Thực trạng hoạt động truyền thông về sức khỏe tâm thần tại các tỉnh/thành phố trong cả nước năm 2014

Nghiên cứu “Thực trạng hoạt động truyền thông về sức khỏe tâm thần tại

các tỉnh/thành phố trong cả nước năm 2014” được thực hiện với mục tiêu: mô tả

mô hình quản lý hoạt động truyền thông và thực trạng hoạt động truyền thông về

SKTT ở các tỉnh/thành phố năm 2014. Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả

cắt ngang, kết hợp định tính và định lượng. Đối tượng nghiên cứu là các đơn vị

chăm sóc SKTT tuyến tỉnh/thành phố; lãnh đạo và cán bộ phụ trách truyền thông

về SKTT tuyến tỉnh, huyện, xã; người dân tại 3 xã thuộc 3 tỉnh (Thanh Hóa, Lào

Cai, Hòa Bình). Kết quả nghiên cứu cho thấy sự chỉ đạo hoạt động truyền thông

về SKTT của tuyến trung ương đối với tuyến tỉnh còn hạn chế (chỉ có 37,9% đơn

vị nhận được chỉ đạo từ tuyến trung ương); hoạt động truyền thông của tuyến

huyện chưa tích cực, nguồn kinh phí dành cho hoạt động truyền thông chưa cao.

Việc tập huấn kỹ năng truyền thông cho cán bộ phụ trách công tác truyền thông

về SKTT chưa được coi trọng (46,6% chưa được tập huấn). Tài liệu truyền thông

còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu của cán bộ y tế và người dân. Nhu cầu tài

liệu truyền thông về SKTT của người dân là tranh gấp, băng đĩa hình, của cán bộ

y tế (CBYT) là tranh lật và sổ tay. Nghiên cứu cũng đề xuất một vài kiến nghị để

cải thiện công tác truyền thông về SKTT

pdf 11 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng hoạt động truyền thông về sức khỏe tâm thần tại các tỉnh/thành phố trong cả nước năm 2014", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thực trạng hoạt động truyền thông về sức khỏe tâm thần tại các tỉnh/thành phố trong cả nước năm 2014

Thực trạng hoạt động truyền thông về sức khỏe tâm thần tại các tỉnh/thành phố trong cả nước năm 2014
 210 
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VỀ SỨC KHỎE TÂM 
THẦN TẠI CÁC TỈNH/THÀNH PHỐ TRONG CẢ NƯỚC NĂM 2014 
BS. Đào Thị Tuyết, ThS. Phùng Thị Thảo, 
 ThS.BS. Lý Thu Hiền, và các cộng sự 
Trung tâm Truyền thông GDSK Trung ương 
Tóm tắt nghiên cứu 
Nghiên cứu “Thực trạng hoạt động truyền thông về sức khỏe tâm thần tại 
các tỉnh/thành phố trong cả nước năm 2014” được thực hiện với mục tiêu: mô tả 
mô hình quản lý hoạt động truyền thông và thực trạng hoạt động truyền thông về 
SKTT ở các tỉnh/thành phố năm 2014. Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả 
cắt ngang, kết hợp định tính và định lượng. Đối tượng nghiên cứu là các đơn vị 
chăm sóc SKTT tuyến tỉnh/thành phố; lãnh đạo và cán bộ phụ trách truyền thông 
về SKTT tuyến tỉnh, huyện, xã; người dân tại 3 xã thuộc 3 tỉnh (Thanh Hóa, Lào 
Cai, Hòa Bình). Kết quả nghiên cứu cho thấy sự chỉ đạo hoạt động truyền thông 
về SKTT của tuyến trung ương đối với tuyến tỉnh còn hạn chế (chỉ có 37,9% đơn 
vị nhận được chỉ đạo từ tuyến trung ương); hoạt động truyền thông của tuyến 
huyện chưa tích cực, nguồn kinh phí dành cho hoạt động truyền thông chưa cao. 
Việc tập huấn kỹ năng truyền thông cho cán bộ phụ trách công tác truyền thông 
về SKTT chưa được coi trọng (46,6% chưa được tập huấn). Tài liệu truyền thông 
còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu của cán bộ y tế và người dân. Nhu cầu tài 
liệu truyền thông về SKTT của người dân là tranh gấp, băng đĩa hình, của cán bộ 
y tế (CBYT) là tranh lật và sổ tay. Nghiên cứu cũng đề xuất một vài kiến nghị để 
cải thiện công tác truyền thông về SKTT. 
1. Đặt vấn đề 
Tại Việt Nam, Dự án “Bảo vệ SKTT dựa vào Cộng đồng và Trẻ em” được 
triển khai từ năm 1999 đã thực hiện nhiều hoạt động truyền thông, tuyên truyền, 
giáo dục cộng đồng về SKTT, góp phần làm nâng cao nhận thức của xã hội về các 
rối loạn SKTT, giảm thiểu kỳ thị đối với bệnh nhân tâm thần. Các hoạt động này 
được thực hiện ở các cấp từ trung ương đến địa phương thông qua các hình thức 
truyền thông trực tiếp và gián tiếp. Dự án không chỉ cung cấp kiến thức cho người 
dân mà còn nâng cao vai trò của các ngành, các cấp, của tất cả mọi người trong 
công tác phòng chống các bệnh tâm thần. Đã có một số nghiên cứu đánh giá về 
tính hiệu quả của Dự án và các mô hình chăm sóc SKTT trong những năm qua. 
Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đánh giá về hoạt động truyền thông về SKTT. 
Vậy, hiệu quả của các hoạt động truyền thông đối với dự án ra sao, cần có những 
giải pháp nào trong thời gian tới để duy trì và phát huy tính tích cực của hoạt 
 211 
động truyền thông trong công tác bảo vệ SKTT dựa vào cộng đồng? Để trả lời 
câu hỏi này, chúng tôi thực hiện điều tra “Thực trạng hoạt động truyền thông về 
SKTT tại các tỉnh/thành phố trong cả nước năm 2014”. 
2. Mục tiêu nghiên cứu 
1. Mô tả mô hình quản lý hoạt động truyền thông ở các tỉnh/thành phố trong cả nước 
2. Mô tả thực trạng hoạt động truyền thông về SKTT ở các tỉnh/thành phố 
trong cả nước năm 2014. 
3. Phương pháp nghiên cứu: 
3.1. Đối tượng 
- Lãnh đạo và cán bộ phụ trách truyền thông về SKTT tuyến tỉnh, huyện, xã 
của 3 tỉnh (Thanh Hóa, Lào Cai, Hòa Bình). 
- Người dân tại 3 xã Quảng Phong (Quảng Xương, Thanh Hóa); xã Gia Phú 
(Bảo Thắng, Lào Cai); xã Vĩnh Tiến (Kim Bôi, Hòa Bình). 
- 58 đơn vị chăm sóc SKTT tuyến tỉnh/thành phố. 
3.2. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, kết hợp định tính và định lượng 
3.3. Địa điểm nghiên cứu: 3 tỉnh: Hòa Bình, Thanh Hóa, Lào Cai. 
3.4. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2014 
3.5. Xử lý số liệu: Nhập và phân tích số liệu định lượng bằng Excel. Ghi âm, gỡ 
băng ghi âm và phân tích theo chủ đề. 
4. Kết quả nghiên cứu 
4.1. Mô hình hoạt động truyền thông về SKTT 
4.1.1. Mô hình quản lý 
6,910,3
34,5
48,3
0
10
20
30
40
50
60
BV tâm thần tỉnh Khoa tâm thần - TT
PCBXH
Khoa tâm thần - BV
ĐK tỉnh
Khác
Biểu đồ 1: Mô hình chăm sóc SKTT 
 212 
Hiện đang tồn tại 3 mô hình chính về chăm sóc SKTT tại tuyến tỉnh. Trong 
đó mô hình BVTT tỉnh được chủ động nguồn kinh phí, có nhiều hoạt động 
chuyên môn và truyền thông về SKTT hơn 2 mô hình còn lại. 
4.1.2. Sự chỉ đạo của tuyến tỉnh với tuyến dưới 
Bảng 1: Đơn vị chịu sự chỉ đạo của tuyến tỉnh 
Đơn vị 
tuyến dưới 
Mức độ hoạt động Hiệu quả hoạt động 
Số lượng 
(n = 58) 
Tỷ lệ (%) 
Số lượng 
(n= 58) 
Tỷ lệ (%) 
Phòng y tế huyện 3 5,2 1 33,3 
Trung tâm y tế huyện 51 87,9 9 17,6 
Bệnh viện huyện 2 3,4 0 0,0 
Trạm y tế xã 58 100,0 38 67,2 
Nhân viên y tế thôn bản 21 36,2 10 47,6 
Các đơn vị chăm sóc SKTT tuyến tỉnh chỉ đạo, giám sát 100% các trạm y tế xã, 
và trạm y tế xã cũng được đánh giá là tuyến dưới hoạt động hiệu quả nhất (68,6%). 
Vai trò của tuyến huyện rất mờ nhạt và được cho là hoạt động không có hiệu quả. Điều 
này cũng được khẳng định khi phỏng vấn các cán bộ chăm sóc SKTT. 
“Chúng tôi thực hiện rất nhiều hoạt động truyền thông, từ tuyến tỉnh đến 
tận tuyến xã. Ví dụ như tham gia các tọa đàm, gửi bài phát thanh trên đài phát 
thanh truyền hình tỉnh, viết bài cho T4G rồi thì tổ chức tư vấn và truyền thông về 
SKTT tại các xã của dự án, tổ chức các lớp tập huấn về chuyên môn...” 
PVS lãnh đạo BVTT tỉnh 
 “Chủ yếu hoạt động tại khoa là khám, kê đơn và tư vấn tâm lý cho bệnh 
nhân và người nhà bệnh nhân, sau đó phát tờ rơi... Nói chung là thiếu kinh phí 
mua thuốc nên cũng chỉ lo kinh phí cho thuốc là chủ yếu chứ không để ý được 
hoạt động truyền thông...” 
PVS cán bộ chuyên trách tâm thần Trung tâm PCBXH tỉnh 
“Khoa chỉ có 3 bác sĩ thì 1 người đi học, làm chuyên môn còn không xuể nói 
gì đến truyền thông...” 
 PVS lãnh đạo khoa tâm thần BVĐK tỉnh 
 213 
“...Các hoạt động truyền thông và quản lý bệnh nhân cũng như cấp phát thuốc 
chủ yếu tại tuyến xã, tại huyện chỉ quản lý về số bệnh nhân và số cấp phát thuốc 
trên sổ sách”. 
PVS cán bộ tuyến huyện 
Công tác chỉ đạo tuyến mặc dù tốt ở tuyến tỉnh nhưng hạn chế ở tuyến 
trung ương. Theo kết quả điều tra, chỉ có 37,9% đơn vị nhận được chỉ đạo từ 
tuyến trung ương. 
4.1.3. Kinh phí dành cho truyền thông về SKTT 
70,6
33,3
27,5
7,8 3,9
0
10
20
30
40
50
60
70
80
BV TT TW Sở Y tế Ngân sách của
đơn vị
Tài trợ của các
tổ chức
Khác
Biểu đồ 2: Nguồn kinh phí hoạt động truyền thông về SKTT 
Nguồn kinh phí dành cho hoạt động truyền thông còn khiêm tốn, chủ yếu 
dựa vào trung ương, chưa huy động được các nguồn kinh phí khác, kể cả kinh 
phí của địa phương. 
 “Khi còn kinh phí của chương trình, chúng tôi có phối hợp với Trung tâm 
Truyền thông GDSK tỉnh làm phóng sự phát trên đài phát thanh tỉnh và chuyển về 
huyện, từ năm 2009 chúng tôi không thực hiện được nữa. Khi nào mở thêm xã 
mới thì mang theo ít tài liệu phô tô xuống phát cho các cán bộ chủ chốt thôi. 
Trung ương cấp cho gì dùng đấy, tỉnh không có ngân sách để sản xuất, nói chung 
là thiếu và không có gì...” 
PVS lãnh đạo khoa tâm thần BVĐK tỉnh 
 214 
4.1.4. Tập huấn truyền thông về SKTT 
53,4%
46,6% Có được tập huấn
Không được tập huấn
Biểu đồ 3: Tập huấn cho cán bộ truyền thông 
Năng lực về truyền thông của cán bộ còn hạn chế, gần 50% số cán bộ phụ 
trách công tác truyền thông chưa được tập huấn về kỹ năng truyền thông. 
Con số này cho thấy việc đào tạo, tập huấn cho cán bộ truyền thông về 
SKTT chưa được coi trọng. Một số cán bộ làm công tác truyền thông về SKTT 
cũng nói về điều này khi được phỏng vấn. 
“Thực sự là chúng tôi hoàn toàn làm theo những gì bản thân cảm nhận 
chứ chả có ai dạy dỗ, hướng dẫn gì. Mình nghĩ thế nào là làm thế đó” 
“Từ ngày tham gia hoạt động này, em chưa được tập huấn bao giờ” 
PVS cán bộ truyền thông SKTT tuyến tỉnh 
4.2. Thực trạng hoạt động truyền thông về SKTT 
4.2.1. Sự phối hợp với các đơn vị truyền thông 
82,8
6,9
10,3
56,9
10,3
32,8
0%
20%
40%
60%
80%
100%
Phối hợp nhiều nhất Phối hợp hiểu quả nhất
Đài truyền hình
Báo, đài phát thanh
T5G
Biểu đồ 4: Phối hợp hoạt động truyền thông 
 215 
Phối hợp hoạt động hiệu quả nhất trong công tác truyền thông chăm sóc 
SKTT vẫn là Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe tỉnh (82,4%). 
“Hàng tháng, chúng tôi đều viết bài đăng trên bản tin Giáo dục sức khỏe của 
Trung tâm Truyền thông GDSK tỉnh. Các anh bên ấy còn làm những phóng sự 
ngắn hoặc diễn đàn về SKTT mời các chuyên gia về SKTT tham gia. Nói chung là 
hai bên có mối quan hệ rất chặt chẽ và hiệu quả”. 
PVS cán bộ truyền thông SKTT tuyến tỉnh 
4.2.2. Sự. truyền thông về SKTT 
89,6%
10,4%
Đã nghe
Chưa nghe 
Biểu đồ 5: Người dân có thông tin về sức khỏe tâm thần 
Có tới 89,6% người dân đã nghe nói về bệnh tâm thần. Điều đó chứng tỏ 
hoạt động truyền thông về SKTT trong những năm qua đã thu hút được sự quan 
tâm của người dân. 
4.2.3. Nguồn thông tin trực tiếp mà người dân tiếp cận được 
89,1
21
3,6 6,5 0,7
39,1
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
Tư vấn khi đi khám
Cán bộ y tế đến nhà
Buổi nói chuyện SK
Tại cuộc họp thôn/xóm
Tại hội thi
Không nhớ
Biểu đồ 6: Hoàn cảnh tiếp cận với thông tin về SKTT của người dân 
 216 
Hoàn cảnh được tiếp cận với thông tin về bệnh tâm thần nhiều nhất là được 
tư vấn khi đi khám (89,1%). Nhiều người dân cũng khẳng định như vậy trong các 
cuộc thảo luận nhóm. 
“cháu nhà tôi bị đau đầu, lúc nhớ lúc quên, đi khám bệnh bác sĩ mới nói là bị 
bệnh tâm thần. Khổ thế chứ, tôi buồn lắm nhưng thấy bác sĩ nói cứ chăm sóc 
cháu tốt và cho uống thuốc đều thì bệnh sẽ đỡ. Tôi cứ tưởng bệnh tâm thần là hết 
cách rồi, may mà cháu đỡ nhiều thật, lại đi học bình thường.” 
“Chúng tôi chỉ được bác sĩ nói cho biết khi đi khám bệnh chứ chưa bao giờ tự 
nhiên lại đến hỏi bác sĩ. Nếu có ai đó về đây tập hợp mọi người lại để trao đổi 
như hôm nay các chị làm thì tốt quá.” 
Thảo luận nhóm người dân 
Điều này có nghĩa là những người dân hoặc người nhà của họ có vấn đề về 
SKTT mới tiếp cận được với những thông tin về SKTT khi họ đi khám hoặc đưa 
người nhà đi khám. 
4.2.4. Tài liệu truyền thông 
Tài liệu truyền thông còn thiếu, nghèo nàn về hình thức và nội dung, chưa 
đáp ứng được với nhu cầu của CBYT và người dân. 
“Ôi, tài liệu của cái chương trình này quá là khiêm tốn chứ những chương 
trình khác như lao, HIV thì người ta nhiều lắm. Đã thế mẫu mã, hình ảnh lại xấu 
và mờ nhạt” 
PVS lãnh đạo tỉnh 
“Khi đi gặp dân mà có mấy cái tài liệu như của bên sữa mẹ hay HIV nó vừa đẹp 
vừa dễ đọc ấy thì công việc nó cũng đỡ hơn, đây đã hiếm nhưng có cái nào thì màu 
sắc cứ thế nào ấy, bọn em toàn phải đánh máy lại rồi in ra cho dễ nhìn” 
PVS cán bộ trạm y tế xã 
Hình 1: Một số tài liệu truyền thông về SKTT 
 217 
Nhu cầu tài liệu của người dân là tờ rơi/tranh gấp, băng đĩa hình; nhu cầu 
của cán bộ y tế là tranh lật và sổ tay/sách nhỏ. 
“Mình nói bao nhiêu họ chỉ nhớ được chút ít nhưng nếu có tờ rơi, tranh lật hay 
băng đĩa hình cho họ xem thì vừa tiện cho mình, vừa giúp người ta dễ nhớ và nhớ 
lâu hơn” 
PVS Trưởng trạm y tế xã 
 “Có một cuốn sổ tay trong người vừa dễ mang theo vừa trang bị được kiến 
thức cần thiết, khi cần lại mở ra xem tiện lắm” 
PVS cán bộ trạm y tế xã 
 “Chúng tôi muốn có tài liệu lắm, không cần nhiều đâu chỉ cần mấy trang nho 
nhỏ có hình là chúng tôi thích, đọc để biết mà làm theo chứ cứ nghe lung tung 
biết đâu mà lần” 
Thảo luận nhóm người dân 
4.2.5. Mức độ kỳ thị về người bệnh tâm thần 
8,6
19,5
37,9
55,8
43,1
20,8
10,3
3,2
0
0,6
0
10
20
30
40
50
60
Không Rất ít Vừa phải nhiều rất nhiều
Đánh giá của CBYT
Đánh giá của người dân
 Biểu đồ 7: Đánh giá về mức độ kỳ thị của người dân về người bệnh tâm thần 
Theo đánh giá của người dân và cán bộ y tế, đa số các ý kiến cho rằng vẫn còn 
sự kỳ thị đối với người bệnh tâm thần trong cộng đồng ở mức độ rất ít và vừa phải. 
5. Bàn luận 
5.1. Mô hình truyền thông về SKTT 
Ba mô hình chăm sóc SKTT chủ yếu là bệnh viện tâm thần tỉnh, khoa tâm 
thần thuộc trung tâm phòng chống bệnh xã hội (PCBXH) và khoa tâm thần thuộc 
bệnh viện đa khoa (BVĐK) tỉnh phù hợp với mô hình mạng lưới chăm sóc SKTT. 
Bệnh viện tâm thần tỉnh là mô hình có hoạt động truyền thông về SKTT mạnh mẽ 
 218 
nhất vì được chủ động về hoạt động chuyên môn và hoạt động truyền thông trong khi 
khoa tâm thần là đơn vị nhỏ hơn, chịu sự quản lý của BVĐK và trung tâm PCBXH. 
Các đơn vị chăm sóc SKTT tuyến tỉnh chỉ đạo, giám sát 100% các trạm y tế xã, 
và trạm y tế xã cũng được đánh giá là tuyến dưới hoạt động hiệu quả nhất (68,6%). 
Vai trò của tuyến huyện rất mờ nhạt và được cho là hoạt động không có hiệu quả. 
Có 37,9% đơn vị chịu sự quản lý chỉ đạo của tuyến Trung ương. Điều này 
cho thấy BV Tâm thần Trung ương 1, 2 cần phải có sự bao quát và chỉ đạo, giám 
sát tích cực hơn. 
Chủ yếu kinh phí hoạt động được điều chuyển từ trung ương theo chương 
trình mục tiêu quốc gia (70,6%), chỉ 7,8% huy động được từ các tổ chức khác. Vì 
vậy, rất khó khăn cho tuyến tỉnh hoạt động chăm sóc SKTT nói chung và thực 
hiện hoạt động truyền thông về SKTT nói riêng. 
Có đến gần một nửa các đơn vị báo cáo rằng các cán bộ làm công tác truyền 
thông về SKTT không được tập huấn về kỹ năng truyền thông trong 5 năm trở lại 
đây. Con số này cho thấy việc đào tạo, tập huấn cho cán bộ truyền thông về 
SKTT chưa được coi trọng. 
5.2. Thực trạng hoạt động truyền thông về SKTT 
Đơn vị phối hợp truyền thông về SKTT nhiều nhất và hiệu quả nhất là Trung 
tâm Truyền thông GDSK tỉnh (T4G). Như vậy, T4G được coi là đối tác quan trọng 
trong lĩnh vực truyền thông về SKTT. Điều này hợp lý vì T4G là đơn vị trực 
thuộc sở y tế của tất cả các tỉnh và là đơn vị chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt 
động truyền thông GDSK tại tỉnh, việc phối hợp với các đơn vị cùng trong ngành 
y tế sẽ thuận lợi hơn. Đài truyền hình tỉnh là đơn vị thứ hai được đánh giá là phối 
hợp hiệu quả vì sự lan tỏa rộng rãi và sức hấp dẫn của truyền thông do có sự liên 
kết giữa tiếng và hình. Tuy nhiên, truyền thông qua truyền hình cần có đầu tư về 
kỹ thuật, thời gian và kinh phí cao hơn so với một số kênh khác nên không dễ 
dàng cho các đơn vị chăm sóc SKTT tuyến tỉnh khi lựa chọn đơn vị này. Cần có 
sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các đơn vị chăm sóc SKTT tuyến tỉnh và các đơn 
vị liên quan để đạt hiệu quả cao hơn trong công tác truyền thông. 
Hoạt động tư vấn được thực hiện nhiều nhất và hiệu quả nhất đồng thời 
được người dân đánh giá cao vì mang tính riêng tư và truyền tải nhiều thông tin. 
Điều này cũng được khẳng định bởi ý kiến của cán bộ y tế và người dân. Tuy 
nhiên, tư vấn là hoạt động đòi hỏi cán bộ phải có năng lực và trình độ chuyên 
môn cao và chỉ có thể đến được với số ít người. Vì thế hoạt động này ít được thực 
 219 
hiện do thiếu nhân lực và nguồn lực. Cần tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng truyền 
thông về SKTT cho cán bộ y tế và cộng tác viên để trang bị những kiến thức cần 
thiết về truyền thông đồng thời thống nhất nội dung, cách thức truyền thông về 
SKTT trong cả nước đặc biệt là những vùng thuộc dự án. 
Người dân hoặc người nhà của họ có vấn đề về SKTT tiếp cận được với 
những thông tin về SKTT khi họ đi khám hoặc đưa người nhà đi khám. Những 
người dân khác trong cộng đồng được tiếp cận với truyền thông về SKTT thông 
qua các đợt chiến dịch. 
Tài liệu truyền thông là kênh hoạt động nhiều nhất. Đây là cách để phổ 
biến rộng rãi những thông tin cần truyền thông về SKTT đến với cộng đồng. Các 
đơn vị tuyến tỉnh cho biết họ được cấp tài liệu truyền thông về SKTT từ tuyến 
trung ương và đều sử dụng những tài liệu này khi thực hiện truyền thông ở cơ sở. 
Về số lượng tài liệu truyền thông về SKTT, các ý kiến đều cho rằng còn 
thiếu so với những chương trình khác. Về chất lượng, những người được phỏng 
vấn đều nhận định rằng mẫu mã thiết kế chưa được ưng ý. Tài liệu truyền thông 
về SKTT cũng mang lại nhiều lợi ích cho cán bộ truyền thông, là cơ sở để họ 
hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Sự cần thiết của tài liệu truyền thông đã được 
các cán bộ y tế và cộng tác viên xác nhận. 
Hầu hết người dân đều trả lời họ đã nghe nói đến bệnh tâm thần từ nhiều 
nguồn khác nhau, chủ yếu nhất là nghe từ cán bộ y tế, sau đó là nghe qua các 
phương tiện thông tin đại chúng. Khi được hỏi về sự tin tưởng dành cho nguồn 
thông tin nào nhất, đa số trả lời là cán bộ y tế và cộng tác viên thôn/bản. Đa số 
người dân đều hào hứng khi nhắc đến tài liệu truyền thông về SKTT, họ rất muốn 
có các thông tin về bệnh tâm thần dưới dạng tờ rơi, sách nhỏ, băng đĩa hình. 
Các hoạt động truyền thông về SKTT đã phần nào đạt được hiệu quả trong 
việc giảm kỳ thị của người dân trong cộng đồng đối với những người bệnh tâm 
thần và gia đình họ. Tuy nhiên, vẫn còn sự kỳ thị đối với người bệnh tâm thần, do 
đó cần đẩy mạnh hoạt động truyền thông về SKTT hơn nữa để xóa bỏ kỳ thị đối 
với người bệnh tâm thần trong cộng đồng. 
6. Kiến nghị 
6.1. Đối với đơn vị chăm sóc SKTT tuyến Trung ương (Bệnh viện Tâm thần 
Trung ương 1, 2): 
Tăng cường sự chỉ đạo tuyến để hỗ trợ tuyến dưới. 
 220 
Tổ chức các lớp tập huấn đối với các đơn vị CSSKTT tỉnh và huyện đặc 
biệt là tuyến xã về kỹ năng truyền thông CSSKTT. 
Xây dựng tài liệu truyền thông mẫu phù hợp, đa dạng cho từng nhóm đối 
tượng (tờ rơi, áp phích, băng đĩa hình) và cho cán bộ y tế (sách nhỏ/ sổ tay và 
tranh lật/ tranh tư vấn). 
Huy động kinh phí cho hoạt động chăm sóc SKTT nói chung, truyền thông 
về SKTT nói riêng. 
6.2. Đối với các đơn vị chăm sóc SKTT tuyến tỉnh: 
Chỉ đạo và giám sát tuyến huyện tham gia tích cực các hoạt động chuyên 
môn lồng ghép với truyền thông, giao quyền cho tuyến huyện. Tạo điều kiện để 
cán bộ chuyên trách về SKTT được tập huấn/ đào tạo hoặc đào tạo lại về nội dung 
và kỹ năng truyền thông. Lập kế hoạch tổ chức các hoạt động truyền thông về 
SKTT theo nhu cầu thực tế tại địa phương. Tăng cường hoạt động truyền thông 
về SKTT, đặc biệt là truyền thông trực tiếp của cán bộ y tế. Xây dựng đề án về 
truyền thông chăm sóc sức khỏe tâm thần và trỉnh cấp có thẩm quyền phê duyệt 
để chủ động nguồn kinh phí từ địa phương kêu gọi tài trợ. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Chương trình mục tiêu Quốc gia y tế (2013), “Dự án phòng chống một số 
bệnh có tính chất nguy hiểm đối với cộng đồng - Bảo vệ sức khoẻ Tâm thần 
cộng đồng và trẻ em”. 
2. Quỹ Cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam (2011), “Đánh giá công tác truyền thông 
về chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Khánh Hòa và Đà Nẵng 2009 - 2011”. 
3. Thủ tướng Chính phủ (2001), Dự án “Bảo vệ sức khỏe Tâm thần tại 
cộng đồng”. 
4. Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe Trung ương (2012), “Đánh giá 
thực trạng hoạt động của hệ thống truyền thông giáo dục sức khỏe trong công 
tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt 
động, 2009-2010”, đề tài nghiên cứu cấp Bộ. 
5. UNICEF (2011), “Đánh giá các mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần phát 
triển bởi các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam”. 
6. Viện chiến lược và chính sách - Bộ Y tế (2011), “Báo cáo đánh giá dự án bảo 
vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng giai đoạn 2006 -2010”. 

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_hoat_dong_truyen_thong_ve_suc_khoe_tam_than_tai_c.pdf