Thực trạng hoạt động thể lực ở học sinh Trung học Phổ thông tại Hà Nội năm 2017

Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), hoạt động

thể lực định nghĩa là bất kỳ sự chuyển động của cơ thể

được thực hiện bởi hệ cơ xương, có tiêu hao năng lượng.

Hoạt động thể lực có thể coi là một biện pháp hữu hiệu

để nâng cao sức khỏe và phòng chống bệnh tật đối với

cá nhân và cộng đồng. Thêm vào đó, hoạt động thể lực

còn là một mặt giáo dục quan trọng, không thể thiếu

trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) ở nước

ta. Tuy nhiên, hiện nay chúng tôi chưa tìm thấy đề tài

trong nước thực hiện về chủ đề này, trên nhóm học sinh

trung học phổ thông (THPT). Vì vậy, nghiên cứu là cơ

sở khoa học giúp lãnh đạo các nhà trường có thể đẩy

mạnh phong trào tập luyện thể dục thể thao cho học sinh

hiệu quả hơn. Nghiên cứu áp dụng thiết kế cắt ngang

mô tả, với phương pháp định lượng.

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng hoạt động thể lực ở học sinh Trung học Phổ thông tại Hà Nội năm 2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thực trạng hoạt động thể lực ở học sinh Trung học Phổ thông tại Hà Nội năm 2017

Thực trạng hoạt động thể lực ở học sinh Trung học Phổ thông tại Hà Nội năm 2017
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn76
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018
TÓM TẮT:
Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), hoạt động 
thể lực định nghĩa là bất kỳ sự chuyển động của cơ thể 
được thực hiện bởi hệ cơ xương, có tiêu hao năng lượng. 
Hoạt động thể lực có thể coi là một biện pháp hữu hiệu 
để nâng cao sức khỏe và phòng chống bệnh tật đối với 
cá nhân và cộng đồng. Thêm vào đó, hoạt động thể lực 
còn là một mặt giáo dục quan trọng, không thể thiếu 
trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) ở nước 
ta. Tuy nhiên, hiện nay chúng tôi chưa tìm thấy đề tài 
trong nước thực hiện về chủ đề này, trên nhóm học sinh 
trung học phổ thông (THPT). Vì vậy, nghiên cứu là cơ 
sở khoa học giúp lãnh đạo các nhà trường có thể đẩy 
mạnh phong trào tập luyện thể dục thể thao cho học sinh 
hiệu quả hơn. Nghiên cứu áp dụng thiết kế cắt ngang 
mô tả, với phương pháp định lượng. Thực hiện trên 
425 học sinh ở 3 trường THPT trên địa bàn Hà Nội, từ 
tháng 03-12/2017. Kết quả cho thấy: thời lượng và trị số 
chuyển hóa năng lượng tương đương của các hoạt động 
hàng ngày chưa phân bố phù hợp. Cao nhất là hoạt động 
học tập/làm việc: 6,55 ± 2,12 giờ/ngày và 15,42 ± 5,84 
MET-giờ/ngày. Trong khi hoạt động thể thao đạt giá trị 
thấp nhất là 0,03 giờ/ngày và 0,19 MET-giờ/ngày. Trung 
bình tổng trị số chuyển hóa năng lượng tương đương 
trong ngày của học sinh là 44,06 ± 6,52 MET-24 giờ/
ngày (95% KTC: 3,42-44,71 MET-24 giờ/ngày). Tỷ lệ 
học sinh đạt hoạt động thể lực tĩnh tại, cường độ nhẹ và 
cường độ vừa phải lần lượt là: 8,1%; 91,1% và 0,8%. 
Trong đó: chỉ có 0,8% số học sinh đạt mức độ hoạt động 
thể lực theo khuyến nghị của TCYTTG. Kết luận: gia 
đình và nhà trường cần tạo điều kiện, giúp học sinh nâng 
cao hoạt động thể lực của bản thân, để đạt lợi ích về sức 
khỏe và thành tích tốt trong học tập. 
Từ khóa: Hoạt động thể lực, trung học phổ thông, 
đơn vị chuyển hóa tương đương.
ABSTRACT:
PHYSICAL ACTIVITY STATUS AMONG HIGH 
SCHOOL STUDENTS IN HANOI, 2017 
According to the WHO, physical activity (PA) 
is defined as any movement of the body made by 
musculature, which consumes energy. PA can be 
considered as an effective means of promoting health and 
preventing illness for individuals and society. In addition, 
PA is an important and indispensable aspect of ministry of 
education and training in our country. However, there are 
currently no domestic research on this subject, in the group 
of high school students. So, research is the scientific basis 
to help leaders of schools can promote the movement of 
physical exercise sports for students, effectively. Research 
applied cross-sectional study, with the quantitative 
method. Implemented over 425 students in 3 high schools 
in Hanoi, from 03-12/2017. The results: the duration and 
energy metabolite equivalents of daily activities are not 
well distributed. The highest was study/work: 6.55 ± 2.12 
hours/day and 15.42 ± 5.84 MET-hours/day. While sports 
activity was lowest at 0.03 hours/day and 0.19 MET-
hours/day. Average total number of equivalent energy 
metabolism in days of students was 44.06 ± 6.52 MET-24 
hours/day (95% CI: 3.42-44.71). Percentage of students 
in the inactive, the light and moderate intensity PA in turn 
is: 8.1%, 91.1%, 0.8%. Just have 0.8% students get level 
of PA due to recomendation of WHO. Conclusion: the 
family and the school should create conditions, students 
improve their PA themselves, to gain the benefits of health 
and academic performance.
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THỂ LỰC Ở HỌC SINH TRUNG 
HỌC PHỔ THÔNG TẠI HÀ NỘI NĂM 2017
Nguyễn Mạnh Tiến1, Đặng Vũ Phương Linh1, Đặng Minh Điềm2, Trịnh Xuân Thắng3,
Nguyễn Công Minh1, Trần Thị Anh1, Dương Hải Yến1, Nguyễn Thành Hưng1
Ngày nhận bài: 01/02/2018 Ngày phản biện: 08/02/2018 Ngày duyệt đăng: 20/02/2018
1. Trường Đại học Y tế Công cộng
Tác giả Nguyễn Mạnh Tiến 0984756290, [email protected]
2. Trường Đại học Y khoa Tokyo Việt Nam
3. Viện Nghiên cứu Karolinska, Thụy Điển
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 77
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Key words: Physical activity, high school, metabolic 
equivalent of task.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hoạt động thể lực là một mặt giáo dục quan trọng không 
thể thiếu trong sự nghiệp GD&ĐT, góp phần thực hiện mục 
tiêu “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân 
tài” cho đất nước [1]. Trong những năm qua, đất nước ta đã 
có những bước phát triển vượt bậc trong tất cả các lĩnh vực, 
đặc biệt là lĩnh vực thể dục thể thao và công tác thể chất 
cho học sinh tại các nhà trường. Tuy nhiên hiện nay, hoạt 
động thể lực của học sinh tại các trường THPT còn nhiều 
yếu kém nhất định. Công tác giảng dạy thể dục thể thao vẫn 
còn nặng tính hình thức, hạn chế năng lực thể chất của học 
sinh. Chương trình môn học thể dục nội-ngoại khóa chưa 
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, nên chưa 
nâng cao được sức khỏe toàn diện... [2]. Mặt khác, qua báo 
cáo SAVY II vào năm 2015, chỉ có 23,8% thanh thiếu niên 
độ tuổi 16-19 thường xuyên tập thể dục thể thao. Và có đến 
47,6% tự đánh giá sức khỏe mình ở mức trung bình, chiếm 
tỷ lệ cao nhất trong tự đánh giá tình trạng sức khỏe của lứa 
tuổi này [3]. Qua tìm hiểu, chúng tôi chưa thấy có nghiên 
cứu trong nước thực hiện về chủ đề này. Nghiên cứu sẽ là 
cơ sở khoa học giúp lãnh đạo nhà trường có thể đẩy mạnh 
phong trào tập luyện thể dục thể thao cho học sinh một cách 
có hiệu quả. Do vậy, nghiên cứu thực hiện nhằm đạt mục 
tiêu là mô tả thực trạng hoạt động thể lực ở học sinh THPT 
tại Hà Nội năm 2017.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô 
tả, sử dụng phương pháp định lượng.
2.2. Đối tượng nghiên cứu: Gồm học sinh lớp 10, 
lớp 11 và lớp 12 được lựa chọn ngẫu nhiên tại 3 trường 
THPT tại Hà Nội. Cụ thể là: THPT Vân Nội, THPT Ngô 
Gia Tự và THPT Hồng Thái. Nghiên cứu thực hiện từ 
tháng 03-12/2017.
•	 Tiêu chuẩn lựa chọn: Không giới hạn độ tuổi, 
học sinh tự nguyện đồng ý tham gia và có đủ năng lực 
hành vi trả lời bộ câu hỏi.
•	 Tiêu chuẩn loại trừ: Học sinh vắng mặt tại thời 
điểm nghiên cứu, mắc khiếm khuyết trên cơ thể-gây hạn 
chế hoạt động thể lực bình thường, phụ huynh/người bảo 
trợ không đồng ý cho học sinh tham gia.
2.3. Cỡ mẫu
Được tính theo công thức cắt ngang một tỷ lệ:
n = 
Trong đó: 
n: Cỡ mẫu tối thiểu nghiên cứu.
p: Tỷ lệ ước lượng hoạt động thể lực của học sinh 
không đạt mức khuyến nghị TCYTTG (chọn p = 0,5 vì 
chưa có nghiên cứu ở Việt Nam thực hiện chủ đề này). 
d: Độ chính xác tuyệt đối mong muốn, chọn d = 5%.
Z1 - α/2: Hệ số giới hạn tin cậy; Z1 - α/2 = 1,96 ở độ tin 
cậy 95% khi α=0,05.
Thay số ta có: n = 384 đối tượng. Nhằm giảm sai số 
nên chúng tôi tăng cỡ mẫu thêm 11%, vì vậy có tổng 425 
học sinh THPT tham gia nghiên cứu.
2.4. Phương pháp chọn mẫu
Lập danh sách các trường THPT tại Hà Nội, được 
thống kê trên website của Sở GD&ĐT thành phố Hà 
Nội [10]. Theo đó, có 295 trường hiện đang hoạt động, 
tính đến 10/08/2017. Tiến hành chọn ngẫu nhiên 3 
trường THPT trong danh sách đã lập ở trên, bằng hàm 
random trong Excel. Đối với mỗi trường, chúng tôi 
lập danh sách số lớp học theo 3 khối (khối 10-12). 
Thực hiện chọn ngẫu nhiên toàn bộ học sinh của 1 lớp 
trong 1 khối, như danh sách bằng hàm random trong 
Excel. Như vậy, có tổng số 9 lớp đại diện cho 3 trường 
THPT tại Hà Nội, tham gia nghiên cứu.
2.5. Bộ công cụ nghiên cứu
Để mô tả hoạt động thể lực, chúng tôi tiến hành phát 
vấn bộ câu hỏi Active-Q Physical Activity Questionaire 
cho các học sinh thỏa mãn tiêu chí nghiên cứu. Bộ câu 
hỏi được thiết kế bởi Viện Nghiên cứu Karolinska, Thuỵ 
Điển vào 02/10/2014 [11] và được dịch sang tiếng Việt, 
thử nghiệm chỉnh sửa phù hợp với văn hóa Việt Nam. Bao 
gồm các câu hỏi về tần suất và thời gian hoạt động thể lực, 
trên 5 lĩnh vực là: học tập và /hoặc làm việc; phương tiện 
di chuyển; giải trí; chơi thể thao và ngủ. 
2.6. Xử lý số liệu
Số liệu được nhập bằng phần mềm EPIdata 3.1 và 
phân tích bởi phần mềm SPSS 22.0.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
z2-1 2α
 x p(1-p)
d2
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn78
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018
Bảng 1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Giới tính
Nam giới 171 40,2
Nữ giới 254 59,8
Tuổi
15 tuổi 112 26,3
16 tuổi 158 37,2
17 tuổi 155 36,5
Khối lớp
Lớp 10 142 33,4
Lớp 11 143 33,6
Lớp 12 140 33,0
Trường THPT
Vân Nội 150 35,3
Ngô Gia Tự 140 32,9
Hồng Thái 135 31,8
Loại hình đào tạo
Công lập 285 67,1
Dân lập 140 32,9
Khu vực trường học
Nông thôn 285 67,1
Thành thị 140 32,9
Tổng 425 100
Nghiên cứu tiến hành trên tổng số 425 học sinh 
THPT, trong đó: có 254 nữ giới (59,8%) và 171 nam giới 
(40,2%). Tỷ lệ học sinh nữ: nam là 1,5. Học sinh có độ 
tuổi từ 15 đến 17, với số lượng lần lượt là: 112, 158 và 155 
học sinh. Chiếm tỷ lệ tương ứng: 26,3%, 37,2% và 36,5%. 
Ở cả 3 khối (lớp 10-lớp 12) thì có số lượng học sinh tham 
gia xấp xỉ bằng nhau. Nghiên cứu lựa chọn ngẫu nhiên 3 
trường THPT, trong đó: số học sinh tại THPT Vân Nội 
tham gia cao nhất là 150 học sinh (35,3%) và tham gia 
thấp nhất là 135 học sinh của THPT Hồng Thái (31,8%). 
Kết quả còn cho thấy: số học sinh theo học hình thức công 
lập cao gấp 2 lần so với học sinh dân lập. Khi loại hình 
công lập có 285 học sinh (67,1%) và 140 học sinh dân lập 
(32,9%). Theo khu vực trường học thì có 285 học sinh học 
tại các trường ở nông thôn (67,1%), cao hơn 34,2% so với 
học sinh tại trường ở thành thị. 
Số lượng đối tượng tham gia nghiên cứu, có kết 
quả tương đồng với tác giả Shashank Negi và cộng sự 
[4] và khác biệt với kết quả điều tra của Wi-Young So, 
Braithwaite IE và cộng sự, I. O. Senbanjo và cộng sự 
[5-7]. Các nghiên cứu này có số lượng học sinh tham 
gia lớn, hầu hết là điều tra quốc gia hoặc quốc tế về 
sức khỏe thanh thiếu niên. Trong các kết quả có báo 
cáo về giới tính, thì tác giả Wi-Young So; Shashank 
Negi và cộng sự [4-5] đều cho thấy không có sự tương 
đồng về tỷ lệ giới tính so với nghiên cứu này. Có thể 
lý giải là do việc lựa chọn ngẫu nhiên đối tượng học 
sinh tham gia.
Ở hầu hết nghiên cứu trên thế giới, đều được thực 
hiện trên lứa tuổi thanh thiếu niên và vị thành niên (từ 12-
18 tuổi) [4-5]. Sự khác biệt này là do mỗi đề tài có những 
mục tiêu và nguồn lực nghiên cứu khác nhau. Chúng tôi 
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 79
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bảng 2. Thời lượng hoạt động thể lực của từng hoạt động trong ngày (đơn vị: giờ/ngày)
Hoạt động thể lực
Phân bố chuẩn
Tần số (n) Trung bình Độ lệch chuẩn
Học tập/làm việc 425 6,55 ± 2,12
Ngủ 424 7,26 ± 1,68
Hoạt động thể lực
Phân bố không chuẩn
Tần số (n) Trung vị Khoảng
Phương tiện di chuyển 422 0,53 4,48
Giải trí 404 4,16 55,00
Chơi thể thao 412 0,03 9,97
Bảng 3. Trị số chuyển hóa năng lượng tương đương của từng hoạt động trong ngày (đơn vị: MET-giờ/ngày)
Hoạt động thể lực
Phân bố chuẩn
Tần số (n) Trung bình Độ lệch chuẩn
Học tập/làm việc 425 15,42 ± 5,84
Ngủ 424 7,26 ± 1,68
Hoạt động thể lực
Phân bố không chuẩn
Tần số (n) Trung vị Khoảng
Phương tiện di chuyển 422 1,49 16,89
Giải trí 403 6,83 136,04
Chơi thể thao 412 0,19 56,13
chỉ thực hiện trên lứa tuổi vị thành niên 15-17 tuổi, tương 
ứng với học sinh từ lớp 10-lớp 12. 
So sánh với nghiên cứu Shashank Negi và cộng 
sự [4] thì có sự khác biệt về tỷ lệ học sinh tham gia ở 
trường công và dân lập. Cụ thể: trong 400 học sinh thì có 
170 học sinh dân lập (42,5%) và 180 học sinh công lập 
(45%). Có thể lý giải là do việc lựa chọn ngẫu nhiên học 
sinh tham gia.
Học sinh được hỏi về thời lượng hoạt động thể lực 
của từng hoạt động trong ngày và kết quả cho thấy: thời 
gian học tập trung bình một ngày là 6,55 (± 2,12) giờ; thời 
lượng ngủ trưa và ngủ đêm trung bình là 7,26 (±1,68) giờ/
ngày. Trung vị về thời gian di chuyển bằng phương tiện 
của bản thân là 0,53 giờ/ngày (khoảng: 4,48 giờ/ngày). 
Thời gian mỗi ngày dành cho hoạt động giải trí có trung 
vị là 4,16 giờ (khoảng: 55 giờ). Trong những hoạt động 
hàng ngày, thì thời lượng của học sinh khi chơi thể thao là 
thấp nhất: với trung vị chỉ có 0,03 giờ (khoảng: 9,97 giờ).
Qua kết quả trên, ta thấy rằng học sinh THPT dành 
phần lớn thời gian trong ngày vào việc học tập/đi làm 
thêm. Khi thời gian cho hoạt động thể thao còn thấp. Điều 
đó có thể giải thích, bậc học THPT là giai đoạn mà học 
sinh dành nhiều thời gian cho việc học tập, để kỳ vọng có 
thành tích tốt trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông 
quốc gia. Mặt khác, chương trình học ở giai đoạn này khá 
nặng và chiếm nhiều thời gian so với hai bậc tiểu học và 
trung học cơ sở, nên đây cũng là một nguyên nhân của 
thực trạng này. 
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn80
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018
Trung bình trị số chuyển hóa năng lượng tương 
đương của hoạt động học tập/làm việc là 15,42 (± 5,84) 
MET-giờ/ngày; hoạt động ngủ là 7,26 (± 1,68) MET-giờ/
ngày. Kết quả phân tích cũng cho thấy: 422 học sinh có 
trung vị về trị số chuyển hóa năng lượng tương đương, 
của hoạt động di chuyển bằng phương tiện là 1,49 
(khoảng: 16,89) MET-giờ/ngày. Năng lượng sử dụng cho 
hoạt động giải trí là 6,83 MET-giờ/ngày và đạt giá trị 
thấp nhất là hoạt động chơi thể thao, chỉ là 0,19 (khoảng: 
56,13) MET-giờ/ngày.
Tương tự với kết quả ở thời lượng hoạt động thể lực, 
học sinh có trị số chuyển hóa năng lượng tương đương 
phần lớn dành cho học tập/đi làm thêm. Trong khi hoạt 
động thể thao có giá trị thấp nhất. Bởi vì, trị số chuyển hóa 
năng lượng tương đương sẽ bằng thời lượng nhân với giá 
trị MET tương ứng của từng hoạt động.
Mức độ hoạt động thể lực của học sinh được đánh 
giá bởi 2 phương pháp là: xếp loại nhóm MET và 
khuyến nghị của TCYTTG. Theo xếp loại nhóm MET 
thì trong 394 đối tượng: có 32 học sinh hoạt động thể 
lực tĩnh tại (8,1%), 359 học sinh đạt hoạt động thể lực 
cường độ nhẹ (91,1%), hoạt động thể lực cường độ vừa 
phải có 3 học sinh (0,8%) và không học sinh nào đạt 
hoạt động thể lực cường độ mạnh. Còn theo khuyến 
nghị TCYTTG thì: 3 học sinh có hoạt động thể lực đạt 
(0,8%) và 391 học sinh khác chưa đạt hoạt động thể lực 
ở mức tối thiểu (99,2%). Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ 
ra rằng: trung bình tổng trị số chuyển hóa năng lượng 
tương đương trong ngày của học sinh đạt 44,06 (± 6,52) 
MET-24 giờ/ngày. Và ước tính, học sinh THPT tại Hà 
Nội có tổng hoạt động thể lực dao động từ 43,42-44,71 
MET-24 giờ/ngày.
Tỷ lệ học sinh không đạt mức hoạt động thể lực theo 
khuyến nghị là 99,2%, cao hơn so với tỷ lệ trung bình ở 
đối tượng thanh thiếu niên (11-17 tuổi) trên toàn cầu là 
81%. Con số này cũng cao hơn ở tỷ lệ thanh thiếu niên ở 
khu vực Đông Nam Á, là 74% [8]. Từ đó, có thể thấy thực 
trạng hoạt động thể lực của học sinh THPT là rất đáng báo 
động, khi so sánh với một số chỉ số trên thế giới thì đều có 
tỷ lệ cao hơn. Tuy nhiên, các kết quả trên được đánh giá 
theo tính chất tham khảo, bởi vì đối tượng trong nghiên 
cứu (15-17 tuổi) có thể sẽ đạt tỷ lệ cao hơn khi so sánh 
với toàn bộ lứa tuổi thanh thiếu niên (11-17 tuổi). Trên 
thực tế, cũng đã có một vài nghiên cứu trên thế giới đưa ra 
kết quả tương đồng, khi chỉ ra tỷ lệ không đạt hoạt động 
thể lực theo khuyến nghị ở nhóm thanh thiếu niên lên tới 
90,6% [9]. 
IV. KẾT LUẬN
Thời lượng và trị số chuyển hóa năng lượng tương 
đương của các hoạt động hàng ngày chưa được phân bố 
phù hợp. Cao nhất là hoạt động học tập/đi làm thêm (6,55 
± 2,12 giờ/ngày và 15,42 ± 5,84 MET-giờ/ngày) và thấp 
nhất là hoạt động chơi thể thao (0,03 giờ/ngày và 0,19 
MET-giờ/ngày). Trung bình tổng trị số chuyển hóa năng 
lượng tương đương trong ngày của học sinh là 44,06 ± 
6,52 (95% KTC: 43,42-44,71) MET-24 giờ/ngày. 
Có 8,1% học sinh đạt hoạt động thể lực tĩnh tại, 
91,1% hoạt động cường độ nhẹ, 0,8% hoạt động cường độ 
vừa phải và không có học sinh hoạt động cường độ mạnh. 
Bảng 4. Mức độ hoạt động thể lực của đối tượng nghiên cứu
Mức độ hoạt động thể lực Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Xếp loại nhóm MET
Tĩnh tại (MET < 1,5) 32 8,1
Nhẹ (1,5 ≤ MET < 3,0) 359 91,1
Vừa phải (3,0 ≤ MET < 6,0) 3 0,8
Mạnh (MET ≥ 6,0) 0 0
Khuyến nghị TCYTTG
Đạt (≥ 3,0 MET-1 giờ/ngày) 3 0,8
Chưa đạt (< 3,0 MET-1 giờ/ngày) 391 99,2
Tổng 394 100
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 81
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Còn theo mức khuyến nghị TCYTTG thì có tới 99,2% học 
sinh chưa đạt hoạt động thể lực ở mức tối thiểu.
V. KHUYẾN NGHỊ
Học sinh nên tăng cường hoạt động thể lực với cường 
độ vừa phải/mạnh, tối thiểu 60 phút mỗi ngày, để đem lợi 
ích về sức khỏe.
 Gia đình và nhà trường cần phối hợp, tạo điều kiện 
giúp học sinh cân bằng giữa thời lượng học tập, thời gian 
nghỉ ngơi và hoạt động thể dục thể thao hàng ngày. 
1. Chỉ thị số 36/CT-TƯ ngày 24 tháng 03 năm 1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác thể dục thể thao 
trong giai đoạn mới.
2. Đồng Hương Lan. Nghiên cứu phát triển thể chất của học sinh trung học phổ thông chuyên các tỉnh Bắc miền 
Trung [Luận án Tiến sĩ Khoa học giáo dục]. Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh; 2016.
3. Bộ Nội vụ, Quỹ Dân số Liên Hiệp quốc tại Việt Nam (UNFPA). Báo cáo Quốc gia về Thanh niên Việt Nam. Hà 
Nội: 2015. p. 46-52. 
4. Shashank Negi, BM John, Seema Patrikar. A study of the relationship of physical activity with scholastic 
performance and body mass index in children 12-18 years of age. Sri Lanka Journal of Child Health 2016;45(1):18-23.
5. Wi-Young So. Association between of physical activity and academic performance in Korean adolescent 
students. BMC Public Health 2012;12:256.
6. Braithwaite IE, Stewart AW, Hancox RJ, Murphy R, Wall CR, Beasley R et al. Body mass index and 
vigorous physical activity in children and adolescents: an international cross-sectional study. Acta paediatrica 2017 
Aug;106(8):1323-30.
7. I.O. Senbanjo, K.A. Oshikoya. Physical activity and body mass index of school children and adolescents in 
Abeokuta, Southwest Nigeria. World Journal of Pediatrics 2010 Aug;6(3):217-22. 
8. WHO. Prevalence of insufficient physical activity. [Online]. Available from: URL:
risk_factors/physical_activity_text/en/. 
9. de Moraes AC, Guerra PH, Menezes PR. The worldwide prevalence of insufficient physical activity in 
adolescents; a systematic review. Nutrición Hospitalaria 2013 May-Jun; 28(3):575-84.
10. Sở GD&ĐT thành phố Hà Nội. Danh sách các trường trung học phổ thông Hà Nội. [Online]. 2017 [cited 2017 
Aug 10]. Available from: URL: 
11. Department of Medical Epidemiology and Biostatistics (Karolinska Institutet). The Active-Q Physical Activity 
Questionaires. [Online]. 2014 [cited 2014 Oct 02]. Available from: URL:
activity-questionnaires.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_hoat_dong_the_luc_o_hoc_sinh_trung_hoc_pho_thong.pdf