywords: After cesarean section, breast-feeding 
after cesarean section.
Ngày nhận bài: 20/07/2019 Ngày phản biện: 29/07/2019 Ngày duyệt đăng: 06/08/2019
THỰC TRẠNG NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ VÀ MỘT SỐ YẾU 
TỐ LIÊN QUAN CỦA SẢN PHỤ SAU ĐẺ MỔ TẠI KHOA SẢN 
BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG NĂM 2018
Mã Thị Hồng Liên1, Phạm Huy Hiền Hào2, Nguyễn Thùy Trang3 
1. Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội.
2. Trường Đại học Y Hà Nội.
3. Bệnh viện Đa khoa Đức Giang
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn62
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Hiện nay, tỷ lệ mổ đẻ tăng cao, theo Hyattsville M.D., 
tỷ lệ mổ đẻ ở nhiều nước trên thế giới tăng nhanh trong 
vòng 20 năm trở lại đây, đặc biệt là các nước phát triển. Ở 
Hoa Kỳ, năm 1988 tỷ lệ mổ đẻ trung bình của cả nước là 
25%, đến năm 2004 tỷ lệ mổ đẻ tăng lên đến 29,1% [1]. 
Tại Việt Nam, tỷ lệ mổ đẻ cũng ngày càng gia tăng, theo 
nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, tỷ lệ mổ đẻ 
năm 1998 là 20,6%, đến năm 2013, tỷ lệ mổ đẻ là 39% [2].
Mổ đẻ ảnh hưởng nhiều đến hiện sự tiết sữa và nuôi 
con bằng sữa mẹ (NCBSM) [2]. Nếu giai đoạn ngay sau đẻ 
mổ, sản phụ (SP) và trẻ sơ sinh được chăm sóc một cách 
khoa học sẽ tạo tiền đề tốt cho sức khỏe của mẹ và con, 
giúp cho sữa của bà mẹ về nhanh hơn, số lượng sữa nhiều 
hơn góp phần giảm thiểu tỷ lệ tử vong bệnh tật, trẻ sơ sinh 
sớm thích nghi với môi trường mới sau sinh để phát triển.
 Mục tiêu nghiên cứu
1. Mô tả thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của sản 
phụ sau đẻ mổ tại khoa Sản - Bệnh viện đa khoa Đức 
Giang, năm 2018.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến nuôi con 
bằng sữa mẹ của sản phụ sau đẻ mổ tại khoa Sản - Bệnh 
viện đa khoa Đức Giang, năm 2018.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 
CỨU 
1. Đối tượng 
Sản phụ đẻ mổ thai đủ tháng, khỏe mạnh, sau mổ 
ngày thứ 3, đang nuôi con bằng sữa mẹ, điều tra viên có 
thể quan sát được bữa bú của trẻ.
2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
* Cỡ mẫu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả 
tỷ lệ mắc quần thể: n = Z2
(1- α/2)
p(1 – p)/(p.ε)2
Trong đó: 
- n: cỡ mẫu nghiên cứu
- p = 0,6: Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức tốt về cho trẻ bú 
sớm sau sinh (Nghiên cứu của Bùi Thị Duyên và cộng sự 
năm 2013) [3]
- ε: giá trị tương đối. Lấy ε = 0,1.
- α: mức ý nghĩa thống kê. Lấy α = 0,05.
- Z
1- α/2
: giá trị Z thu được từ bảng Z ứng với giá trị α 
được chọn, là 1,96.
Vậy, ta có cỡ mẫu của nghiên cứu là:
n = 1,962 x 0,6 x 0,4/(0,6 x 0,1)2 = 257 (người)
- Vậy, cỡ mẫu nghiên cứu được chọn là: 260 (sản phụ). 
* Kỹ thuật chọn mẫu nghiên cứu
Chọn tất cả các đối tượng đủ tiêu chuẩn nghiên cứu tại 
khoa Sản – Bệnh viện Đa khoa Đức Giang từ 10/2018 đến 
tháng 3/2019 đến khi đủ cỡ mẫu thì dừng lại.
* Quy trình thực hiện
+ Tập huấn điều tra viên (ĐTV)
+ Sử dụng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn để phỏng 
vấn (các SP làm việc độc lập tại giường). Đánh giá kiến 
thức và thực hành về NCBSM bằng thang điểm.
+ Quan sát bữa bú của trẻ để đánh giá thực hành của 
SP về cho con bú. Thực hành ngậm bắt vú đúng/ chưa 
đúng được đánh giá bằng thang điểm.
3. Phương pháp xử lý số liệu và nhận định kết quả
Sử dụng phần mềm thống kê y học SPSS 16.0 với các 
thuật toán thống kê
III. KẾT QUẢ 
1. Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ 
sau mổ
1.1. Kiến thức của các bà mẹ về nuôi con bằng sữa mẹ
- Số sản phụ có kiến thức đúng về thời gian cho trẻ bú 
hoàn toàn bằng sữa mẹ chiếm tỷ lệ khá cao 77,7% và thời 
gian cai sữa cho con là 86,5%. Tuy nhiên, chỉ có 26,9% SP 
biết phải vắt hết sữa còn lại sau bữa bú để duy trì nguồn 
sữa mẹ.
Biểu đồ 3.1. Đánh giá kiến thức của sản phụ về nuôi con bằng sữa mẹ
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn 63
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
- Qua đánh giá kiến thức của các SP về NCBSM, 
chúng tôi thấy SP có kiến thức kém chiếm tỷ lệ cao nhất 
52,3%, số SP có kiến thức khá là 36,2%, còn SP có kiến 
thức tốt chiếm tỷ lệ thấp nhất 11,5%.
1.2. Thực hành của các bà mẹ về nuôi con bằng 
sữa mẹ
- Có 88,5 % sản phụ cho con bú lần đầu tiên > 6 giờ sau mổ đẻ, chỉ có 7,0% sản phụ cho con bú ≤ 6 giờ sau mổ.
- Có 58,8% sản phụ đã cho con ăn/ uống các loại thức ăn trước lần bú sữa mẹ đầu tiên, số sản phụ không cho con 
ăn thức ăn khác trước khi bú mẹ là 41,2%.
Bảng 3.1. Thời điểm cho con bú lần đầu của sản phụ
Thời điểm cho bú lần đầu Số lượng Tỷ lệ %
 ≤ 6 giờ 18 7,0%
 > 6 giờ 230 88,5%
 Không nhớ chính xác 12 4,5%
Bảng 3.2. Tỷ lệ bà mẹ cho con ăn loại thức ăn/nước uống trước lần bú mẹ đầu tiên
Thực hành Số lượng Tỷ lệ %
Có ăn/uống 153 58,8
Không ăn/uống 107 41,2
 Tổng 260 100
Bảng 3.3. Đánh giá thực hành về NCBSM
Nội dung Số lượng (n) Tỷ lệ %
Thực hành NCBSM đạt 47 18,0%
Thực hành NCBSM chưa đạt 213 82,0%
Tổng 260 100,0
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ trẻ ngậm bắt vú tốt / không tốt
Tỷ lệ trẻ ngậm bắt vú chưa tốt chiếm 51,2%, số trẻ ngậm bắt vú tốt chỉ chiếm 48,8%.
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn64
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
- Số sản phụ thực hành NCBSM chưa đạt chiếm tỷ 
lệ khá cao 82,0%. Số sản phụ thực hành NCBSM đạt chỉ 
chiếm 18,0%.
2. Các yếu tố liên quan đến NCBSM ở sản phụ sau 
đẻ mổ
2.1. Các yếu tố liên quan đến kiến thức về nuôi con 
bằng sữa mẹ sau mổ 
- Các sản phụ có nghề nghiệp là cán bộ viên chức có 
kiến thức về NCBSM từ khá trở lên cao gấp 2,9 lần so với 
các ngành nghề khác. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 
với 95%CI (1,55- 5,42).
- Các sản phụ có trình độ học vấn trên PTTH trở 
lên có kiến thức về NCBSM từ khá trở lên cao gấp 3,94 
lần so với các sản phụ có trình độ học vấn từ THPT trở 
xuống. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với 95%CI 
(1,91 – 5,52).
- Có sự khác biệt rất lớn có ý nghĩa thống kê giữa nơi 
ở của sản phụ với kiến thức NCBSM, các sản phụ ở thành 
thị có kiến thức từ khá trở lên cao gấp 3,25 lần so với các 
sản phụ ở nông thôn 95%CI (1,91 – 5,52).
- Khi khảo sát các sản phụ về kiến thức NCBSM, số 
sản phụ được nhân viên y tế (NVYT) hướng dẫn cách cho 
trẻ bú có kiến thức khá tốt cao gấp 2,91 lần so với các sản 
phụ không được NVYT, sự khác biệt này có ý nghĩa thống 
kê với 95%CI (1,53- 4,21).
2.2. Các yếu tố liên quan thực hành NCBSM sau 
đẻ mổ
- Các sản phụ trên 35 tuổi có tỷ lệ thực hành NCBSM 
đạt cao gấp 3,8 lần so với các bà mẹ dưới 35 tuổi. Sự khác 
biệt này có ý nghĩa thống kê với 95% CI (1,11- 8,85). 
- Có mối liên quan giữa nghề nghiệp với thực 
hành NCBSM, trong đó nhóm sản phụ là cán bộ viên 
chức có tỷ lệ thực hành NCBSM đạt cao gấp 3,23 lần 
so với các sản phụ thuộc nhóm nghề nghiệp khác. 
Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với 95% CI 
(1,55 – 6,74).
Bảng 3.4. Liên quan giữa được NVYT hướng dẫn cho trẻ bú với kiến thức NCBSM 
Kiến thức
NVYT Tư vấn
Trung bình trở lên Yếu
 Tổng
oR
95%CIn % n %
Có 69 62,7 41 37,3 110
2,54
(1,53- 4,21)
Không 55 36,7 95 63,3 150
Tổng 124 136 260
Bảng 3.5. Liên quan giữa được NVYT hướng dẫn cho trẻ bú với thực hành NCBSM
Thực hành
NVYT Tư vấn
Đạt Chưa đạt
Tổng
oR
95%CIn % n %
Có 40 36,4% 70 63,6% 110
11,67
(4,98- 27,38)
Không 7 4,7% 143 95,3% 150
Tổng 47 213 260
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn 65
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
- Có mối liên quan đối với những sản phụ được NVYT 
tư vấn với thực hành NCBSM. Những sản phụ được NVYT 
tư vấn có thực hành đạt về NCBSM cao gấp 11,67 lần so với 
những sản phụ không được hướng dẫn. Sự khác biệt này có 
ý nghĩa thống kê với 95%CI (4,98- 27,38).
IV. BÀN LUẬN
1. Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ 
sau mổ
1.1. Kiến thức của các bà mẹ về nuôi con bằng sữa mẹ
Theo kết quả của chúng tôi tại biểu đồ 3.1. đánh giá 
kiến thức của các bà mẹ về NCBSM chỉ có 11,5% các bà 
mẹ được phỏng vấn có kiến thức tốt về NCBSM, thấp 
hơn so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Việt Dũng 
(2014) có 15,9% bà mẹ ở xã Ngọc Hồi, Thanh Trì có kiến 
thức tốt về NCBSM [4], thấp hơn rất nhiều so với kết quả 
nghiên cứu của Tôn Thị Anh Tú (2010) tại Bệnh viện Nhi 
Đồng I của các bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi là 43,3% 
[5]. Cũng trong biểu đồ 3.1 số bà mẹ có kiến thức khá 
36,2% và kiến thức kém chiếm tỷ lệ cao nhất 52,3%. Kết 
quả này phù hợp vì đa số đối tượng nghiên cứu sống ở 
vùng nông thôn và trình độ học vấn từ PTTH trở xuống 
chiếm tỷ lệ khá cao. Chính vì vậy nhân viên y tế nên tư 
vấn về NCBSM cho sản phụ trước và sau khi sinh là vô 
cùng cần thiết để giúp cho sản phụ hiểu rõ về tầm quan 
trọng của việc NCBSM.
1.2. Thực hành của các bà mẹ về nuôi con bằng 
sữa mẹ
1.2. 1.Thời điểm cho con bú lần đầu của sản phụ
Theo kết quả tại bảng 3.1 có 88,5% sản phụ cho con 
bú lần đầu sau mổ đẻ > 6 giờ, tỷ lệ bà mẹ cho con bú lần 
đầu < 6 giờ chiếm tỷ lệ rất thấp 7,0%. Kết quả này cũng 
tương đồng với kết quả Kong SK , Lee DT (2004) có 7,4% 
sản phụ sau mổ tại các Bệnh viện của Hong Kong cho con 
bú dưới 6 giờ sau mổ [6].
1.2.2. Thực hành cho trẻ ăn uống trước lần bú đầu tiên
Theo khuyến nghị của WHO, không cần phải cho trẻ 
sơ sinh ăn/uống một thức ăn nước uống nào khác trước 
khi bú mẹ lần đầu, vì các thực phẩm này có thể gây nhiễm 
khuẩn cho trẻ, tăng tỷ lệ dị ứng, làm cho trẻ bú kém, bỏ 
bú, ảnh hưởng tới việc tiết sữa sau này. Tại bảng 3.2 chúng 
tôi thấy rằng tỷ lệ sản phụ cho con ăn/ uống thức ăn khác 
trước lần bú mẹ đầu tiên là 58,8% thấp hơn so với nghiên 
cứu của Phạm Thị Phương Thảo (2015) có 69,5% các bà 
mẹ cho con ăn/ uống thức ăn khác trước lần bú mẹ đầu 
tiên [7].
1.2.3. Thực hành ngậm bắt vú của trẻ khi cho trẻ bú 
sữa mẹ
Nghiên cứu của chúng tôi tại biểu đồ 3.2 được tổng 
hợp lại từ các tiêu chí đánh giá thì có 48,8% trẻ ngậm bắt 
vú tốt, thấp hơn so với nghiên cứu của Phạm Thị Phương 
Thảo (2013) của các bà mẹ có con dưới 6 tháng tại Phòng 
khám dinh dưỡng Bệnh viện Nhi Trung ương 66,0% [7]. 
Kết quả của chúng tôi cao hơn nghiên cứu của tác giả Phạm 
Thị Yến Nhi (2014) có 34,1% trẻ ngậm bắt vú đúng [8].
1.2.4. Đánh giá thực hành NCBSM
Thực hành NCBSM bao gồm những hành vi về 
NCBSM và cách cho con bú, tại bảng 3.3 của chúng tôi 
thấy rằng tỷ lệ các bà mẹ có thực hành NCBSM đạt rất 
thấp chỉ chiếm 18,2%. Theo nghiên cứu của Tôn Thị Anh 
Tú (2010) tại Bệnh viên Nhi Đồng I thì tỷ lệ thực hành đạt 
về NCBSM là 37,3%, cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu 
của chúng tôi [5].
2. Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành 
nCBSm
2.1. Các yếu tố liên quan đến kiến thức 
Tìm hiểu mối liên quan giữa đặc điểm chung và kiến 
thức NCBSM chúng tôi thấy rằng trình độ học vấn cũng có 
liên quan đến kiến thức NCBSM. Những bà mẹ có trình độ 
học vấn trên PTTH có kiến thức về NCBSM cao gấp 3,15 
lần so với các bà mẹ có trình độ học vấn dưới PTTH, với 
95%CI là 1,69 – 5,85. 
Những sản phụ ở thành thị có kiến thức về NCBSM 
cao gấp 2,40 lần so với các sản phụ vùng nông thôn với 
95%CI (1,32 – 4,37). Những sản phụ được NVYT tư vấn 
sau đẻ mổ có kiến thức từ trung bình trở lên về NCBSM 
cao gấp 2,74 lần so với các sản phụ được không được 
NVYT tư vấn, với 95%CI (1,58 – 4,76). Vì vậy NVYT 
cần phải tăng cường tư vấn, hỗ trợ cho các bà mẹ sau sinh 
để họ nâng cao kiến thức về NCBSM.
2.2. Các yếu tố liên quan đến thực hành NCBSM
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, những sản 
phụ thuộc nhóm nghề nghiệp là cán bộ, viên chức có thực 
hành NCBSM cao gấp 3,31 lần các sản phụ không phải 
cán bộ viên chức với 95% CI (1,53 – 7,19). Các sản phụ 
được NVYT hướng dẫn cách cho trẻ bú có thực hành 
NCBSM 11,8 lần so với các sản phụ không được NVYT 
hướng dẫn, với 95%CI (4,63 – 26,47). Vì vậy, khi chăm 
sóc các sản phụ sau mổ lấy thai, các nhân viên y tế cần tư 
vấn và hướng dẫn cho các sản phụ cho trẻ bú càng sớm 
càng tốt khi trẻ được tiếp xúc với mẹ.
V. KẾT LUẬN
* Thực trạng kiến thức 
- Kiến thức của các sản phụ về NCBSM còn nhiều 
hạn chế: Chỉ có 26,9% SP biết phải vắt hết sữa còn lại 
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn66
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
sau bữa bú để duy trì nguồn sữa mẹ. Sản phụ có kiến thức 
tốt về NCBSM là 11,5% ; 26,3% khá và 52,3% có kiến 
thức kém.
* Thực trạng thực hành
- Thực hành về NCBSM của các sản phụ cũng còn 
nhiều hạn chế:
+ Thời điểm cho con bú lần đầu của sản phụ < 6 giờ 
chỉ chiếm 7,0%; 58,8% bà mẹ đã cho con ăn/uống thức 
ăn khác trước lần bú mẹ đầu tiên; 51,2% trẻ ngậm bắt vú 
chưa tốt;
- Đánh giá chung về thực hành NCBSM: Có 18,0% 
sản phụ thực hành đạt, còn lại chưa đạt chiếm 82,0%.
* Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành
- Những sản phụ có trình độ học vấn PTTH trở lên, 
ở thành thị và được NVYT tư vấn lần lượt có kiến thức 
NCBSM cao gấp 3,15; 2,40; 2,74 lần so với những sản phụ 
có trình độ học vấn PTTH trở xuống, sống ở nông thôn và 
không được NVYT tư vấn.
- Những sản phụ có nghề nghiệp là cán bộ viên chức, 
được NVYT tư vấn lần lượt có thực hành NCBSM cao 
gấp 3,31; 11,08 lần so với những sản phụ có nghề nghiệp 
không phải cán bộ viên chức, không được NVYT tư vấn.
VI. KIẾN NGHỊ
- Trong quá trình khám thai và quản lý thai nghén tại 
bệnh viện, bác sĩ và hộ sinh cần tư vấn và có những biện pháp 
truyền thông riêng biệt phù hợp cho phụ nữ sống ở nông thôn 
hoặc có trình độ văn hóa thấp về NCBSM sau sinh.
- Bệnh viện cần có những quy định cụ thể hơn để cho 
trẻ bú mẹ sau mổ càng sớm càng tốt. 
- Hộ sinh cần tập trung hơn trong việc tư vấn và hỗ 
trợ sản phụ NCBSM sau mổ. Các sản phụ trước khi ra viện 
cần được quan sát bữa bú để được hỗ trợ giúp đỡ kịp thời 
từ NVYT.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Đức Thuấn (2013), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của sản phụ sau đẻ tại khoa Sản thường, Bệnh viện 
Phụ sản Trung ương”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, năm 2013.
2. Bùi Thị Duyên, Trần Hà Linh, Phạm Hồng Tư (2013), “Mô tả kiến thức và một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức 
về bú sớm sau sinh và bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của những bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại 3 xã thuộc cụm Long 
Vân, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa”, Tạp chí Y tế Công cộng, Hội Y tế Công cộng Việt Nam, số 27 (27), tr.16-22
3. Nguyễn Việt Dũng (2014), Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu 
của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, Hà Nội năm 2014. Tạp chí Y học Thực hành, 
Bộ Y tế, số 4 (914), tr.71- 77.
4. Tôn Thị Anh Tú, Nguyễn Thu Tịnh (2010), Kiến thức, thái độ , thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ 
có con dưới 6 tháng tuổi tại Bệnh viện Nhi Đồng I năm 2010. Nghiên cứu Y học, Y học TP. Hồ Chí Minh, tập 15- Phụ 
bản số 1 / 2011.
5. Phạm Thị Phương Thảo ( 2013) Tìm hiểu kiến thức, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ ở các bà mẹ có con dưới 6 
tháng tại Phòng khám dinh dưỡng Bệnh viện Nhi Trung ương, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân điều dưỡng, Trường Đại 
học Y Hà Nội.
6. Phạm Thị Yến Nhi (2014), Kiến thức, thái độ , thực hành và một số yếu tố liên quan về nuôi con bằng sữa mẹ 
của sản phụ sau sinh tại Bệnh viện đa khoa Kiên Giang năm 2014, Luận văn thạc sĩ quản lý bệnh viện, Đại học Y tế 
Công cộng.
7. Kong SK , Lee DT (2004),” Factors affecting the decision to breastfeed in hospital in Hong Kong in 2004” J Adv 
Nurs. May 2005, 46 (4): 369-379.
8. Hyattsville M.D. (2004), “Prelimanary birth for 2004: Infant and Marternal health”, National center for health 
statistics, 34(1), pp.75-76.

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_nuoi_con_bang_sua_me_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_c.pdf