Thực trạng hạ can xi máu ở trẻ dưới 12 tháng tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2019

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ hạ canxi máu, biểu hiện lâm sàng, cận lâm

sàng và một số yếu tố liên quan.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Đối tượng nghiên cứu là trẻ em dưới 12

tháng tuổi tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2019.

Kết quả: Triệu chứng lâm sàng đi với hạ canxi máu là biểu hiện của còi xương sớm như

khóc cơn, giật mình/co giật, ít ngủ, mồ hôi trộm gặp với tỷ lệ cao (64-80%). Canxi máu

trung bình là 1,37mmo/l, canxi ion trung bình là 0,74 mmo/l. Có sự tương quan giữa nồng

độ canxi máu toàn phần và nồng độ canxi ion r = 0,67, y = 0,43x+ 0,04, p = 0,03. Các yếu

tố liên quan đến hạ canxi máu là tuổi nhỏ 1-6 tháng, trẻ không được bú mẹ hoàn toàn.

Kết luận: Chiếm tỷ lệ cao bị hạ canxi huyết là nhóm trẻ từ 1-6 tháng, trẻ nam chiếm tỷ lệ

cao hơn trẻ nữ. Tất cả bệnh nhân đều có mức canxi ở dưới mức bình thường, chỉ số magie

máu giảm nhiều, chỉ số phosphatase kiềm tăng cao, Không tìm thấy có mối liên quan giữa

hạ canxi máu, với trình độ học của mẹ và cân nặng lúc sinh của trẻ.

pdf 8 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng hạ can xi máu ở trẻ dưới 12 tháng tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thực trạng hạ can xi máu ở trẻ dưới 12 tháng tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2019

Thực trạng hạ can xi máu ở trẻ dưới 12 tháng tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2019
 Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 22-29 
22 
 Research Paper 
Hypocalcemia Status of Children under 12 months 
at Nghe An Obstetrics and Pediatrics Hospital in 2019 
Tran Thi Kieu Anh* 
Nghe An Obstetrics and Pediatrics Hospital, 161 Nguyen Phong Sac, 
Hung Dung, Vinh City, Nghe An, Vietnam 
Received 26 May 2020 
Revised 20 June 2020; Accepted 29 June 2020 
Abstract 
Purpose: To determine the proportion of hypocalcaemia, clinical, paraclinical 
manifestations and some related factors. 
Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted. Subjects of the study were 
children under 12 months of age at Nghe An Obstetrics and Pediatrics Hospital in 2019. 
Results: The clinical symptom associated with hypocalcaemia is early rickets, such as 
crying, startling/convulsions, sleep deprivation, and persistent sweating with a high rate 
(64-80%). The average blood calcium is 1.37 mmo/l, the ionized calcium level is 0.74 
mmo/l. There is a correlation between total calcium and ionized calcium ion level r = 0.67, 
y = 0.43x + 0.04, p = 0.03. Factors related to hypocalcaemia are young ages 1 to 6 months, 
infants who are not exclusively breastfed. 
Conclusions: Accounting for a high rate of hypocalcemia is the group of children from 1-
6 months, male account for a higher rate than female. All patients had low calcium level, 
significantly serum hypomagnesemia, elevated alkaline phosphatase. There is no 
association between hypocalcemia, maternal education and birth weight of the child. 
Keywords: Hypocalcemia. 
*
_______ 
* Corresponding author. 
 E-mail address: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i3.185 
T.T.K. Anh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 22-29 
23 
Thực trạng hạ can xi máu ở trẻ dưới 12 tháng 
tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2019 
Trần Thị Kiều Anh* 
Đại học Y khoa Vinh, 161 Nguyễn Phong Sắc, Hưng Dũng, 
Thành phố Vinh, Nghệ An, Việt Nam 
Nhận ngày 26 tháng 5 năm 2020 
Chỉnh sửa ngày 20 tháng 06 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 29 tháng 6 năm 2020 
Tóm tắt 
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ hạ canxi máu, biểu hiện lâm sàng, cận lâm 
sàng và một số yếu tố liên quan. 
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Đối tượng nghiên cứu là trẻ em dưới 12 
tháng tuổi tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2019. 
Kết quả: Triệu chứng lâm sàng đi với hạ canxi máu là biểu hiện của còi xương sớm như 
khóc cơn, giật mình/co giật, ít ngủ, mồ hôi trộm gặp với tỷ lệ cao (64-80%). Canxi máu 
trung bình là 1,37mmo/l, canxi ion trung bình là 0,74 mmo/l. Có sự tương quan giữa nồng 
độ canxi máu toàn phần và nồng độ canxi ion r = 0,67, y = 0,43x+ 0,04, p = 0,03. Các yếu 
tố liên quan đến hạ canxi máu là tuổi nhỏ 1-6 tháng, trẻ không được bú mẹ hoàn toàn. 
Kết luận: Chiếm tỷ lệ cao bị hạ canxi huyết là nhóm trẻ từ 1-6 tháng, trẻ nam chiếm tỷ lệ 
cao hơn trẻ nữ. Tất cả bệnh nhân đều có mức canxi ở dưới mức bình thường, chỉ số magie 
máu giảm nhiều, chỉ số phosphatase kiềm tăng cao, Không tìm thấy có mối liên quan giữa 
hạ canxi máu, với trình độ học của mẹ và cân nặng lúc sinh của trẻ. 
Từ khóa: Hạ canxi huyết. 
1. Đặt vấn đề* 
Hạ canxi huyết xảy ra khi nồng độ canxi 
toàn phần trong máu dưới 8,8mg/dL 
(2,20mmol/l) trong điều kiện protein huyết 
thanh bình thường, hoặc canxi ion hoá dưới 
4,7mg/dL (1,17mmol/L). Bệnh hạ canxi trẻ 
nhỏ sẽ để lại những biến chứng ảnh hưởng 
đến sự phát triển lâu dài của trẻ. Nguy hiểm 
hơn là thời gian đầu những triệu chứng biểu 
hiện của bệnh không hề rõ ràng, chúng cứ 
_______ 
* Tác giả liên hệ. 
 Địa chỉ email: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i3.185 
tăng tiến dần đến khi nhận biết được bệnh 
thì cũng là lúc bệnh đã trở nên nặng và gặp 
nhiều khó khăn để điều trị. Bệnh xuất hiện 
khá phổ biến ở thời kỳ trẻ bú mẹ, do nhiều 
nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu do 
còi xương dinh dưỡng. Khi trẻ bị còi xương, 
nguy cơ tử vong tăng lên rất nhiều. Trẻ bị 
hạ canxi máu có biểu hiện hình thái lâm 
sàng đa dạng nhưng hay gặp trên lâm sàng 
là tình trạng trẻ quấy khóc làm cho bố mẹ 
gia đình trẻ lo sợ, ảnh hưởng cuộc sống của 
không những gia đình mà còn của gia đình 
xung quanh [1-4]. Vì vậy chúng tôi tiến 
hành đề tài nghiên cứu này nhằm mục tiêu: 
T.T.K. Anh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 22-29 
24 
1. Xác định tỷ lệ hạ canxi máu, lâm 
sàng, cận lâm sàng của trẻ dưới 12 tháng 
tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2019 
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến 
tình trạng hạ canxi huyết. 
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 
2.1. Đối tượng 
Là trẻ em dưới 12 tháng đến khám bệnh 
tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An có biểu 
hiện của hạ canxi huyết đi kèm các triệu 
chứng của còi xương sớm. 
Tiêu chuẩn lựa chọn: 
● Biểu hiện lâm sàng 
- Quấy khóc nhiều/khóc cơn, ngủ 
không ngon, hay giật mình, ra mồ hội trộm 
- Rụng tóc, dấu hiệu “chiếu liếm”, mồ 
hôi trộm 
- Thóp rộng, bờ thóp mềm, dấu hiệu 
mềm sọ (craniotabes) 
Biểu hiện cận lâm sàng 
● Canxi huyết toàn phần giảm < 8,8 
mg/dL hay 2,2 mmol/l. 
- Phosphatase kiềm tăng > 400 đơn vị 
- Ngoài ra còn có calci ion hóa giảm < 
1,17 mmo/l. 
Tiêu chuẩn loại trừ: 
- Loại khỏi nghiên cứu trẻ hạ canxi 
huyết do bệnh tuyến giáp, bệnh ống thận 
bẩm sinh. 
- Các trẻ không có các biểu hiện lâm 
sàng và cận lâm sàng của hạ canxi huyết. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu 
mô tả cắt ngang 
2.3. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 - 
tháng 10/2019 
2.4. Cỡ mẫu nghiên cứu 
Lấy tất các trường hạ canxi huyết ở trẻ 
dưới 12 tháng tuổi có đủ tiêu chuẩn lựa 
chọn tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An trong 
thời gian từ tháng 1- 10/2019. Qua quá trình 
khảo sát và thu thập, chúng tôi tiếp nhận được 
216 trẻ đủ điều kiện tham gia nghiên cứu. 
2.5. Các bước tiến hành 
- Khi trẻ vào phòng khám có biểu hiện 
lâm sàng nghi ngờ hạ canxi máu, còi xương 
sớm sẽ được hỏi lâm sàng kỹ, tiền sử nuôi 
dưỡng, bệnh tật, khám bệnh toàn diện. 
- Làm xét nghiệm sinh hóa: canxi máu, 
canxi ion, phosphat niệu, phosphatase kiềm. 
2.6. Chỉ số và biến số nghiên cứu 
- Học vấn mẹ, nuôi sữa công thức 
- Lâm sàng: Quấy khóc nhiều/khóc cơn, 
ngủ không ngon, hay giật mình, ra mồ 
hội trộm 
- Rụng tóc, dấu hiệu “chiếu liếm”, mồ 
hôi trộm 
- Thóp rộng, bờ thóp mềm, dấu hiệu 
mềm sọ (craniotabes). 
3. Kết quả nghiên cứu 
3.1. Thông tin chung về đối tượng 
nghiên cứu 
g 
T.T.K. Anh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 22-29 
25 
Biểu đồ 1. Phân bố bệnh nhân theo tuổi (n=216). 
Nhận xét: Trẻ nam chiếm tỷ lệ cao hơn nữ, tỷ lệ nam chiếm 56,8%. 
Biểu đồ 2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi (n=216). 
Nhận xét: Trẻ bị hạ canxi huyết từ 1-6 tháng chiếm tỷ lệ cao 69,6%. 
Biểu đồ 3. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo cân nặng lúc sinh ( n=216). 
Nhận xét: Chủ yếu đối tượng nghiên cứu là trẻ từ 2500g trở lên chiếm 95,7% 
T.T.K. Anh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 22-29 
26 
Biểu đồ 4. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo địa dư (n=216) 
Nhận xét: Trẻ đến từ nông thôn và các tỉnh khác cao hơn nội thành. 
3.2. Tỷ lệ, lâm sàng, cận lâm sàng và yếu tố liên quan 
Bảng 1. Triệu chứng lâm sàng khi đến viện 
Triệu chứng lâm sàng N= 216 Tỷ lệ 
Khóc cơn 165 76,2 
Giật mình/co giật 149 68,9 
Ít ngủ 141 65,4 
Mồ hôi trộm 158 73,2 
Tóc rụng 125 57,8 
Thóp rộng, bờ mềm 168 77,9 
Chậm mọc răng 139 64,3 
Chậm vận động 129 59,8 
Nhận xét: Các triệu chứng đưa trẻ đến viện gặp với tỷ lệ cao từ 65-76%. 
Bảng 3. Nồng độ canxi, canxi ion và phosphatase kiềm của bệnh nhân khi vào viện 
Các chỉ số n Nồng độ 
thấp nhất 
Nồng độ 
 cao nhất 
Nồng độ 
trung bình 
Canxi toàn phần (mmol/l) 216 0,86 1,92 1,37±0,31 
Canxi ion (mmol/l) 216 0,43 1,24 0,74±0,13 
Phosphatase kiếm (mmol/l) 216 0,52 1,13 0,76±0,17 
Magie (mmol/l) 216 79 938 382,35±201,5 
Nhận xét: Tất cả bệnh nhân đều có mức canxi ở dưới mức bình thường, chỉ số magie máu giảm 
nhiều, chỉ số phosphatase kiềm tăng cao. Có sự tương quan giữa nồng độ canxi máu toàn phần 
và nồng độ canxi ion r= 0,67, y= 0,43x+ 0,04, p = 0,03. 
T.T.K. Anh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 22-29 
27 
Bảng 4. Liên quan hạ canxi máu với tuổi mắc bệnh 
 Ca 
Tuổi 
Nồng độ 
Canxi thấp 
Nồng độ 
Canxi cao OR,95%CI p 
n % n % 
1-6 tháng 57 72,1 22 21,9 
2,7 
( 1,4 – 5,16) 
0,009 > 6 tháng 67 48,9 70 51,1 
Tổng 124 57,4 92 42,6 
Nhận xét: Trẻ nhỏ hơn 6 tháng tuổi nguy cơ hạ canxi máu lâm sàng và xét nghiệm cao 2,7 lần so 
với trẻ khác. 
Bảng 5. Liên quan hạ canxi máu với cân lúc sinh 
 Ca 
Tuổi 
Nồng độ Canxi thấp Nồng độ Canxi cao OR,95%CI p 
n % n % 
< 2500g 87 60,8 56 39,2 1,5 
( 0,82 – 2,77) 
0,15 
>=2500g 37 50,6 36 49,4 
Tổng 124 57,4 92 42,6 
Nhận xét: Không có mối liên quan giữa hạ canxi máu với cân nặng lúc sinh 
Bảng 6. Liên quan hạ canxi máu với bú mẹ hoàn toàn 
 Ca 
Tuổi 
Nồng độ 
Canxi thấp 
Nồng độ 
Canxi cao OR,95%CI p 
n % n % 
Không bú mẹ hoàn toàn 58 71,6 23 28,4 
2,63 
( 1,43- 4,98) 
0,001 Bú hoàn toàn 66 48,8 69 51,2 
Tổng 124 57,4 92 42,6 
Nhận xét: Trẻ không được bú mẹ hoàn toàn có nguy cơ hạ canxi máu lâm sàng và xét nghiệm tăng 
2,63 lần so với trẻ khác với OR 95%CI = 2,63 ( 1,43 - 4,98) kết quả có ý nghĩa thống kê p = 0,001. 
Bảng 7. Liên quan hạ canxi máu với văn hóa mẹ 
 Ca 
Học vấn 
Nồng độ 
Canxi thấp 
Nồng độ 
Canxi cao OR,95%CI p 
n % n % 
<=THCS 19 70,3 8 29,7 
1,9 
(0,74- 5,26) 
0,14 >=THPT 105 55,5 84 45,5 
Tổng 124 57,4 92 42,6 
Nhận xét: Học vấn mẹ từ PTCS trở xuống không có liên quan tới hạ canxi máu lâm sảng và xét 
nghiệm. 
4. Bàn luận 
Các dấu hiệu lâm sàng của trẻ khi vào 
khám bệnh mà nghiên cứu ghi nhận được để 
bắt buộc bà mẹ đưa con đi khám bệnh như 
giật mình, co giật, ít ngủ, mồ hôi trộm, nhất 
là khóc cơn. Các dấu hiệu này gặp tỷ lệ cao 
từ > 65% số trẻ chúng tôi gặp. Dấu hiệu 
T.T.K. Anh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 22-29 
28 
lâm sàng này cũng hoàn toàn giống như 
nhận xét trong kinh điển [1]. 
Có 3 xét nghiệm được áp dụng trên lâm 
sàng để xác định trẻ còi xương hạ canxi 
máu là canxi toàn phần, canxi ion và 
phosphatase kiềm. Theo định nghĩa khi hạ 
canxi máu dưới 2,1mmo/l. Trong nghiên 
cứu của chúng tôi canxi máu trung bình của 
bệnh nhân là 1,37 mmo/l. Canxi ion trung 
bình là 0,74 mmol/l. Trong thực tế thì canxi 
toàn phần thay đổi chậm hơn. Canxi ion dao 
động nhẹ thì trên lâm sàng đã thấy trẻ có 
biểu hiện triệu chứng. Tất cả bệnh nhân 
trong nghiên cứu của chúng tôi đều có mức 
canxi ở dưới mức bình thường, chỉ số magie 
máu giảm nhiều, chỉ số phosphatase kiềm 
tăng cao. Kết quả còn tìm được có sự tương 
quan giữa nồng độ canxi máu toàn phần và 
nồng độ canxi ion r= 0,67, y= 0,43x+ 0,04, 
p = 0,03. 
Chúng tôi khảo sát một số yếu tố có liên 
quan đến còi xương do hạ canxi máu. Đó là 
tuổi của trẻ, trẻ đẻ non hay không, trẻ không 
được bú mẹ và trình độ văn hóa của mẹ. 
Theo khuyến cáo của WHO trẻ em cần 
được bú mẹ đến 6 tháng. Nếu trẻ không 
được bú mẹ thì nguy cơ còi xương hạ canxi 
máu rất cao. Trẻ không được bú mẹ, ăn sữa 
công thức, tỷ lệ ca/p không cân đối khó hấp 
thu nên trẻ dễ còi xương hạ canxi máu. 
Theo nghiên cứu này thì trẻ dưới 6 tháng 
nguy cơ hạ canxi máu cao hơn 2,3 lần so 
với trẻ ở độ tuổi lớn hơn [1-3]. 
Trẻ có cân nặng < 2500 g không có liên 
quan đến hạ canxi máu. Tuy nhiên theo một 
số người trong và ngoài nước chỉ ra ở trẻ có 
cân nặng thấp dự trữ canxi và khả năng hấp 
thu canxi thấp dấn đến hạ canxi máu. Kết 
quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương 
kết quả nghiên cứu của Bakalli I nghiên cứu 
tại Anh cũng đã chỉ ra việc hạ canxi huyết 
không liên quan đến cân nặng. Bên cạnh đó 
tác giả cũng đã đề cập đến việc các nghiên 
cứu gần đây đã chỉ ra rằng hơn một nửa trẻ 
sơ sinh, trẻ em và thanh thiếu niên có thể 
được bổ sung không đầy đủ. Tỷ lệ thiếu 
vitamin D cao ở trẻ em đã được quan sát 
trên toàn thế giới, ngay cả ở những nước 
nhiệt đới, có nguồn năng lượng mặt trời 
phong phú. Cần xây dựng một quá trình 
nghiêm ngặt để đảm bảo bổ sung vitamin D 
đầy đủ cho phụ nữ mang thai, cho con bú, 
trẻ em và thanh thiếu niên [7]. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi cho 
thấy trẻ nhỏ hơn 6 tháng tuổi nguy cơ hạ 
canxi máu lâm sàng và xét nghiệm cao 2,7 
lần so với trẻ khác. Kết quả này phù hợp với 
kết quả của Dahifar H khi nghiên cứu tại 
Iran năm 2006 về tình trạng thiếu hụt canxi 
ở các bé gái [3]. 
Trẻ không được bú mẹ hoàn toàn có 
nhiều thiệt thòi. Trước hết ảnh hưởng đến 
sự phát triển của bộ não vì sữa công thức 
không đủ các acid amin cần thiết cho não 
bộ phát triển. Ngoài ra trẻ hay bị tiêu chảy, 
thiếu máu và dễ mắc các bệnh khác. Như đã 
đề cập ở trên, trẻ không được ăn sữa mẹ, ăn 
sữa công thức hay ăn bột quá sớm làm cản 
trở hấp thu canxi nên dễ bị hạ canxi máu. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi trẻ không 
được bú mẹ hoàn toàn nguy cơ hạ canxi 
máu tăng gấp hơn 2,63 lần so với trẻ được 
bú mẹ hoàn toàn. 
Theo khuyến cáo của Bộ Y tế, phụ nữ 
đang cho con bú cần hấp thụ khoảng 1000 
mg canxi mỗi ngày. Nhưng do việc ăn uống 
bị kiêng khem nên thường bị thiếu hụt canxi 
sau khi sinh. Vì vậy, các mẹ cũng có thể 
cung cấp lượng canxi bị thiếu bằng các loại 
thuốc bổ sung canxi. Tuy nhiên việc dùng 
thuốc cần phải có sự hướng dẫn của bác sĩ, 
không nên tự ý dùng thuốc bởi vì khi thiếu 
một số vi chất khác như thiếu sắt, kẽm, trẻ 
cũng có một vài triệu chứng như thiếu canxi. 
Đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi thì bú mẹ 
hoàn toàn và tắm nắng thường xuyên (việc 
này đang rất tranh cãi nên bỏ) là biện pháp 
tốt nhất giúp bổ sung canxi. Còn với trẻ từ 7 
T.T.K. Anh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 22-29 
29 
tháng trở lên, đã có thể ăn dặm thì bên cạnh 
việc bú sữa, uống thêm sữa công thức, thì 
các mẹ có thể chế biến những thực phẩm 
giàu canxi để bổ sung vào thực đơn ăn dặm 
của trẻ. 
Văn hóa mẹ cũng được đem vào khảo 
sát nhưng không có mối liên quan giữa học 
vấn mẹ bằng hoặc dưới THCS với còi 
xương hạ canxi máu. Tuy nhiên trong nhiều 
bệnh như suy dinh dưỡng, tiêu chảy, nhiễm 
khuẩn hô hấp cấp đều thấy có liên quan đến 
học vấn của mẹ [1]. 
Các nghiên cứu của một số tác giả khi 
nghiên cứu tại một số quốc gia Châu phi 
cho thấy trẻ em hạ canxi lại không phải do 
còi xương mà là do cung cấp thiếu do ăn 
thức ăn có hàm lượng canxi thấp [5, 6, 8]. 
5. Kết luận 
- Triệu chứng lâm sàng đi với hạ canxi 
máu là biểu hiện của còi xương sớm như 
khóc cơn, giật mình/co giật, ít ngủ, mồ hôi 
trộm gặp với tỷ lệ cao (64-80%). 
- Canxi máu trung bình là 2,07mmo/l, 
canxi ion trung bình là 1,05mmo/l. Có sự 
tương quan giữa nồng độ canxi máu toàn 
phần và nồng độ canxi ion r = 0,67, y= 
0,43x+ 0,04, p = 0,03. 
- Các yếu tố liên quan đến hạ canxi máu 
là tuổi nhỏ 1-6 tháng, trẻ không được bú mẹ 
hoàn toàn. 
Tài liệu tham khảo 
[1] Tra LN. Rickets Nutrition, Pediatric 
Lecture, vol II, Medicine Publishing 
House; 2000. (in Vietnamese) 
[2] Singhal A. Hypocalcemia Pediatrics; 2010. 
[3] Dahifar D. Hypocalcemia in healthy young 
girls in Tehran. Arch Iran Med 2006; 
9(4):364-367. 
[4] Oduwle AO, Giwa OS, Arogundade RA. 
Relationhip between rickets and incomplete 
distal renal tubular acidosis in children. Ital 
J Pediatr 2010;36(1):54. 
[5] Pettifor JM, Ross P, Wang J et al. Richkets in 
children of rural origin in South Africa: is low 
diatary calcium a factor?. J Pediatr 
1978;92(2):320-324. 
[6] Pettifor JM, Ross P, Moodley G et al. 
Calcium deficiency in rural black children 
in South Africa-a comparison between rural 
and urban communities Am J clin Nutri 
1979;332(12):2477-2483. 
[7] Bakalli I, Kola E, Celaj E et al. The 
Approach to Tetanic Hypocalcemia Caused 
by Vitamin D Deficiency. N Engl J Med 
2019;341(8);563-568. 
[8] Thacher TD, Fischer RP, Pettifor JM et al. 
Case-control study of factor associated with 
nutritional rickets in Nigeria children.J 
Pediatr 2000;137(3):367-373. 

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_ha_can_xi_mau_o_tre_duoi_12_thang_tai_benh_vien_s.pdf