Thực trạng một số bệnh truyền nhiễm khu vực Đồng bằng ven biển Bắc Bộ

Chúng tôi tiến hành điều tra toàn bộ ở các trung tâm

y tế và hồi cứu các ca bệnh tại 4 tỉnh khu vực đồng bằng

ven biển Bắc bộ năm 2014, gồm: Hải Phòng, Nam Định,

Thái Bình và Ninh Bình, nhằm phân tích đặc điểm dịch tễ

một số bệnh truyền nhiễm liên quan tới biến đổi khí hậu.

Ở 4 tỉnh chỉ có 1 người mắc sốt rét ác tính tại Thái Bình và

không có người chết do sốt rét. Tỷ lệ mắc sốt rét/100.000

dân cao nhất tại Nam Định (98,8) và thấp nhất tại Thái

Bình (21,8). Mắc sốt xuất huyết Dengue trung bình/năm

cao nhất tại Thái Bình (31 ca), Nam Định (19 ca) và có xu

hướng giảm ở cả 4 tỉnh. Số ca sốt xuất huyết Dengue bắt

đầu tăng từ tháng 9 đến tháng 11 mà đỉnh điểm cao nhất

là tháng 10. Tỷ lệ mắc viêm não vi rút cao hơn rất nhiều

so với tỷ lệ chung của miền Bắc (năm 2011 miền Bắc

tỷ lệ mắc/100.000 là 2,21 thì Thái Bình là 6,9) và có xu

hướng gia tăng. Bệnh viêm gan vi rút cũng như hội chứng

lỵ tản phát quanh năm, rải rác ở các địa phương của các

tỉnh. Bệnh nhân mắc hội chứng cúm gặp ở hầu hết các địa

phương, Thái Bình mắc nhiều nhất (72.302 trường hợp),

thấp nhất là Hải Phòng (9.920 trường hợp).

pdf 6 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng một số bệnh truyền nhiễm khu vực Đồng bằng ven biển Bắc Bộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thực trạng một số bệnh truyền nhiễm khu vực Đồng bằng ven biển Bắc Bộ

Thực trạng một số bệnh truyền nhiễm khu vực Đồng bằng ven biển Bắc Bộ
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn70
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018
TÓM TẮT
Chúng tôi tiến hành điều tra toàn bộ ở các trung tâm 
y tế và hồi cứu các ca bệnh tại 4 tỉnh khu vực đồng bằng 
ven biển Bắc bộ năm 2014, gồm: Hải Phòng, Nam Định, 
Thái Bình và Ninh Bình, nhằm phân tích đặc điểm dịch tễ 
một số bệnh truyền nhiễm liên quan tới biến đổi khí hậu. 
Ở 4 tỉnh chỉ có 1 người mắc sốt rét ác tính tại Thái Bình và 
không có người chết do sốt rét. Tỷ lệ mắc sốt rét/100.000 
dân cao nhất tại Nam Định (98,8) và thấp nhất tại Thái 
Bình (21,8). Mắc sốt xuất huyết Dengue trung bình/năm 
cao nhất tại Thái Bình (31 ca), Nam Định (19 ca) và có xu 
hướng giảm ở cả 4 tỉnh. Số ca sốt xuất huyết Dengue bắt 
đầu tăng từ tháng 9 đến tháng 11 mà đỉnh điểm cao nhất 
là tháng 10. Tỷ lệ mắc viêm não vi rút cao hơn rất nhiều 
so với tỷ lệ chung của miền Bắc (năm 2011 miền Bắc 
tỷ lệ mắc/100.000 là 2,21 thì Thái Bình là 6,9) và có xu 
hướng gia tăng. Bệnh viêm gan vi rút cũng như hội chứng 
lỵ tản phát quanh năm, rải rác ở các địa phư ơng của các 
tỉnh. Bệnh nhân mắc hội chứng cúm gặp ở hầu hết các địa 
phương, Thái Bình mắc nhiều nhất (72.302 trường hợp), 
thấp nhất là Hải Phòng (9.920 trường hợp).
Từ khóa: Đồng bằng Bắc bộ, bệnh truyền nhiễm, 
đặc điểm dịch tễ, ca bệnh.
ABSTRACT
THE STATUS OF SOME INFECTIOUS 
DISEASES IN THE COASTAL ZONE OF 
NORTHERN DELTA
We conducted a comprehensive survey at medical 
centers and a retrospective study of cases in four provinces 
in the coastal zone of Northern Delta in 2014, including 
Hai Phong, Nam Dinh, Thai Binh and Ninh Binh in order 
to analyze the epidemiological characteristics of some 
infectious diseases related to climate change. In these 
provinces, there was only one case report of malaria in 
Thai Binh and no malaria deaths. Malaria prevalence 
rates was highest in Nam Dinh (98.8 per 100,000) and 
lowest in Thai Binh (21.8 per 100,000). The prevalence 
rate of dengue disease was highest in Thai Binh (31 cases 
per year), Nam Dinh (19 cases per year) and tended to 
decrease in all four provinces. The number of dengue cases 
began to increase from September to November with a 
peak in October. The prevalence rate of viral encephalitis 
is much higher than that of Northern Vietnam (In 2011, 
the incidence rate in Northern Vietnam was 2.21 per 
100,000 while the rate in Thai Binh was 6.9 per 100,000) 
and tends to increase. Viral hepatitis as well as dysentery 
syndrome occurred sporadically throughout the year and 
was scattered in localities of the provinces. Patients with 
the influenza syndrome were in most localities. Influenza 
prevalence rates was highest in Thai Binh (72,302 cases) 
and lowest in Hai Phong (9,920 cases).
Keywords: Northern Delta, infectious diseases, 
epidemiological characteristics, case.
 I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là nước có điều kiện địa lý tự nhiên phức 
tạp, thiên tai, thảm họa, dịch bệnh thường xuyên xảy ra. 
Biến đổi khí hậu và sự phát sinh, phát triển bệnh truyền 
nhiễm là một quá trình có liên quan với nhau thông qua 
nhiều cơ chế. Như một quy luật, sau thiên tai môi trường 
thường bị xáo trộn lớn, nguồn nước, đất và không khí bị 
ô nhiễm nặng là một trong những nguyên nhân chính gây 
bùng phát các vụ dịch bệnh truyền nhiễm, gồm cả các 
bệnh của động vật, bệnh có ổ dịch tự nhiên, bệnh từ nơi 
khác đến. Theo thống kê của Bộ Y tế, những năm gần đây 
đã xuất hiện nhiều loại dịch bệnh và có chiều hướng gia 
tăng như: dịch viêm đường hô hấp cấp (SARS), Rubella, 
cúm gia cầm, cúm A H5N1, sốt xuất huyết, sốt rét, bệnh 
dại, thương hàn, viêm não vi rút, viên não mô cầu. Tỷ lệ 
mắc bệnh do dịch lây hàng năm chiếm từ 19,8%- 25,7% 
tổng số người mắc; tỷ lệ chết hàng năm 13,2%- 30,1% 
tổng số người tử vong do bệnh và tai nạn. Các đợt nóng 
xuất hiện ngày càng nhiều và cường độ mạnh hơn sẽ làm 
THỰC TRẠNG MỘT SỐ BỆNH TRUYỀN NHIỄM 
KHU VỰC ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN BẮC BỘ
Trần Kiên1, Trần Quang Trung1
Ngày nhận bài: 01/04/2018 Ngày phản biện: 07/04/2018 Ngày duyệt đăng: 15/04/2018
 1. Học viện Quân y
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 71
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong, nhất là người nghèo, người 
già và trẻ em. Gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ cộng đồng 
và phát triển kinh tế- xã hội. 
Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi nghiên cứu 
thực trạng một số bệnh truyền nhiễm liên quan tới biến đổi 
khí hậu khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ.
Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá thực trạng một số bệnh truyền nhiễm liên quan 
tới biến đổi khí hậu khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ.
Đối trượng và ph ương pháp nghiên cứu:
1. Đối tượng nghiên cứu: Thông số dịch bệnh của 
khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ. Ca bệnh chẩn đoán 
mắc các bệnh truyền nhiễm.
2. Địa điểm nghiên cứu: Khu vực đồng bằng ven biển 
Bắc bộ, gồm: Thành phố Hải Phòng, tỉnh Thái Bình, Nam 
Định và Ninh Bình.
 3. Thời gian nghiên cứu: Từ 6/2013 đến 12/2014.
4. Nội dung nghiên cứu: Phân tích đặc điểm dịch tễ 
một số bệnh liên quan tới biến đổi khí hậu tại khu vực 
đồng bằng ven biển Bắc bộ.
 5. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt 
ngang có phân tích.
- Điều tra hồi cứu về tình trạng bệnh tật, tử vong do 
mắc các bệnh liên quan đến biến đổi khí hậu của 4 tỉnh/
thành phố từ sổ sách thống kê tại Trung tâm y tế dự phòng 
tỉnh và hồi cứu các ca bệnh.
 - Điều tra thực trạng mắc bệnh tại thời điểm 
nghiên cứu: khám sức khỏe tổng quát, thu thập số liệu từ 
sổ sách tình trạng sức khỏe định kỳ của 4 tỉnh/thành phố.
* Công cụ nghiên cứu: Phiếu điều tra, giấy, sổ sách, 
bút để ghi chép được sử dụng để thu thập các thông tin cần 
thiết từ sổ sách thống kê tại Trung tâm y tế dự phòng và 
từ hồi cứu các ca bệnh trong thời gian từ 2004 đến 2014. 
6. Xử lý số liệu: Số liệu được nhập bằng phần mềm 
Epidata và xử lý bằng phần mềm Stata.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
1. Bệnh sốt rét: 
Số bệnh nhân sốt rét từ 2005- 2013 cao nhất tại Nam Định (11.249 người) và thấp nhất tại Thái Bình (1.159 người).
Bảng 1. Tình hình số bệnh nhân sốt rét khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ
Địa phương 2005-2006 2007-2008 2009-2010 2011-2012 2013-2014 Tổng cộng
Hải Phòng 1.036 911 857 765 604 4.173
Nam Định 2.470 2.463 2.268 2.080 1.968 11.249
Thái Bình 317 221 176 205 240 1.159
Ninh Bình 1.313 1.034 965 887 316 4.515
Bảng 2. Tình hình mắc, chết do sốt rét khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ- 2014 
Địa phương
Số người 
bị sốt rét
Trong đó Tỷ lệ/100.000 người
Ác tính Chết Mắc Chết
Toàn quốc 60.547 141 25 70,23 0,03
Vùng ĐB Sông hồng 7.135 1 0 38,47 0
Hải Phòng 604 0 0 32,72 0
Nam Định 1.968 0 0 98,87 0
Thái Bình 240 1 0 21,81 0
Ninh Bình 316 0 0 87,15 0
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn72
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018
Bảng 3. Tình hình mắc, chết do sốt xuất huyết khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ
Địa phương
Năm 2005-2010 Năm 2011-2014
Mắc
(TB/năm)
Chết Mắc/
100.000
Mắc
(TB/năm)
Chết Mắc/
100.000
Hải Phòng 11 0 0,60 6 0 0,38
Nam Định 19 0 0,95 8 0 0,35
Thái Bình 31 0 1,66 8 0 0,48
Ninh Bình 0 0 0,00 1 0 0,96
Trên toàn quốc số người mắc sốt rét ác tính cao (241 
người), tuy nhiên 4 tỉnh đồng bằng ven biển Bắc bộ chỉ có 
mắc 1 người tại Thái Bình, đồng thời tại 4 tỉnh không có 
người nào chết do sốt rét. Tỷ lệ mắc/100.000 dân cao nhất 
tại Nam Định (98,87) và thấp nhất tại Thái Bình (21,81).
2. Bệnh sốt xuất huyết Dengue: 
Biểu đồ 1. Phân bố dịch tễ học sốt xuất huyết Dengue theo tháng 
Bảng 4. Tình hình bệnh nhân viêm não vi rút khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ
Địa danh
Năm 2005-2010 Năm 2011-2014
Mắc
(TB/năm)
Chết
Mắc/
100.000
Mắc 
(TB/năm)
Chết
Mắc/
100.000
Hải Phòng 35 0 1,91 55 0 2,98
Nam Định 11 0 0,55 13 0 0,65
Thái Bình 133 0 7,12 131 0 6,99
Ninh Bình 0 0 0,00 0 0 0,00
Mắc sốt xuất huyết Dengue (2005-2010) trung 
bình/năm cao nhất tại Thái Bình (31 ca) và Nam Định 
(19 ca) và những năm 2011-2014 có xu hướng giảm ở 
cả 4 tỉnh.
Thời điểm tháng 4 và tháng 5 hàng năm, số ca sốt xuất 
huyết Dengue bắt đầu tăng và thời điểm cao nhất của dịch bắt 
đầu từ tháng 9 đến tháng 11 mà đỉnh điểm cao nhất là tháng 10. 
3. Bệnh viêm não vi rút: 
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 73
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bảng 5. Tình hình bệnh nhân viêm gan vi rút khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ
Địa danh
Năm 2005-2010 Năm 2011-2014
Mắc
(TB/năm)
Chết
Mắc/
100.000
Mắc
(TB/năm)
Chết
Mắc/
100.000
Hải Phòng 284 0 15,54 275 0 14,90
Nam Định 77 0 3,87 76 0 3,82
Thái Bình 895 0 47,89 866 0 46,24
Ninh Bình 64 0 6,89 127 0 13,56
Bảng 6. Tình hình bệnh nhân mắc hội chứng lỵ khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ
Địa danh
Năm 2005-2010 Năm 2011-2014
Mắc
(TB/năm)
Chết
Mắc/
100.000
Mắc
(TB/năm)
Chết
Mắc/
100.000
Hải Phòng 2.790 0 152,65 3.105 0 168,21
Nam Định 3.711 0 186,37 4.323 0 217,19
Thái Bình 8.172 0 437,29 5.969 0 318,70
Ninh Bình 2.924 0 314,92 2.620 0 279,82
So với cả nước bệnh viêm não vi rút tại một số 
tỉnh thuộc khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ có tỷ 
lệ mắc cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ chung của miền 
Bắc (năm 2011 miền Bắc tỷ lệ mắc/100.000 là 2,21 
thì Thái Bình là 6,99, Hải Phòng là 2,98). Đồng thời 
trong những năm gần đây, viêm não vi rút có xu hướng 
gia tăng.
4. Bệnh viêm gan vi rút: 
Bệnh viêm gan vi rút tản phát quanh năm, rải rác 
ở các địa phư ơng của các tỉnh thuộc khu vực đồng 
bằng ven biển Bắc bộ. Nguyên nhân gây bệnh đã xác 
định được nhiều chủng vi rút gây viêm gan khác nhau 
(A, B, C...) và khác nhau về đư ờng lây. Đặc biệt quan 
tâm là viêm gan vi rút B (là một bệnh lây truyền cả 
qua đường máu, đường tình dục có tỷ lệ HBsAg(+) 
khá cao trong các cộng đồng dân cư , tuy nhiên đã có 
vaccin phòng bệnh).
5. Tình hình bệnh nhân mắc hội chứng lỵ: 
Hội chứng lỵ gặp ở hầu hết các địa phư ơng trong 
các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ, năm 
2011-2014 tỉnh Thái Bình mắc nhiều nhất (5.969 trường 
hợp), thấp nhất là tỉnh Ninh Bình (2.620 trường hợp). 
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn74
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018
6. Tình hình bệnh nhân mắc hội chứng cúm: 
Bệnh nhân mắc hội chứng cúm gặp ở hầu hết các 
địa phư ơng trong các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng ven 
biển Bắc bộ, năm 2011-2014 tỉnh Thái Bình mắc nhiều 
nhất (72.302 trường hợp), thấp nhất là Hải Phòng (9.920 
trường hợp). 
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, số trường hợp 
thu dung và điều trị các bệnh liên quan đến biến đổi khí 
hậu ở trên có xu hướng gia tăng, đặc biệt là những năm 
có nhiều biến động về thời tiết, khí hậu. Số vụ dịch, 
số loại bệnh dịch cũng tăng cao vào các năm có nhiều 
biến động về khí hậu, thời tiết. Dịch bệnh truyền nhiễm 
có diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng, số 
vụ dịch lớn vào năm có thời tiết, khí hậu biến đổi bất 
thường. Số bệnh nhân sốt rét từ 2005- 2013 cao nhất tại 
Nam Định (11.249 người) và thấp nhất tại Thái Bình 
(1.159 người). Trên toàn quốc số người mắc sốt rét ác 
tính cao (241 người), tuy nhiên 4 tỉnh đồng bằng ven 
biển Bắc bộ chỉ có mắc 1 người tại Thái Bình, đồng 
thời tại 4 tỉnh không có người nào chết do sốt rét. Tỷ 
lệ mắc/100.000 dân cao nhất tại Nam Định (98,87) và 
thấp nhất tại Thái Bình (21,81). Sốt xuất huyết Dengue 
trung bình/năm cao nhất tại Thái Bình (31 ca) và Nam 
Định (19 ca) và có xu hướng giảm ở cả 4 tỉnh. Thời 
điểm tháng 4 và tháng 5 hàng năm, số ca sốt xuất huyết 
Dengue bắt đầu tăng và thời điểm cao nhất của dịch bắt 
đầu từ tháng 9 đến tháng 11 mà đỉnh điểm cao nhất 
là tháng 10. So với cả nước bệnh viêm não vi rút tại 
một số tỉnh thuộc khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ 
có tỷ lệ mắc cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ chung của 
miền Bắc (năm 2011 miền Bắc tỷ lệ mắc/100.000 là 
2,21 thì Thái Bình là 6,99, Hải Phòng là 2,98). Đồng 
thời trong những năm gần đây, viêm não vi rút có xu 
hư ớng gia tăng. Bệnh viêm gan vi rút tản phát quanh 
năm, rải rác ở các địa phư ơng của các tỉnh thuộc khu 
vực đồng bằng ven biển Bắc bộ. Nguyên nhân gây bệnh 
đã xác định được nhiều chủng vi rút gây viêm gan khác 
nhau (A, B, C...) và khác nhau về đư ờng lây. Đặc biệt 
quan tâm là viêm gan vi rút B (là một bệnh lây truyền 
cả qua đường máu, đường tình dục có tỷ lệ HBsAg(+) 
khá cao trong các cộng đồng dân cư , tuy nhiên đã có 
vaccin phòng bệnh). Hội chứng lỵ gặp ở hầu hết các 
địa phương trong các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng 
ven biển Bắc bộ. Năm 2011-2014 tỉnh Thái Bình mắc 
nhiều nhất (5.969 trường hợp), thấp nhất là tỉnh Ninh 
Bình (2.620 trường hợp). Bệnh nhân mắc hội chứng 
cúm gặp ở hầu hết các địa phư ơng trong các tỉnh thuộc 
khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ, tỉnh Thái Bình 
mắc nhiều nhất (72.302 trường hợp), thấp nhất là Hải 
Phòng (9.920 trường hợp). 
Biến đổi khí hậu là điều kiện thuận lợi cho sự phát 
sinh, phát triển bệnh truyền nhiễm, dịch bệnh gia tăng ở 
các vùng có khí hậu thời tiết thay đổi bất thường. Vấn đề 
tác động của biến đổi khí hậu đến bệnh tật và các tác động 
khác nhau của nó đến môi trường sống, môi trường sinh 
thái phức tạp của con người, ảnh hưởng không nhỏ tới 
phát triển kinh tế-xã hội. 
V. KẾT LUẬN
- Khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ có tỷ lệ mắc sốt 
rét cao hơn nhiều so với chỉ tiêu chung của chương trình 
phòng chống sốt rét quốc gia. Tỷ lệ mắc SR/100.000 dân cao 
hơn chỉ tiêu quốc gia: Nam Định: 98,87, Ninh Bình: 87,15. 
Bảng 7. Tình hình bệnh nhân mắc hội chứng cúm khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ
Địa danh
Năm 2002-2010 Năm 2011
Mắc
(TB/năm)
Chết
Mắc/
100.000
Mắc
(TB/năm)
Chết
Mắc/
100.000
Hải Phòng 9.481 0 518,74 9.920 0 536,52
Nam Định 18.234 0 915,73 17.976 0 892,40
Thái Bình 56.086 0 3001,18 72.302 0 3824,46
Ninh Bình 18.397 0 1981,37 19.096 0 2033,03
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 75
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
- Bệnh sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue trong những 
năm gần đây diễn biến khá phức tạp. Tuy dịch không có chu 
kỳ rõ ràng, dịch xảy ra liên tục qua các năm với tính chất 
chu kỳ hàng năm với khởi phát vào cuối tháng 4 đầu tháng 
5 và tăng nhanh đạt đỉnh cao nhất ở tháng 10.
- Viêm não do vi rút gây thành dịch trên địa bàn các 
tỉnh thuộc khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ. So với cả 
nư ớc và miền Bắc, thì 4 tỉnh có tỷ lệ mắc cao hơn rất nhiều 
(miền Bắc tỷ lệ mắc/100.000 là 2,21 thì Thái Bình là 6,99, 
Hải Phòng là 2,98) và trong những năm gần đây, viêm não 
vi rút có xu hư ớng gia tăng.
- Lỵ là một bệnh truyền nhiễm có số mắc hàng năm 
cao nhất trong số các bệnh truyền nhiễm đ ường tiêu hóa 
ở các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng ven biển Bắc bộ. Số 
mắc nhiều tập trung chủ yếu ở Nam Định, Thái Bình. 
Bệnh xảy ra quanh năm lẻ tẻ hoặc tản phát, có khi bùng 
phát thành dịch. 
- Bệnh nhân mắc hội chứng cúm gặp ở hầu hết các 
địa phư ơng trong các tỉnh thuộc Khu vực đồng bằng ven 
biển Bắc bộ, năm 2011-2014 tỉnh Thái Bình mắc nhiều 
nhất (72.302 trường hợp), thấp nhất là Hải Phòng (9.920 
trường hợp).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam.
2. Nguyễn Khắc Hiếu (2008), “Tổng quan về các kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu và kết quả Hội nghị Liên 
Hợp quốc về BĐKH ở Bali”, Báo cáo tại Hội thảo BĐKH toàn cầu và ứng phó của Việt Nam, Hà Nội 26-29/2/2008
3. Nguyễn Văn Thắng và nnk (2010), Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các điều kiện tự nhiên, 
tài nguyên thiên nhiên và đề xuất các giải pháp chiến lược phòng tránh, giảm nhẹ và thích nghi, phục vụ phát triển 
bền vững kinh tế xã hội ở Việt Nam. Báo cáo tổng kết đề tài KHCN cấp Nhà nước thuộc chương trình KC08.13/06-10, 
Hà Nội.
4. Trần Thục, Lê Nguyên Tường (2008), Những tác động của biến đổi khí hậu đối với nước ta, Tạp chí Tài 
nguyên Môi trường, 4/2008.
5. To Van Truong, Tarek Ketelsen (2009), Water Resources in the Mekong Delta : A History of Management, A 
Future of Change.

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_mot_so_benh_truyen_nhiem_khu_vuc_dong_bang_ven_bi.pdf