Thực trạng hoạt động thể lực ở học sinh Trung học Phổ thông tại Hà Nội năm 2017
Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), hoạt động
thể lực định nghĩa là bất kỳ sự chuyển động của cơ thể
được thực hiện bởi hệ cơ xương, có tiêu hao năng lượng.
Hoạt động thể lực có thể coi là một biện pháp hữu hiệu
để nâng cao sức khỏe và phòng chống bệnh tật đối với
cá nhân và cộng đồng. Thêm vào đó, hoạt động thể lực
còn là một mặt giáo dục quan trọng, không thể thiếu
trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) ở nước
ta. Tuy nhiên, hiện nay chúng tôi chưa tìm thấy đề tài
trong nước thực hiện về chủ đề này, trên nhóm học sinh
trung học phổ thông (THPT). Vì vậy, nghiên cứu là cơ
sở khoa học giúp lãnh đạo các nhà trường có thể đẩy
mạnh phong trào tập luyện thể dục thể thao cho học sinh
hiệu quả hơn. Nghiên cứu áp dụng thiết kế cắt ngang
mô tả, với phương pháp định lượng.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Thực trạng hoạt động thể lực ở học sinh Trung học Phổ thông tại Hà Nội năm 2017
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn76 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 TÓM TẮT: Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), hoạt động thể lực định nghĩa là bất kỳ sự chuyển động của cơ thể được thực hiện bởi hệ cơ xương, có tiêu hao năng lượng. Hoạt động thể lực có thể coi là một biện pháp hữu hiệu để nâng cao sức khỏe và phòng chống bệnh tật đối với cá nhân và cộng đồng. Thêm vào đó, hoạt động thể lực còn là một mặt giáo dục quan trọng, không thể thiếu trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) ở nước ta. Tuy nhiên, hiện nay chúng tôi chưa tìm thấy đề tài trong nước thực hiện về chủ đề này, trên nhóm học sinh trung học phổ thông (THPT). Vì vậy, nghiên cứu là cơ sở khoa học giúp lãnh đạo các nhà trường có thể đẩy mạnh phong trào tập luyện thể dục thể thao cho học sinh hiệu quả hơn. Nghiên cứu áp dụng thiết kế cắt ngang mô tả, với phương pháp định lượng. Thực hiện trên 425 học sinh ở 3 trường THPT trên địa bàn Hà Nội, từ tháng 03-12/2017. Kết quả cho thấy: thời lượng và trị số chuyển hóa năng lượng tương đương của các hoạt động hàng ngày chưa phân bố phù hợp. Cao nhất là hoạt động học tập/làm việc: 6,55 ± 2,12 giờ/ngày và 15,42 ± 5,84 MET-giờ/ngày. Trong khi hoạt động thể thao đạt giá trị thấp nhất là 0,03 giờ/ngày và 0,19 MET-giờ/ngày. Trung bình tổng trị số chuyển hóa năng lượng tương đương trong ngày của học sinh là 44,06 ± 6,52 MET-24 giờ/ ngày (95% KTC: 3,42-44,71 MET-24 giờ/ngày). Tỷ lệ học sinh đạt hoạt động thể lực tĩnh tại, cường độ nhẹ và cường độ vừa phải lần lượt là: 8,1%; 91,1% và 0,8%. Trong đó: chỉ có 0,8% số học sinh đạt mức độ hoạt động thể lực theo khuyến nghị của TCYTTG. Kết luận: gia đình và nhà trường cần tạo điều kiện, giúp học sinh nâng cao hoạt động thể lực của bản thân, để đạt lợi ích về sức khỏe và thành tích tốt trong học tập. Từ khóa: Hoạt động thể lực, trung học phổ thông, đơn vị chuyển hóa tương đương. ABSTRACT: PHYSICAL ACTIVITY STATUS AMONG HIGH SCHOOL STUDENTS IN HANOI, 2017 According to the WHO, physical activity (PA) is defined as any movement of the body made by musculature, which consumes energy. PA can be considered as an effective means of promoting health and preventing illness for individuals and society. In addition, PA is an important and indispensable aspect of ministry of education and training in our country. However, there are currently no domestic research on this subject, in the group of high school students. So, research is the scientific basis to help leaders of schools can promote the movement of physical exercise sports for students, effectively. Research applied cross-sectional study, with the quantitative method. Implemented over 425 students in 3 high schools in Hanoi, from 03-12/2017. The results: the duration and energy metabolite equivalents of daily activities are not well distributed. The highest was study/work: 6.55 ± 2.12 hours/day and 15.42 ± 5.84 MET-hours/day. While sports activity was lowest at 0.03 hours/day and 0.19 MET- hours/day. Average total number of equivalent energy metabolism in days of students was 44.06 ± 6.52 MET-24 hours/day (95% CI: 3.42-44.71). Percentage of students in the inactive, the light and moderate intensity PA in turn is: 8.1%, 91.1%, 0.8%. Just have 0.8% students get level of PA due to recomendation of WHO. Conclusion: the family and the school should create conditions, students improve their PA themselves, to gain the benefits of health and academic performance. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THỂ LỰC Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI HÀ NỘI NĂM 2017 Nguyễn Mạnh Tiến1, Đặng Vũ Phương Linh1, Đặng Minh Điềm2, Trịnh Xuân Thắng3, Nguyễn Công Minh1, Trần Thị Anh1, Dương Hải Yến1, Nguyễn Thành Hưng1 Ngày nhận bài: 01/02/2018 Ngày phản biện: 08/02/2018 Ngày duyệt đăng: 20/02/2018 1. Trường Đại học Y tế Công cộng Tác giả Nguyễn Mạnh Tiến 0984756290, [email protected] 2. Trường Đại học Y khoa Tokyo Việt Nam 3. Viện Nghiên cứu Karolinska, Thụy Điển SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 77 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Key words: Physical activity, high school, metabolic equivalent of task. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Hoạt động thể lực là một mặt giáo dục quan trọng không thể thiếu trong sự nghiệp GD&ĐT, góp phần thực hiện mục tiêu “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước [1]. Trong những năm qua, đất nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực thể dục thể thao và công tác thể chất cho học sinh tại các nhà trường. Tuy nhiên hiện nay, hoạt động thể lực của học sinh tại các trường THPT còn nhiều yếu kém nhất định. Công tác giảng dạy thể dục thể thao vẫn còn nặng tính hình thức, hạn chế năng lực thể chất của học sinh. Chương trình môn học thể dục nội-ngoại khóa chưa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, nên chưa nâng cao được sức khỏe toàn diện... [2]. Mặt khác, qua báo cáo SAVY II vào năm 2015, chỉ có 23,8% thanh thiếu niên độ tuổi 16-19 thường xuyên tập thể dục thể thao. Và có đến 47,6% tự đánh giá sức khỏe mình ở mức trung bình, chiếm tỷ lệ cao nhất trong tự đánh giá tình trạng sức khỏe của lứa tuổi này [3]. Qua tìm hiểu, chúng tôi chưa thấy có nghiên cứu trong nước thực hiện về chủ đề này. Nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học giúp lãnh đạo nhà trường có thể đẩy mạnh phong trào tập luyện thể dục thể thao cho học sinh một cách có hiệu quả. Do vậy, nghiên cứu thực hiện nhằm đạt mục tiêu là mô tả thực trạng hoạt động thể lực ở học sinh THPT tại Hà Nội năm 2017. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, sử dụng phương pháp định lượng. 2.2. Đối tượng nghiên cứu: Gồm học sinh lớp 10, lớp 11 và lớp 12 được lựa chọn ngẫu nhiên tại 3 trường THPT tại Hà Nội. Cụ thể là: THPT Vân Nội, THPT Ngô Gia Tự và THPT Hồng Thái. Nghiên cứu thực hiện từ tháng 03-12/2017. • Tiêu chuẩn lựa chọn: Không giới hạn độ tuổi, học sinh tự nguyện đồng ý tham gia và có đủ năng lực hành vi trả lời bộ câu hỏi. • Tiêu chuẩn loại trừ: Học sinh vắng mặt tại thời điểm nghiên cứu, mắc khiếm khuyết trên cơ thể-gây hạn chế hoạt động thể lực bình thường, phụ huynh/người bảo trợ không đồng ý cho học sinh tham gia. 2.3. Cỡ mẫu Được tính theo công thức cắt ngang một tỷ lệ: n = Trong đó: n: Cỡ mẫu tối thiểu nghiên cứu. p: Tỷ lệ ước lượng hoạt động thể lực của học sinh không đạt mức khuyến nghị TCYTTG (chọn p = 0,5 vì chưa có nghiên cứu ở Việt Nam thực hiện chủ đề này). d: Độ chính xác tuyệt đối mong muốn, chọn d = 5%. Z1 - α/2: Hệ số giới hạn tin cậy; Z1 - α/2 = 1,96 ở độ tin cậy 95% khi α=0,05. Thay số ta có: n = 384 đối tượng. Nhằm giảm sai số nên chúng tôi tăng cỡ mẫu thêm 11%, vì vậy có tổng 425 học sinh THPT tham gia nghiên cứu. 2.4. Phương pháp chọn mẫu Lập danh sách các trường THPT tại Hà Nội, được thống kê trên website của Sở GD&ĐT thành phố Hà Nội [10]. Theo đó, có 295 trường hiện đang hoạt động, tính đến 10/08/2017. Tiến hành chọn ngẫu nhiên 3 trường THPT trong danh sách đã lập ở trên, bằng hàm random trong Excel. Đối với mỗi trường, chúng tôi lập danh sách số lớp học theo 3 khối (khối 10-12). Thực hiện chọn ngẫu nhiên toàn bộ học sinh của 1 lớp trong 1 khối, như danh sách bằng hàm random trong Excel. Như vậy, có tổng số 9 lớp đại diện cho 3 trường THPT tại Hà Nội, tham gia nghiên cứu. 2.5. Bộ công cụ nghiên cứu Để mô tả hoạt động thể lực, chúng tôi tiến hành phát vấn bộ câu hỏi Active-Q Physical Activity Questionaire cho các học sinh thỏa mãn tiêu chí nghiên cứu. Bộ câu hỏi được thiết kế bởi Viện Nghiên cứu Karolinska, Thuỵ Điển vào 02/10/2014 [11] và được dịch sang tiếng Việt, thử nghiệm chỉnh sửa phù hợp với văn hóa Việt Nam. Bao gồm các câu hỏi về tần suất và thời gian hoạt động thể lực, trên 5 lĩnh vực là: học tập và /hoặc làm việc; phương tiện di chuyển; giải trí; chơi thể thao và ngủ. 2.6. Xử lý số liệu Số liệu được nhập bằng phần mềm EPIdata 3.1 và phân tích bởi phần mềm SPSS 22.0. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN z2-1 2α x p(1-p) d2 SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn78 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 Bảng 1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Tần số (n) Tỷ lệ (%) Giới tính Nam giới 171 40,2 Nữ giới 254 59,8 Tuổi 15 tuổi 112 26,3 16 tuổi 158 37,2 17 tuổi 155 36,5 Khối lớp Lớp 10 142 33,4 Lớp 11 143 33,6 Lớp 12 140 33,0 Trường THPT Vân Nội 150 35,3 Ngô Gia Tự 140 32,9 Hồng Thái 135 31,8 Loại hình đào tạo Công lập 285 67,1 Dân lập 140 32,9 Khu vực trường học Nông thôn 285 67,1 Thành thị 140 32,9 Tổng 425 100 Nghiên cứu tiến hành trên tổng số 425 học sinh THPT, trong đó: có 254 nữ giới (59,8%) và 171 nam giới (40,2%). Tỷ lệ học sinh nữ: nam là 1,5. Học sinh có độ tuổi từ 15 đến 17, với số lượng lần lượt là: 112, 158 và 155 học sinh. Chiếm tỷ lệ tương ứng: 26,3%, 37,2% và 36,5%. Ở cả 3 khối (lớp 10-lớp 12) thì có số lượng học sinh tham gia xấp xỉ bằng nhau. Nghiên cứu lựa chọn ngẫu nhiên 3 trường THPT, trong đó: số học sinh tại THPT Vân Nội tham gia cao nhất là 150 học sinh (35,3%) và tham gia thấp nhất là 135 học sinh của THPT Hồng Thái (31,8%). Kết quả còn cho thấy: số học sinh theo học hình thức công lập cao gấp 2 lần so với học sinh dân lập. Khi loại hình công lập có 285 học sinh (67,1%) và 140 học sinh dân lập (32,9%). Theo khu vực trường học thì có 285 học sinh học tại các trường ở nông thôn (67,1%), cao hơn 34,2% so với học sinh tại trường ở thành thị. Số lượng đối tượng tham gia nghiên cứu, có kết quả tương đồng với tác giả Shashank Negi và cộng sự [4] và khác biệt với kết quả điều tra của Wi-Young So, Braithwaite IE và cộng sự, I. O. Senbanjo và cộng sự [5-7]. Các nghiên cứu này có số lượng học sinh tham gia lớn, hầu hết là điều tra quốc gia hoặc quốc tế về sức khỏe thanh thiếu niên. Trong các kết quả có báo cáo về giới tính, thì tác giả Wi-Young So; Shashank Negi và cộng sự [4-5] đều cho thấy không có sự tương đồng về tỷ lệ giới tính so với nghiên cứu này. Có thể lý giải là do việc lựa chọn ngẫu nhiên đối tượng học sinh tham gia. Ở hầu hết nghiên cứu trên thế giới, đều được thực hiện trên lứa tuổi thanh thiếu niên và vị thành niên (từ 12- 18 tuổi) [4-5]. Sự khác biệt này là do mỗi đề tài có những mục tiêu và nguồn lực nghiên cứu khác nhau. Chúng tôi SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 79 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Bảng 2. Thời lượng hoạt động thể lực của từng hoạt động trong ngày (đơn vị: giờ/ngày) Hoạt động thể lực Phân bố chuẩn Tần số (n) Trung bình Độ lệch chuẩn Học tập/làm việc 425 6,55 ± 2,12 Ngủ 424 7,26 ± 1,68 Hoạt động thể lực Phân bố không chuẩn Tần số (n) Trung vị Khoảng Phương tiện di chuyển 422 0,53 4,48 Giải trí 404 4,16 55,00 Chơi thể thao 412 0,03 9,97 Bảng 3. Trị số chuyển hóa năng lượng tương đương của từng hoạt động trong ngày (đơn vị: MET-giờ/ngày) Hoạt động thể lực Phân bố chuẩn Tần số (n) Trung bình Độ lệch chuẩn Học tập/làm việc 425 15,42 ± 5,84 Ngủ 424 7,26 ± 1,68 Hoạt động thể lực Phân bố không chuẩn Tần số (n) Trung vị Khoảng Phương tiện di chuyển 422 1,49 16,89 Giải trí 403 6,83 136,04 Chơi thể thao 412 0,19 56,13 chỉ thực hiện trên lứa tuổi vị thành niên 15-17 tuổi, tương ứng với học sinh từ lớp 10-lớp 12. So sánh với nghiên cứu Shashank Negi và cộng sự [4] thì có sự khác biệt về tỷ lệ học sinh tham gia ở trường công và dân lập. Cụ thể: trong 400 học sinh thì có 170 học sinh dân lập (42,5%) và 180 học sinh công lập (45%). Có thể lý giải là do việc lựa chọn ngẫu nhiên học sinh tham gia. Học sinh được hỏi về thời lượng hoạt động thể lực của từng hoạt động trong ngày và kết quả cho thấy: thời gian học tập trung bình một ngày là 6,55 (± 2,12) giờ; thời lượng ngủ trưa và ngủ đêm trung bình là 7,26 (±1,68) giờ/ ngày. Trung vị về thời gian di chuyển bằng phương tiện của bản thân là 0,53 giờ/ngày (khoảng: 4,48 giờ/ngày). Thời gian mỗi ngày dành cho hoạt động giải trí có trung vị là 4,16 giờ (khoảng: 55 giờ). Trong những hoạt động hàng ngày, thì thời lượng của học sinh khi chơi thể thao là thấp nhất: với trung vị chỉ có 0,03 giờ (khoảng: 9,97 giờ). Qua kết quả trên, ta thấy rằng học sinh THPT dành phần lớn thời gian trong ngày vào việc học tập/đi làm thêm. Khi thời gian cho hoạt động thể thao còn thấp. Điều đó có thể giải thích, bậc học THPT là giai đoạn mà học sinh dành nhiều thời gian cho việc học tập, để kỳ vọng có thành tích tốt trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia. Mặt khác, chương trình học ở giai đoạn này khá nặng và chiếm nhiều thời gian so với hai bậc tiểu học và trung học cơ sở, nên đây cũng là một nguyên nhân của thực trạng này. SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn80 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 Trung bình trị số chuyển hóa năng lượng tương đương của hoạt động học tập/làm việc là 15,42 (± 5,84) MET-giờ/ngày; hoạt động ngủ là 7,26 (± 1,68) MET-giờ/ ngày. Kết quả phân tích cũng cho thấy: 422 học sinh có trung vị về trị số chuyển hóa năng lượng tương đương, của hoạt động di chuyển bằng phương tiện là 1,49 (khoảng: 16,89) MET-giờ/ngày. Năng lượng sử dụng cho hoạt động giải trí là 6,83 MET-giờ/ngày và đạt giá trị thấp nhất là hoạt động chơi thể thao, chỉ là 0,19 (khoảng: 56,13) MET-giờ/ngày. Tương tự với kết quả ở thời lượng hoạt động thể lực, học sinh có trị số chuyển hóa năng lượng tương đương phần lớn dành cho học tập/đi làm thêm. Trong khi hoạt động thể thao có giá trị thấp nhất. Bởi vì, trị số chuyển hóa năng lượng tương đương sẽ bằng thời lượng nhân với giá trị MET tương ứng của từng hoạt động. Mức độ hoạt động thể lực của học sinh được đánh giá bởi 2 phương pháp là: xếp loại nhóm MET và khuyến nghị của TCYTTG. Theo xếp loại nhóm MET thì trong 394 đối tượng: có 32 học sinh hoạt động thể lực tĩnh tại (8,1%), 359 học sinh đạt hoạt động thể lực cường độ nhẹ (91,1%), hoạt động thể lực cường độ vừa phải có 3 học sinh (0,8%) và không học sinh nào đạt hoạt động thể lực cường độ mạnh. Còn theo khuyến nghị TCYTTG thì: 3 học sinh có hoạt động thể lực đạt (0,8%) và 391 học sinh khác chưa đạt hoạt động thể lực ở mức tối thiểu (99,2%). Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ ra rằng: trung bình tổng trị số chuyển hóa năng lượng tương đương trong ngày của học sinh đạt 44,06 (± 6,52) MET-24 giờ/ngày. Và ước tính, học sinh THPT tại Hà Nội có tổng hoạt động thể lực dao động từ 43,42-44,71 MET-24 giờ/ngày. Tỷ lệ học sinh không đạt mức hoạt động thể lực theo khuyến nghị là 99,2%, cao hơn so với tỷ lệ trung bình ở đối tượng thanh thiếu niên (11-17 tuổi) trên toàn cầu là 81%. Con số này cũng cao hơn ở tỷ lệ thanh thiếu niên ở khu vực Đông Nam Á, là 74% [8]. Từ đó, có thể thấy thực trạng hoạt động thể lực của học sinh THPT là rất đáng báo động, khi so sánh với một số chỉ số trên thế giới thì đều có tỷ lệ cao hơn. Tuy nhiên, các kết quả trên được đánh giá theo tính chất tham khảo, bởi vì đối tượng trong nghiên cứu (15-17 tuổi) có thể sẽ đạt tỷ lệ cao hơn khi so sánh với toàn bộ lứa tuổi thanh thiếu niên (11-17 tuổi). Trên thực tế, cũng đã có một vài nghiên cứu trên thế giới đưa ra kết quả tương đồng, khi chỉ ra tỷ lệ không đạt hoạt động thể lực theo khuyến nghị ở nhóm thanh thiếu niên lên tới 90,6% [9]. IV. KẾT LUẬN Thời lượng và trị số chuyển hóa năng lượng tương đương của các hoạt động hàng ngày chưa được phân bố phù hợp. Cao nhất là hoạt động học tập/đi làm thêm (6,55 ± 2,12 giờ/ngày và 15,42 ± 5,84 MET-giờ/ngày) và thấp nhất là hoạt động chơi thể thao (0,03 giờ/ngày và 0,19 MET-giờ/ngày). Trung bình tổng trị số chuyển hóa năng lượng tương đương trong ngày của học sinh là 44,06 ± 6,52 (95% KTC: 43,42-44,71) MET-24 giờ/ngày. Có 8,1% học sinh đạt hoạt động thể lực tĩnh tại, 91,1% hoạt động cường độ nhẹ, 0,8% hoạt động cường độ vừa phải và không có học sinh hoạt động cường độ mạnh. Bảng 4. Mức độ hoạt động thể lực của đối tượng nghiên cứu Mức độ hoạt động thể lực Tần số (n) Tỷ lệ (%) Xếp loại nhóm MET Tĩnh tại (MET < 1,5) 32 8,1 Nhẹ (1,5 ≤ MET < 3,0) 359 91,1 Vừa phải (3,0 ≤ MET < 6,0) 3 0,8 Mạnh (MET ≥ 6,0) 0 0 Khuyến nghị TCYTTG Đạt (≥ 3,0 MET-1 giờ/ngày) 3 0,8 Chưa đạt (< 3,0 MET-1 giờ/ngày) 391 99,2 Tổng 394 100 SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 81 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Còn theo mức khuyến nghị TCYTTG thì có tới 99,2% học sinh chưa đạt hoạt động thể lực ở mức tối thiểu. V. KHUYẾN NGHỊ Học sinh nên tăng cường hoạt động thể lực với cường độ vừa phải/mạnh, tối thiểu 60 phút mỗi ngày, để đem lợi ích về sức khỏe. Gia đình và nhà trường cần phối hợp, tạo điều kiện giúp học sinh cân bằng giữa thời lượng học tập, thời gian nghỉ ngơi và hoạt động thể dục thể thao hàng ngày. 1. Chỉ thị số 36/CT-TƯ ngày 24 tháng 03 năm 1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác thể dục thể thao trong giai đoạn mới. 2. Đồng Hương Lan. Nghiên cứu phát triển thể chất của học sinh trung học phổ thông chuyên các tỉnh Bắc miền Trung [Luận án Tiến sĩ Khoa học giáo dục]. Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh; 2016. 3. Bộ Nội vụ, Quỹ Dân số Liên Hiệp quốc tại Việt Nam (UNFPA). Báo cáo Quốc gia về Thanh niên Việt Nam. Hà Nội: 2015. p. 46-52. 4. Shashank Negi, BM John, Seema Patrikar. A study of the relationship of physical activity with scholastic performance and body mass index in children 12-18 years of age. Sri Lanka Journal of Child Health 2016;45(1):18-23. 5. Wi-Young So. Association between of physical activity and academic performance in Korean adolescent students. BMC Public Health 2012;12:256. 6. Braithwaite IE, Stewart AW, Hancox RJ, Murphy R, Wall CR, Beasley R et al. Body mass index and vigorous physical activity in children and adolescents: an international cross-sectional study. Acta paediatrica 2017 Aug;106(8):1323-30. 7. I.O. Senbanjo, K.A. Oshikoya. Physical activity and body mass index of school children and adolescents in Abeokuta, Southwest Nigeria. World Journal of Pediatrics 2010 Aug;6(3):217-22. 8. WHO. Prevalence of insufficient physical activity. [Online]. Available from: URL: risk_factors/physical_activity_text/en/. 9. de Moraes AC, Guerra PH, Menezes PR. The worldwide prevalence of insufficient physical activity in adolescents; a systematic review. Nutrición Hospitalaria 2013 May-Jun; 28(3):575-84. 10. Sở GD&ĐT thành phố Hà Nội. Danh sách các trường trung học phổ thông Hà Nội. [Online]. 2017 [cited 2017 Aug 10]. Available from: URL: 11. Department of Medical Epidemiology and Biostatistics (Karolinska Institutet). The Active-Q Physical Activity Questionaires. [Online]. 2014 [cited 2014 Oct 02]. Available from: URL: activity-questionnaires. TÀI LIỆU THAM KHẢO
File đính kèm:
thuc_trang_hoat_dong_the_luc_o_hoc_sinh_trung_hoc_pho_thong.pdf

