Thực trạng một số bệnh truyền nhiễm khu vực Đồng bằng ven biển Bắc Bộ
Chúng tôi tiến hành điều tra toàn bộ ở các trung tâm
y tế và hồi cứu các ca bệnh tại 4 tỉnh khu vực đồng bằng
ven biển Bắc bộ năm 2014, gồm: Hải Phòng, Nam Định,
Thái Bình và Ninh Bình, nhằm phân tích đặc điểm dịch tễ
một số bệnh truyền nhiễm liên quan tới biến đổi khí hậu.
Ở 4 tỉnh chỉ có 1 người mắc sốt rét ác tính tại Thái Bình và
không có người chết do sốt rét. Tỷ lệ mắc sốt rét/100.000
dân cao nhất tại Nam Định (98,8) và thấp nhất tại Thái
Bình (21,8). Mắc sốt xuất huyết Dengue trung bình/năm
cao nhất tại Thái Bình (31 ca), Nam Định (19 ca) và có xu
hướng giảm ở cả 4 tỉnh. Số ca sốt xuất huyết Dengue bắt
đầu tăng từ tháng 9 đến tháng 11 mà đỉnh điểm cao nhất
là tháng 10. Tỷ lệ mắc viêm não vi rút cao hơn rất nhiều
so với tỷ lệ chung của miền Bắc (năm 2011 miền Bắc
tỷ lệ mắc/100.000 là 2,21 thì Thái Bình là 6,9) và có xu
hướng gia tăng. Bệnh viêm gan vi rút cũng như hội chứng
lỵ tản phát quanh năm, rải rác ở các địa phương của các
tỉnh. Bệnh nhân mắc hội chứng cúm gặp ở hầu hết các địa
phương, Thái Bình mắc nhiều nhất (72.302 trường hợp),
thấp nhất là Hải Phòng (9.920 trường hợp).
Tóm tắt nội dung tài liệu: Thực trạng một số bệnh truyền nhiễm khu vực Đồng bằng ven biển Bắc Bộ
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn70 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 TÓM TẮT Chúng tôi tiến hành điều tra toàn bộ ở các trung tâm y tế và hồi cứu các ca bệnh tại 4 tỉnh khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ năm 2014, gồm: Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình và Ninh Bình, nhằm phân tích đặc điểm dịch tễ một số bệnh truyền nhiễm liên quan tới biến đổi khí hậu. Ở 4 tỉnh chỉ có 1 người mắc sốt rét ác tính tại Thái Bình và không có người chết do sốt rét. Tỷ lệ mắc sốt rét/100.000 dân cao nhất tại Nam Định (98,8) và thấp nhất tại Thái Bình (21,8). Mắc sốt xuất huyết Dengue trung bình/năm cao nhất tại Thái Bình (31 ca), Nam Định (19 ca) và có xu hướng giảm ở cả 4 tỉnh. Số ca sốt xuất huyết Dengue bắt đầu tăng từ tháng 9 đến tháng 11 mà đỉnh điểm cao nhất là tháng 10. Tỷ lệ mắc viêm não vi rút cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ chung của miền Bắc (năm 2011 miền Bắc tỷ lệ mắc/100.000 là 2,21 thì Thái Bình là 6,9) và có xu hướng gia tăng. Bệnh viêm gan vi rút cũng như hội chứng lỵ tản phát quanh năm, rải rác ở các địa phư ơng của các tỉnh. Bệnh nhân mắc hội chứng cúm gặp ở hầu hết các địa phương, Thái Bình mắc nhiều nhất (72.302 trường hợp), thấp nhất là Hải Phòng (9.920 trường hợp). Từ khóa: Đồng bằng Bắc bộ, bệnh truyền nhiễm, đặc điểm dịch tễ, ca bệnh. ABSTRACT THE STATUS OF SOME INFECTIOUS DISEASES IN THE COASTAL ZONE OF NORTHERN DELTA We conducted a comprehensive survey at medical centers and a retrospective study of cases in four provinces in the coastal zone of Northern Delta in 2014, including Hai Phong, Nam Dinh, Thai Binh and Ninh Binh in order to analyze the epidemiological characteristics of some infectious diseases related to climate change. In these provinces, there was only one case report of malaria in Thai Binh and no malaria deaths. Malaria prevalence rates was highest in Nam Dinh (98.8 per 100,000) and lowest in Thai Binh (21.8 per 100,000). The prevalence rate of dengue disease was highest in Thai Binh (31 cases per year), Nam Dinh (19 cases per year) and tended to decrease in all four provinces. The number of dengue cases began to increase from September to November with a peak in October. The prevalence rate of viral encephalitis is much higher than that of Northern Vietnam (In 2011, the incidence rate in Northern Vietnam was 2.21 per 100,000 while the rate in Thai Binh was 6.9 per 100,000) and tends to increase. Viral hepatitis as well as dysentery syndrome occurred sporadically throughout the year and was scattered in localities of the provinces. Patients with the influenza syndrome were in most localities. Influenza prevalence rates was highest in Thai Binh (72,302 cases) and lowest in Hai Phong (9,920 cases). Keywords: Northern Delta, infectious diseases, epidemiological characteristics, case. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là nước có điều kiện địa lý tự nhiên phức tạp, thiên tai, thảm họa, dịch bệnh thường xuyên xảy ra. Biến đổi khí hậu và sự phát sinh, phát triển bệnh truyền nhiễm là một quá trình có liên quan với nhau thông qua nhiều cơ chế. Như một quy luật, sau thiên tai môi trường thường bị xáo trộn lớn, nguồn nước, đất và không khí bị ô nhiễm nặng là một trong những nguyên nhân chính gây bùng phát các vụ dịch bệnh truyền nhiễm, gồm cả các bệnh của động vật, bệnh có ổ dịch tự nhiên, bệnh từ nơi khác đến. Theo thống kê của Bộ Y tế, những năm gần đây đã xuất hiện nhiều loại dịch bệnh và có chiều hướng gia tăng như: dịch viêm đường hô hấp cấp (SARS), Rubella, cúm gia cầm, cúm A H5N1, sốt xuất huyết, sốt rét, bệnh dại, thương hàn, viêm não vi rút, viên não mô cầu. Tỷ lệ mắc bệnh do dịch lây hàng năm chiếm từ 19,8%- 25,7% tổng số người mắc; tỷ lệ chết hàng năm 13,2%- 30,1% tổng số người tử vong do bệnh và tai nạn. Các đợt nóng xuất hiện ngày càng nhiều và cường độ mạnh hơn sẽ làm THỰC TRẠNG MỘT SỐ BỆNH TRUYỀN NHIỄM KHU VỰC ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN BẮC BỘ Trần Kiên1, Trần Quang Trung1 Ngày nhận bài: 01/04/2018 Ngày phản biện: 07/04/2018 Ngày duyệt đăng: 15/04/2018 1. Học viện Quân y SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 71 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong, nhất là người nghèo, người già và trẻ em. Gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ cộng đồng và phát triển kinh tế- xã hội. Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi nghiên cứu thực trạng một số bệnh truyền nhiễm liên quan tới biến đổi khí hậu khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá thực trạng một số bệnh truyền nhiễm liên quan tới biến đổi khí hậu khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ. Đối trượng và ph ương pháp nghiên cứu: 1. Đối tượng nghiên cứu: Thông số dịch bệnh của khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ. Ca bệnh chẩn đoán mắc các bệnh truyền nhiễm. 2. Địa điểm nghiên cứu: Khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ, gồm: Thành phố Hải Phòng, tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình. 3. Thời gian nghiên cứu: Từ 6/2013 đến 12/2014. 4. Nội dung nghiên cứu: Phân tích đặc điểm dịch tễ một số bệnh liên quan tới biến đổi khí hậu tại khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ. 5. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích. - Điều tra hồi cứu về tình trạng bệnh tật, tử vong do mắc các bệnh liên quan đến biến đổi khí hậu của 4 tỉnh/ thành phố từ sổ sách thống kê tại Trung tâm y tế dự phòng tỉnh và hồi cứu các ca bệnh. - Điều tra thực trạng mắc bệnh tại thời điểm nghiên cứu: khám sức khỏe tổng quát, thu thập số liệu từ sổ sách tình trạng sức khỏe định kỳ của 4 tỉnh/thành phố. * Công cụ nghiên cứu: Phiếu điều tra, giấy, sổ sách, bút để ghi chép được sử dụng để thu thập các thông tin cần thiết từ sổ sách thống kê tại Trung tâm y tế dự phòng và từ hồi cứu các ca bệnh trong thời gian từ 2004 đến 2014. 6. Xử lý số liệu: Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata và xử lý bằng phần mềm Stata. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1. Bệnh sốt rét: Số bệnh nhân sốt rét từ 2005- 2013 cao nhất tại Nam Định (11.249 người) và thấp nhất tại Thái Bình (1.159 người). Bảng 1. Tình hình số bệnh nhân sốt rét khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ Địa phương 2005-2006 2007-2008 2009-2010 2011-2012 2013-2014 Tổng cộng Hải Phòng 1.036 911 857 765 604 4.173 Nam Định 2.470 2.463 2.268 2.080 1.968 11.249 Thái Bình 317 221 176 205 240 1.159 Ninh Bình 1.313 1.034 965 887 316 4.515 Bảng 2. Tình hình mắc, chết do sốt rét khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ- 2014 Địa phương Số người bị sốt rét Trong đó Tỷ lệ/100.000 người Ác tính Chết Mắc Chết Toàn quốc 60.547 141 25 70,23 0,03 Vùng ĐB Sông hồng 7.135 1 0 38,47 0 Hải Phòng 604 0 0 32,72 0 Nam Định 1.968 0 0 98,87 0 Thái Bình 240 1 0 21,81 0 Ninh Bình 316 0 0 87,15 0 SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn72 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 Bảng 3. Tình hình mắc, chết do sốt xuất huyết khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ Địa phương Năm 2005-2010 Năm 2011-2014 Mắc (TB/năm) Chết Mắc/ 100.000 Mắc (TB/năm) Chết Mắc/ 100.000 Hải Phòng 11 0 0,60 6 0 0,38 Nam Định 19 0 0,95 8 0 0,35 Thái Bình 31 0 1,66 8 0 0,48 Ninh Bình 0 0 0,00 1 0 0,96 Trên toàn quốc số người mắc sốt rét ác tính cao (241 người), tuy nhiên 4 tỉnh đồng bằng ven biển Bắc bộ chỉ có mắc 1 người tại Thái Bình, đồng thời tại 4 tỉnh không có người nào chết do sốt rét. Tỷ lệ mắc/100.000 dân cao nhất tại Nam Định (98,87) và thấp nhất tại Thái Bình (21,81). 2. Bệnh sốt xuất huyết Dengue: Biểu đồ 1. Phân bố dịch tễ học sốt xuất huyết Dengue theo tháng Bảng 4. Tình hình bệnh nhân viêm não vi rút khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ Địa danh Năm 2005-2010 Năm 2011-2014 Mắc (TB/năm) Chết Mắc/ 100.000 Mắc (TB/năm) Chết Mắc/ 100.000 Hải Phòng 35 0 1,91 55 0 2,98 Nam Định 11 0 0,55 13 0 0,65 Thái Bình 133 0 7,12 131 0 6,99 Ninh Bình 0 0 0,00 0 0 0,00 Mắc sốt xuất huyết Dengue (2005-2010) trung bình/năm cao nhất tại Thái Bình (31 ca) và Nam Định (19 ca) và những năm 2011-2014 có xu hướng giảm ở cả 4 tỉnh. Thời điểm tháng 4 và tháng 5 hàng năm, số ca sốt xuất huyết Dengue bắt đầu tăng và thời điểm cao nhất của dịch bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 11 mà đỉnh điểm cao nhất là tháng 10. 3. Bệnh viêm não vi rút: SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 73 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Bảng 5. Tình hình bệnh nhân viêm gan vi rút khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ Địa danh Năm 2005-2010 Năm 2011-2014 Mắc (TB/năm) Chết Mắc/ 100.000 Mắc (TB/năm) Chết Mắc/ 100.000 Hải Phòng 284 0 15,54 275 0 14,90 Nam Định 77 0 3,87 76 0 3,82 Thái Bình 895 0 47,89 866 0 46,24 Ninh Bình 64 0 6,89 127 0 13,56 Bảng 6. Tình hình bệnh nhân mắc hội chứng lỵ khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ Địa danh Năm 2005-2010 Năm 2011-2014 Mắc (TB/năm) Chết Mắc/ 100.000 Mắc (TB/năm) Chết Mắc/ 100.000 Hải Phòng 2.790 0 152,65 3.105 0 168,21 Nam Định 3.711 0 186,37 4.323 0 217,19 Thái Bình 8.172 0 437,29 5.969 0 318,70 Ninh Bình 2.924 0 314,92 2.620 0 279,82 So với cả nước bệnh viêm não vi rút tại một số tỉnh thuộc khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ có tỷ lệ mắc cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ chung của miền Bắc (năm 2011 miền Bắc tỷ lệ mắc/100.000 là 2,21 thì Thái Bình là 6,99, Hải Phòng là 2,98). Đồng thời trong những năm gần đây, viêm não vi rút có xu hướng gia tăng. 4. Bệnh viêm gan vi rút: Bệnh viêm gan vi rút tản phát quanh năm, rải rác ở các địa phư ơng của các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ. Nguyên nhân gây bệnh đã xác định được nhiều chủng vi rút gây viêm gan khác nhau (A, B, C...) và khác nhau về đư ờng lây. Đặc biệt quan tâm là viêm gan vi rút B (là một bệnh lây truyền cả qua đường máu, đường tình dục có tỷ lệ HBsAg(+) khá cao trong các cộng đồng dân cư , tuy nhiên đã có vaccin phòng bệnh). 5. Tình hình bệnh nhân mắc hội chứng lỵ: Hội chứng lỵ gặp ở hầu hết các địa phư ơng trong các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ, năm 2011-2014 tỉnh Thái Bình mắc nhiều nhất (5.969 trường hợp), thấp nhất là tỉnh Ninh Bình (2.620 trường hợp). SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn74 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 6. Tình hình bệnh nhân mắc hội chứng cúm: Bệnh nhân mắc hội chứng cúm gặp ở hầu hết các địa phư ơng trong các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ, năm 2011-2014 tỉnh Thái Bình mắc nhiều nhất (72.302 trường hợp), thấp nhất là Hải Phòng (9.920 trường hợp). IV. BÀN LUẬN Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, số trường hợp thu dung và điều trị các bệnh liên quan đến biến đổi khí hậu ở trên có xu hướng gia tăng, đặc biệt là những năm có nhiều biến động về thời tiết, khí hậu. Số vụ dịch, số loại bệnh dịch cũng tăng cao vào các năm có nhiều biến động về khí hậu, thời tiết. Dịch bệnh truyền nhiễm có diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng, số vụ dịch lớn vào năm có thời tiết, khí hậu biến đổi bất thường. Số bệnh nhân sốt rét từ 2005- 2013 cao nhất tại Nam Định (11.249 người) và thấp nhất tại Thái Bình (1.159 người). Trên toàn quốc số người mắc sốt rét ác tính cao (241 người), tuy nhiên 4 tỉnh đồng bằng ven biển Bắc bộ chỉ có mắc 1 người tại Thái Bình, đồng thời tại 4 tỉnh không có người nào chết do sốt rét. Tỷ lệ mắc/100.000 dân cao nhất tại Nam Định (98,87) và thấp nhất tại Thái Bình (21,81). Sốt xuất huyết Dengue trung bình/năm cao nhất tại Thái Bình (31 ca) và Nam Định (19 ca) và có xu hướng giảm ở cả 4 tỉnh. Thời điểm tháng 4 và tháng 5 hàng năm, số ca sốt xuất huyết Dengue bắt đầu tăng và thời điểm cao nhất của dịch bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 11 mà đỉnh điểm cao nhất là tháng 10. So với cả nước bệnh viêm não vi rút tại một số tỉnh thuộc khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ có tỷ lệ mắc cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ chung của miền Bắc (năm 2011 miền Bắc tỷ lệ mắc/100.000 là 2,21 thì Thái Bình là 6,99, Hải Phòng là 2,98). Đồng thời trong những năm gần đây, viêm não vi rút có xu hư ớng gia tăng. Bệnh viêm gan vi rút tản phát quanh năm, rải rác ở các địa phư ơng của các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ. Nguyên nhân gây bệnh đã xác định được nhiều chủng vi rút gây viêm gan khác nhau (A, B, C...) và khác nhau về đư ờng lây. Đặc biệt quan tâm là viêm gan vi rút B (là một bệnh lây truyền cả qua đường máu, đường tình dục có tỷ lệ HBsAg(+) khá cao trong các cộng đồng dân cư , tuy nhiên đã có vaccin phòng bệnh). Hội chứng lỵ gặp ở hầu hết các địa phương trong các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ. Năm 2011-2014 tỉnh Thái Bình mắc nhiều nhất (5.969 trường hợp), thấp nhất là tỉnh Ninh Bình (2.620 trường hợp). Bệnh nhân mắc hội chứng cúm gặp ở hầu hết các địa phư ơng trong các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ, tỉnh Thái Bình mắc nhiều nhất (72.302 trường hợp), thấp nhất là Hải Phòng (9.920 trường hợp). Biến đổi khí hậu là điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển bệnh truyền nhiễm, dịch bệnh gia tăng ở các vùng có khí hậu thời tiết thay đổi bất thường. Vấn đề tác động của biến đổi khí hậu đến bệnh tật và các tác động khác nhau của nó đến môi trường sống, môi trường sinh thái phức tạp của con người, ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển kinh tế-xã hội. V. KẾT LUẬN - Khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ có tỷ lệ mắc sốt rét cao hơn nhiều so với chỉ tiêu chung của chương trình phòng chống sốt rét quốc gia. Tỷ lệ mắc SR/100.000 dân cao hơn chỉ tiêu quốc gia: Nam Định: 98,87, Ninh Bình: 87,15. Bảng 7. Tình hình bệnh nhân mắc hội chứng cúm khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ Địa danh Năm 2002-2010 Năm 2011 Mắc (TB/năm) Chết Mắc/ 100.000 Mắc (TB/năm) Chết Mắc/ 100.000 Hải Phòng 9.481 0 518,74 9.920 0 536,52 Nam Định 18.234 0 915,73 17.976 0 892,40 Thái Bình 56.086 0 3001,18 72.302 0 3824,46 Ninh Bình 18.397 0 1981,37 19.096 0 2033,03 SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 75 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC - Bệnh sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue trong những năm gần đây diễn biến khá phức tạp. Tuy dịch không có chu kỳ rõ ràng, dịch xảy ra liên tục qua các năm với tính chất chu kỳ hàng năm với khởi phát vào cuối tháng 4 đầu tháng 5 và tăng nhanh đạt đỉnh cao nhất ở tháng 10. - Viêm não do vi rút gây thành dịch trên địa bàn các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ. So với cả nư ớc và miền Bắc, thì 4 tỉnh có tỷ lệ mắc cao hơn rất nhiều (miền Bắc tỷ lệ mắc/100.000 là 2,21 thì Thái Bình là 6,99, Hải Phòng là 2,98) và trong những năm gần đây, viêm não vi rút có xu hư ớng gia tăng. - Lỵ là một bệnh truyền nhiễm có số mắc hàng năm cao nhất trong số các bệnh truyền nhiễm đ ường tiêu hóa ở các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ. Số mắc nhiều tập trung chủ yếu ở Nam Định, Thái Bình. Bệnh xảy ra quanh năm lẻ tẻ hoặc tản phát, có khi bùng phát thành dịch. - Bệnh nhân mắc hội chứng cúm gặp ở hầu hết các địa phư ơng trong các tỉnh thuộc Khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ, năm 2011-2014 tỉnh Thái Bình mắc nhiều nhất (72.302 trường hợp), thấp nhất là Hải Phòng (9.920 trường hợp). TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam. 2. Nguyễn Khắc Hiếu (2008), “Tổng quan về các kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu và kết quả Hội nghị Liên Hợp quốc về BĐKH ở Bali”, Báo cáo tại Hội thảo BĐKH toàn cầu và ứng phó của Việt Nam, Hà Nội 26-29/2/2008 3. Nguyễn Văn Thắng và nnk (2010), Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đề xuất các giải pháp chiến lược phòng tránh, giảm nhẹ và thích nghi, phục vụ phát triển bền vững kinh tế xã hội ở Việt Nam. Báo cáo tổng kết đề tài KHCN cấp Nhà nước thuộc chương trình KC08.13/06-10, Hà Nội. 4. Trần Thục, Lê Nguyên Tường (2008), Những tác động của biến đổi khí hậu đối với nước ta, Tạp chí Tài nguyên Môi trường, 4/2008. 5. To Van Truong, Tarek Ketelsen (2009), Water Resources in the Mekong Delta : A History of Management, A Future of Change.
File đính kèm:
thuc_trang_mot_so_benh_truyen_nhiem_khu_vuc_dong_bang_ven_bi.pdf

