Thực trạng công tác chăm sóc điều dưỡng người bệnh tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Hữu Nghị

Điều dưỡng (ĐD) là lực lượng chính cung cấp các

dịch vụ chăm sóc người bệnh tại bệnh viện (BV).

Nghiên cứu này thực hiện tại BV Hữu nghị nhằm mô

tả hoạt động chăm sóc người bệnh của ĐD và xác

định một số yếu tố liên quan.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô tả cắt

ngang kết hợp định lượng và định tính được tiến hành

vào năm 2012. Số liệu định lượng được thu thập qua

216 phiếu khảo sát người bệnh nội trú tại thời điểm

xuất viện. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS

16.0. Số liệu định tính thu thập qua 01 cuộc phỏng vấn

sâu lãnh đạo BV và 04 cuộc thảo luận nhóm với lãnh

đạo khoa và ĐD

pdf 5 trang phuongnguyen 240
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng công tác chăm sóc điều dưỡng người bệnh tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Hữu Nghị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thực trạng công tác chăm sóc điều dưỡng người bệnh tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Hữu Nghị

Thực trạng công tác chăm sóc điều dưỡng người bệnh tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Hữu Nghị
Y HỌC THỰC HÀNH (876) - SỐ 7/2013 
125
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC ĐIỀU DƯỠNG NGƯỜI BỆNH 
TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ 
DƯƠNG THỊ BÌNH MINH, LÊ VĂN THẠCH 
Bệnh viện Hữu Nghị 
NGUYỄN THANH HƯƠNG - Trường Đại học Y tế công cộng 
TÓM TẮT 
Điều dưỡng (ĐD) là lực lượng chính cung cấp các 
dịch vụ chăm sóc người bệnh tại bệnh viện (BV). 
Nghiên cứu này thực hiện tại BV Hữu nghị nhằm mô 
tả hoạt động chăm sóc người bệnh của ĐD và xác 
định một số yếu tố liên quan. 
Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô tả cắt 
ngang kết hợp định lượng và định tính được tiến hành 
vào năm 2012. Số liệu định lượng được thu thập qua 
216 phiếu khảo sát người bệnh nội trú tại thời điểm 
xuất viện. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 
16.0. Số liệu định tính thu thập qua 01 cuộc phỏng vấn 
sâu lãnh đạo BV và 04 cuộc thảo luận nhóm với lãnh 
đạo khoa và ĐD. 
 Kết quả nghiên cứu cho thấy, ĐD đã thực hiện 
tương đối tốt các công tác với 4 trong 5 nội dung 
chăm sóc người bệnh được đánh giá đều đạt trên 
90%. Tuy nhiên, công tác tư vấn, hướng dẫn giáo dục 
sức khỏe chỉ đạt 66,2%; còn có tới 46,2% người 
chăm sóc người bệnh thực hiện việc vệ sinh cá nhân 
cho người bệnh. Thiếu nhân lực, trình độ và quá tải 
công việc của ĐD ảnh hưởng đến việc thực hiện đầy 
đủ các hoạt động chăm sóc người bệnh. 
BV cần bổ sung nhân lực ĐD và tăng cường một 
số hoạt động của ĐD cũng như công tác quản lý để 
tiếp tục cải thiện công các chăm sóc người bệnh. 
Từ khóa: Điều dưỡng, chăm sóc người bệnh, 
bệnh viện. 
SUMMARY 
Nurses are essential manpower providing health 
care in hospitals. This study was conducted in Huu 
nghi hospital aiming to describe the stuation of patient 
care provided by nurses and indentify associated 
factors. 
The study was cross-sectional design with mixed 
methods conducted in 2012. Quantitative data was 
collected from 216 in-patients at the time of being 
discharged from the hospital. Data were analysed 
using SPSS 16.0 software. Qualitative data were 
collected from 1 indepth interview and 4 focus group 
discussions. 
The results revealed that nurses implemented 
their duties quite well with 4 out of 5 groups of 
activities reaching the acceptable level of more than 
90%. However, counseling and health education were 
not conducted well with only 66.2% of nurse classified 
as acceptable. In addition, there were 46.2% 
caregivers providing hygiene care for patients. 
Shortess of nurses, workload influenced nurses’ 
patient care activities. 
The hospital need to recruit suitable nurses, 
review nurses activites as well as revise management 
procedure to continue improving patient care. 
Keywords: Nurse, patient care, hospital. 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Điều dưỡng (ĐD) là lực lượng chính cung cấp các 
dịch vụ chăm sóc người bệnh (CSNB) tại bệnh viện 
(BV) vì vậy muốn nâng cao chất lượng dịch vụ y tế 
phải quan tâm nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm 
sóc điều dưỡng (CSĐD). Nội dung chính của CSĐD 
bao gồm: lập kế hoạch và chăm sóc thể chất, tinh 
thần, dinh dưỡng, theo dõi, sử dụng thuốc, phục hồi 
chức năng, giáo dục sức khỏe (GDSK) cho người 
bệnh (NB) [3]. 
Ở nước ta hiện nay công tác CSNB của ĐD tại BV 
được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 
07/2011TT-BYT, hướng dẫn công tác ĐD về CSNB 
trong BV [1]. Có một số nghiên cứu về chăm sóc, 
theo dõi NB tại các BV như Trung ương Huế, Y học 
cổ truyền trung ương đã chỉ ra rằng: ĐD làm tốt 
việc chăm sóc hỗ trợ tinh thần và thực hiện y lệnh 
của bác sỹ nhưng việc hỗ trợ NB ăn uống; chăm sóc 
vệ sinh cá nhân lại chủ yếu do người nhà thực hiện 
[2]. Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào về công 
tác CSNB của ĐD tại BV Hữu Nghị - một BV đặc thù 
với đối tượng NB là cán bộ trung, cao cấp của Đảng 
và Nhà nước. Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện 
nhằm: Mô tả một số hoạt động CSNB của ĐD tại các 
khoa lâm sàng BV Hữu Nghị và xác định một số yếu 
tố liên quan. 
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu (NC) mô tả 
cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính. 
2. Đối tượng nghiên cứu 
NC định lượng: NB điều trị tại BV được thông 
báo ra viện. 
NC định tính: Lãnh đạo BV; Trưởng hoặc phó 
khoa và ĐD trưởng khoa các khoa lâm sàng; ĐD trực 
tiếp làm công tác CSNB trong BV. 
3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Từ tháng 
3 đến tháng 8 năm 2012. Tại 16 khoa lâm sàng có 
giường bệnh của BV Hữu Nghị. 
4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu. 
NC định lượng: Cỡ mẫu cho phát vấn người bệnh 
 Cỡ mẫu: Tính theo công thức: 
2d
pp Zn )1(2
2/
Trong đó: n là số NB điều trị nội trú tại BV; 
Z = 1,96 với độ tin cậy 95%; p = 0,5 là tỷ lệ NB 
đánh giá được ĐD chăm sóc tốt; d = 0,07 là sai số dự 
kiến. 
 Y HỌC THỰC HÀNH (876) - SỐ 7/2013 
126 
Kết quả tính được là 196, cộng thêm 10% để dự 
phòng một số NB từ chối hoặc không tiếp cận được. 
Tổng mẫu của nghiên cứu là n = 216. 
 Chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên NB được 
thông báo ra viện tại các khoa theo tỷ lệ với số 
giường bệnh thực kê của khoa/tổng số giường thực 
kê của BV. 
NC định tính: chọn chủ đích 1 cuộc phỏng vấn 
sâu (PVS) lãnh đạo BV; 4 cuộc thảo luận nhóm 
(TLN), bao gồm: 8 lãnh đạo khoa,10 ĐDTK, 20 ĐD 
trực tiếp CSNB. 
5. Thu thập và phân tích số liệu. 
NC định lượng (Phát vấn NB): sử dụng bộ câu hỏi 
được xây dựng gồm thông tin chung của NB và 07 
nội dung của hoạt động CSĐD: (1) công tác tiếp đón 
NB; (2) công tác chăm sóc dinh dưỡng, hỗ trợ NB ăn 
uống; (3) công tác chăm sóc, hỗ trợ NB vệ sinh hàng 
ngày; (4) chăm sóc về tâm lý, tinh thần cho NB; (5) 
theo dõi, đánh giá NB; (6) phối hợp thực hiện y lệnh 
của bác sỹ và (7) tư vấn, GDSK cho NB. 
Các phiếu điều tra được làm sạch, nhập bằng 
phần mềm Epi Data và phân tích bằng phần mềm 
SPSS 16.0. 
NC định tính: Sử dụng hướng dẫn PVS và TLN, 
thực hiện sau khi đã có kết quả phân tích sơ bộ 
thông tin NC định lượng để bổ sung, giải thích cho 
kết quả định lượng. Các cuộc PVS và TLN được ghi 
âm, gỡ băng, mã hóa theo chủ đề. 
6. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả khảo sát ý kiến 
NB. 
Mỗi câu hỏi có 03 mức độ đánh giá: (1) Thực 
hiện tốt/đầy đủ; (2) Thực hiện nhưng chưa tốt/chưa 
đầy đủ; (3) Không thực hiện. Tổng hợp đánh giá 
chung công tác chăm sóc theo tiêu chuẩn “Đạt”, 
“Không đạt” cho 5/7 nội dung trên theo cách tính như 
sau: Nội dung chăm sóc được tính “Đạt” khi tất cả 
các câu đều được NB đánh giá đạt mức độ 1; còn lại là 
“Không đạt”. Về công tác chăm sóc dinh dưỡng, hỗ trợ 
ăn uống và công tác chăm sóc, hỗ trợ vệ sinh chỉ mô 
tả kết quả theo từng câu trả lời mà không đánh giá 
chung. 
KẾT QUẢ 
1. Thông tin chung của NB tham gia nghiên 
cứu (n = 216): Đối tượng nghiên cứu có độ tuổi trung 
bình là 70,6 tuổi, trong đó đa số trên 60 tuổi (92,6%), 
nam giới chiếm tới 76,9%. Đa số NB là cán bộ nghỉ 
hưu, cư trú tại nội thành Hà Nội. Có tới 59,7% nhập 
viện từ lần thứ 3 trở lên và chủ yếu là điều trị nội 
khoa (87,5%). 
2. Thực trạng công tác CSNB của ĐD 
2.1. Kết quả hoạt động CSNB của ĐD qua đánh 
giá của NB: Theo tiêu chuẩn đánh giá của nghiên 
cứu, kết quả tổng hợp các nội dung CSNB của ĐD 
qua đánh giá của NB được trình bày ở biểu đồ 3.1. 
Có 4 trong 5 tiêu chí được xếp loại để đánh giá 
công tác ĐD thông qua phát vấn NB có tỷ lệ đạt yêu 
cầu tương đối cao, trên 90%. Riêng công tác tư vấn, 
hướng dẫn GDSK có tỷ lệ đạt yêu cầu thấp hơn hẳn 
chỉ là 66,2%. 
95,8 94,9 94,0 90,3 
66,2 
4,2 5,1 6,0 9,7 
33,8 
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
Tiếp đón NB CS về tâm 
lý, tinh thần
Theo dõi, đánh 
giá NB
Thực hiện y lệnh 
của bác sỹ
Tư vấn GDSK
Không đạt
Đạt
Biểu đồ 3.1: Đánh giá chung việc thực hiện 5 nội dung CSĐD 
2.2. Một số vấn đề còn tồn tại 
Tiếp đón NB của ĐD: 4,2% NB đánh giá ĐD chưa 
phổ biến đầy đủ cho NB về quyền lợi và nghĩa vụ của 
họ khi nằm viện. 
Chăm sóc về tâm lý, tinh thần cho NB: Còn một tỷ 
lệ nhỏ (<4%) NB đánh giá ĐD chưa thực hiện hoặc 
thực hiện chưa tốt việc quan tâm hỏi thăm sức khỏe 
NB, giải đáp kịp thời thắc mắc cũng như giải thích 
động viên NB khi chăm sóc và thực hiện y lệnh cho 
NB. 
Theo dõi, đánh giá NB: Còn 3,2% NB đánh giá 
chưa được ĐD theo dõi mạch, nhiệt độ, huyết áp 
hàng ngày. Lãnh đạo khoa cũng đánh giá có lúc, có 
ĐD thực hiện chưa nghiêm túc việc theo dõi NB: “đôi 
khi không để ý đến đánh giá, tiên lượng NB, có ĐD 
nhận thuốc, nhận y lệnh xong, tiêm truyền xong nhiều 
khi cũng chẳng theo dõi nữa, truyền hết thì người nhà 
gọi, có theo dõi đâu” (TLN lãnh đạo khoa). 
Phối hợp thực hiện y lệnh của Bác sĩ: 3,7 % là tỷ lệ 
NB đánh giá ĐD phát thuốc cho NB tại giường nhưng 
không chứng kiến NB uống thuốc. 
Tư vấn, hướng dẫn GDSK cho NB: Một tỷ lệ khá 
cao NB đánh giá ĐD không thực hiện hoặc thực hiện 
chưa tốt việc: hướng dẫn NB chế độ ăn uống (13%), 
hướng dẫn, hỗ trợ NB tập luyện phục hồi chức năng 
(18,5%) và hướng dẫn NB cách tự phòng bệnh trong 
% 
Y HỌC THỰC HÀNH (876) - SỐ 7/2013 
127
khi ra viện (22%). Kết quả TLN cho thấy “GDSK cho 
NB thì chưa thực hiện tốt vì các cháu chỉ là trình độ 
trung cấp, còn NB trình độ đại học nên rất khó thực 
hiện” (TLN ĐDV). 
Công tác chăm sóc dinh dưỡng, hỗ trợ NB ăn 
uống: 
Tỷ lệ ĐD giúp NB khi gặp khó khăn trong ăn uống: 
Thực hiện tốt: 89,2%; Thực hiện nhưng chưa tốt: 
5,4%; Không thực hiện: 5,4% 
Trong số 216 NB trả lời phát vấn có 37 NB gặp 
khó khăn trong ăn uống và cần hỗ trợ. Vẫn còn 5,4% 
ĐD được đánh giá là không thực hiện giúp đỡ NB. 
Đánh giá trên cũng khá phù hợp với kết quả TLN với 
lãnh đạo khoa: “Hỗ trợ NB ăn uống trong giờ thì làm 
được, còn ngoài giờ thì làm chưa trọn vẹn, cần người 
nhà vào hỗ trợ ăn uống chứ nhân viên không đủ để 
thực hiện hết được” (TLN lãnh đạo khoa) 
Công tác chăm sóc, hỗ trợ vệ sinh hàng ngày 
Có 41 trên 216 NB trả lời gặp khó khăn trong vệ 
sinh cá nhân. Kết quả cho thấy vẫn còn 6/41người 
(14,6%) không được ĐD giúp đỡ khi cần hoặc có 
giúp nhưng không thường xuyên. 
Người trực tiếp giúp NB nặng vệ sinh cá nhân: 
Trong số 78 NB trả lời có nhìn thấy NB nặng cùng 
khoa cần hỗ trợ trong vệ sinh cá nhân, có tới 46,2% 
cho biết người trực tiếp làm vệ sinh cho NB là người 
CSNB, trong khi đó ĐD trực tiếp làm chỉ chiếm 
11,5%. Hộ lý: 1,3%; Điều dưỡng phối hợp hộ lý và 
người CSBN: 41.0%; Kết quả này cũng phù hợp với 
ý kiến từ các cuộc TLN: “Chăm sóc vệ sinh cho NB 
thì tại khoa tôi nhân viên không làm được hết nên 
chúng tôi phải phối hợp với người nhà” (TLN ĐD). 
3. Các yếu tố liên quan đến công tác CSNB 
của ĐD 
3.1. Nhân lực ĐD hạn chế về số lượng và trình 
độ: Nghiên cứu định tính cho thấy số lượng nhân lực 
ĐD nói chung không thiếu trầm trọng nhưng do độ 
tuổi khá trẻ và chủ yếu là nữ nên việc nghỉ tạm thời 
do thai sản, con ốm mà BV chưa có biện pháp khắc 
phục nên dẫn đến thiếu nhân lực trên thực tế. Về 
trình độ lãnh đạo BV cũng nêu rõ còn nhiều bất cập: 
“Trình độ của các điều dưỡng còn hạn chế, kiến thực 
chưa sâu nên thiếu sự chủ động, còn rụt rè trong 
công việc, đặc biệt là khi giao tiếp và tư vấn cho NB” 
(PVS lãnh đạo BV). 
3.2. Áp lực công việc: Do số lượng NB trung 
bình mà ĐD phải chăm sóc hàng ngày; Số lượng y 
lệnh phải thực hiện cho 1 NB; Thủ tục và công việc 
hành chính; Bác sỹ cho y lệnh thuốc muộn; ĐD nhập 
y lệnh thuốc và xét nghiệm vào máy thay bác sỹ; Máy 
móc trang thiết bị cũ; “46 bệnh nhân chỉ có 2 ĐD trực, 
có ngày truyền 15 ca máu, 30 ca truyền dịch nên dễ 
có sai sót” (TLN ĐDV). “Khoa tôi ĐD vẫn phải vừa vào 
thuốc, xét nghiệm vào máy, vừa vào sổ mất rất nhiều 
thời gian. Thiếu nhân lực mà không thể bàn giao được 
cho bác sĩ” (TLN ĐD trưởng khỏa). 
3.3. Công tác kiểm tra, giám sát và chế độ đãi 
ngộ: “Tính chủ động của ĐD phụ thuộc vào mức độ 
giám sát của ĐD trưởng khoanhưng ĐD trưởng 
khoa hiện bận quá nhiều công việc không có thời 
gian giám sát” (TLN LĐK). Tuy nhiên sự quan tâm 
tạo điều kiện cho ĐD đi học tập nâng cao trình độ, 
phân công công việc hợp lý của BV, khoa được 
đánh giá là yếu tố ảnh hưởng tích cực đến động lực 
làm việc của ĐD. 
3.4. Sự phối hợp giữa các khoa, phòng và 
đồng nghiệp: Sự phối hợp giữa bác sỹ - ĐD và các 
ĐD với nhau được đánh giá khá cao góp phần nâng 
cao kết quả trong CSNB. Tuy nhiên công tác phối hợp 
với một số khoa phòng còn gặp nhiều khó khăn gây 
ảnh hưởng không nhỏ đến thời gian chờ đợi, đi lại và 
công việc của ĐD: “Vật tư tiêu hao thiếu, cung ứng 
không kịp thời phải đi vay, mạng trục trặc nên mất 
nhiều thời gian” (TLN ĐDV). 
BÀN LUẬN 
1. Thực trạng công tác CSNB của ĐD tại các 
khoa lâm sàng. 
Nghiên cứu này đánh giá tương đối toàn diện về 
tất cả 7 nội dung trong công tác CSNB của ĐD được 
thực hiện ở BV. Phản hồi từ NB cho thấy kết quả 
đánh giá chung về 4 trong 5 nội dung CSNB theo tiêu 
chuẩn đánh giá trong nghiên cứu này có tỷ lệ đạt yêu 
cầu tương đối cao, trên 90%. Trong đó công tác tiếp 
đón NB đạt kết quả cao nhất lên đến 95,8%. Điều 
đáng quan tâm là công tác tư vấn, hướng dẫn GDSK 
có tỷ lệ đạt yêu cầu thấp hơn hẳn, chỉ là 66,2%. Tuy 
nhiên tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của 
Bekele Chaka tại Addis Ababa, Ethiopia (2005) chỉ có 
40% NB hài lòng với lượng thông tin nhận được từ 
ĐD về tình trạng bệnh tật, cách thức điều trị bệnh [6]. 
Kết quả đánh giá tạ BV Hữu nghị cũng cao hơn đáng 
kể so với đánh giá tại BV Y học cổ truyền trung ương 
[4]. Kết quả của chúng tôi cũng khá tương đồng với 
kết luận trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Minh 
năm 2010, đó là: công việc được thực hiện nhiều lần 
trong ngày là đo huyết áp, đếm mạch và thực hiện y 
lệnh thuốc; tư vấn, GDSK cho NB là công việc ít được 
thực hiện nhất của ĐD [9]. 
Về chăm sóc dinh dưỡng nghiên cứu cũng cho 
thấy chỉ có 8,1% số NB phản ánh ĐD không thực 
hiện cho NB ăn qua sonde, con số này thấp hơn 
nhiều so với kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Bích 
Ngà (55,6%) [4]. Mặc dù vậy vẫn rất cần được chấn 
chỉnh vì cho NB ăn qua sonde là một kỹ thuật chuyên 
môn đã được qui định rõ tại Điều 7 chương II Thông 
tư 07/2011/TT-BYT [1]. 
Về công tác chăm sóc, hỗ trợ vệ sinh hàng ngày, 
kết quả cho thấy người trực tiếp làm vệ sinh cho NB 
chủ yếu là người CSNB (46,2%). Tuy nhiên tỷ lệ này 
ở BV Y học cổ truyền Trung ương con cao hơn rất 
nhiều lên tới 86,3% [4]. Điều đáng ghi nhận tại BV 
hữu nghị đó là việc vệ sinh cá nhân cho NB có sự 
phối hợp của ĐD với hộ lý và người CSNB cũng 
chiếm tỷ lệ khá cao (41%). Trước mắt việc phối hợp 
này là hiệu quả và có ích cho NB, nhất là trong điều 
kiện thiếu nhân lực phục vụ trong BV như hiện nay. 
2. Một số yếu tố liên quan đến công tác chăm 
sóc người bệnh của ĐD. 
 Y HỌC THỰC HÀNH (876) - SỐ 7/2013 
128 
Nguồn nhân lực điều dưỡng tại các khoa lâm 
sàng 
Tỷ lệ chung bác sỹ/ĐD tại các khoa lâm sàng 
trong BV Hữu Nghị hiện nay mới đạt 1/2,67, nhưng 
so với tỷ lệ 1bác sỹ/1,52 ĐD tại BV Y học cổ truyền 
trung ương tỷ lệ này không đến nỗi quá thấp. Tuy 
nhiên với nhiều lý do như đi học, nghỉ phép, nghỉ thai 
sản, con ốm, chế độ không trực đêm do con nhỏvà 
đặc biệt phục vụ các đại hội, hội nghị quan trọng của 
Đảng và Nhà nước nên trên thực tế nhiều lúc BV 
phải đối mặt với việc rất thiếu ĐD tạm thời. Bên cạnh 
đó, tại các khoa ngoài ĐD trưởng khoa còn cần thêm 
2 ĐD làm công tác hành chính (vào máy, vào sổ, lĩnh 
thuốc, thanh toán thực chi). Tỷ lệ ĐD có trình độ 
cao đẳng, đại học trên ĐD trung cấp còn thấp, chỉ 
chiếm 15,5%. Trong nghiên cứu của Li-ming You và 
cộng sự (2012) tại 181 BV ở Trung Quốc đã tìm thấy: 
Có mối liên quan chặt chẽ giữa tăng tỷ lệ cử nhân ĐD 
với kết quả điều trị tốt hơn [10]. Việc thiếu ĐD có 
trình độ cao đẳng, đại học tại BV đã ảnh hưởng 
không nhỏ đến các hoạt động CSNB của ĐD đặc biệt 
là trong giao tiếp, theo dõi, đánh giá tiên lượng bệnh 
và thực hiện tư vấn, GDSK cho NB. 
Áp lực công việc 
Nghiên cứu này cho thấy có tới 36,3% ĐD phải 
chăm sóc từ 20 NB trở lên/ngày. Số lượng y lệnh phải 
thực hiện cho 1 NB và nhiều loại thuốc phải thực hiện 
bằng đường tiêm, truyền tĩnh mạch khiến ĐD chỉ tập 
trung vào thực hiện y lệnh bác sỹ và không đủ thời 
gian làm các hoạt động chăm sóc khác cho NB đặc 
biệt trong các ngày nghỉ. Nên chăng BV cần xây 
dựng một phác đồ chuẩn áp dụng thống nhất trong 
toàn BV để hạn chế các y lệnh thuốc không cần thiết 
vừa giảm tải cho công việc của ĐD vừa đạt mục tiêu 
tiết kiệm chi. Thêm vào đó bác sỹ cho y lệnh thuốc 
hàng ngày muộn đồng nghĩa với việc ĐD không thể 
tổng hợp y lệnh để đi lĩnh thuốc sớm đảm bảo thời 
gian dùng thuốc cho NB. 
Hiện nay, ĐD phải thực hiện quá nhiều các công 
việc gián tiếp như: thủ tục thanh toán viện phí, vào sổ 
thuốc, vào máy, sao sổ tiêm truyền, ghi phiếu chăm 
sóc, ghi chép hồ sơ ĐD, vào vật tư tiêu hao, công 
khai thuốc, đi lĩnh thuốc ở khoa Dược, thay bác sỹ gõ 
y lệnh thuốc, y lệnh xét nghiệm vào máy những 
công việc này chiếm quá nhiều thời gian của ĐD 
khiến cho việc CSNB bị ảnh hưởng. 
Công tác kiểm tra, giám sát và chế độ đãi ngộ 
Để nâng cao chất lượng công tác CSNB thì không 
thể thiếu được vai trò kiểm tra, giám sát của BV cũng 
như tại các khoa, tuy nhiên hiện tại việc đôn đốc, 
kiểm tra, giám sát công tác ĐD tại BV, khoa còn hạn 
chế. Thứ nhất có thể là do tâm lý cán bộ các phòng 
ban ngại mâu thuẫn, va chạm với các khoa phòng; 
thứ hai do trưởng phó các khoa ngoài công tác quản 
lý vẫn tham gia làm công tác chuyên môn nên thời 
gian để kiểm tra, giám sát rất thiếu và đặc biệt do ĐD 
trưởng khoa bận nhiều công việc hành chính không 
thể thực hiện đi buồng hàng ngày để đôn đốc, kiểm 
tra, giám sát công việc của ĐD. 
Ngược lại, chế độ đãi ngộ tại BV Hữu Nghị, khoa 
đã có ảnh hưởng tích cực đến công tác CSNB của 
ĐD. BV, khoa quan tâm tạo điều kiện cho ĐD đi học 
tập nâng cao trình độ cũng như việc thay đổi hình 
thức từ làm 3 ca sang làm 2 ca tại khoa Hồi sức và 
khoa Cấp cứu một cách hợp lý vừa đảm bảo thu 
nhập vừa khuyến khích tinh thần làm việc của ĐD và 
giúp họ yên tâm công tác. 
Sự phối hợp giữa các khoa, phòng và đồng 
nghiệp 
Tại BV sự phối hợp giữa bác sỹ - ĐD và các ĐD 
với nhau được đánh giá khá cao thể hiện ở việc ĐD 
thực hiện tốt các y lệnh của bác sỹ, chủ động báo cáo 
tình hình diễn biến bệnh tật của NB kịp thời cũng như 
tự điều chỉnh nhân lực hỗ trợ nhau giữa các nhóm 
chăm sóc khi cần. Tuy nhiên, công tác phối hợp với 
một số khoa phòng còn gặp nhiều khó khăn do cung 
ứng máy móc, vật tư quá chậm trễ, việc báo sửa 
chữa, hỏng hóc ở các khoa lâm sàng nhiều khi không 
được sửa chữa ngay, ĐD phải đi lại báo sửa chữa 
nhiều lần. Kết quả nghiên cứu này có điểm tương tự 
như của Trần Quỵ và cộng sự (2005), đó là trình độ 
chuyên môn, thiếu nhân lực, áp lực tâm lý, cơ hội học 
tập và các mối quan hệ đồng nghiệp có liên quan đến 
sự hài lòng nghề nghiệp của ĐD (p<0.001) [5]. 
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 
Công tác tiếp đón NB, hoạt động chăm sóc hỗ trợ 
về tâm lý, tinh thần và công tác phối hợp thực hiện y 
lệnh của bác sỹ đều đạt trên 90%. Tuy nhiên, kết quả 
thực hiện công tác tư vấn, hướng dẫn GDSK lại khá 
thấp ( 66,2%). Một số hoạt động chăm sóc còn chưa 
thực hiện tốt: cho NB ăn qua sonde và hỗ trợ vệ sinh 
cá nhân cho NB. 
Thiếu nhân lực ĐD; tỷ lệ ĐD có trình độ đại học và 
cao đẳng thấp; Tình trạng quá tải công việc của ĐD 
(cả về chuyên môn; thủ tục hành chính; công việc 
gián tiếp; vào y lệnh thay bác sỹ); Hạn chế trong 
kiểm tra, giám sát ĐD; và một số phòng chức năng phối 
hợp hoạt động chưa tốt đã ảnh hưởng tiêu cực đến 
công tác CSNB của ĐD. Ngược lại, sự phối hợp giữa 
bác sỹ và ĐD và giữa ĐD với nhau; vài việc tạo điều 
kiện để ĐD có thể đi học nâng cao trình độ, phân công 
công việc hợp lý và đảm bảo thu nhập ổn định đã có 
ảnh hưởng tích cực đến công tác CSNB của ĐD. 
Qua kết quả nghiên cứu một số khuyến nghị đối 
với BV gồm: 
Xác định nhu cầu, bổ sung nhân lực ĐD ưu tiên 
ĐD có trình độ cao đẳng và đại học. 
Ban hành quy định về thời gian bác sỹ ra y lệnh 
thuốc và bác sĩ cho thuốc trực tiếp vào máy vi tính để 
tránh nhầm lẫn và giảm gánh nặng cho ĐD. Cải tiến 
các biểu mẫu hồ sơ ĐD để giảm thiểu việc ghi chép cho 
ĐD. Xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động chặt chẽ 
giữa các khoa, phòng tạo điều kiện thuận lợi cho ĐD 
trong công tác CSNB. 
Tăng cường và đổi mới phương thức kiểm tra, 
giám sát các hoạt động CSNB của ĐD đặc biệt chú 
trọng công tác dinh dưỡng, vệ sinh và tư vấn, GDSK. 
Xây dựng tài liệu phù hợp, tổ chức đào tạo cho 
ĐD đặc biệt là công tác tư vấn tâm lý, GDSK cho NB. 
Y HỌC THỰC HÀNH (876) - SỐ 7/2013 
129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Bộ Y tế (2011), Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 
26 tháng 01 năm 2011 về hướng dẫn công tác điều 
dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện. 
2. Châu Thị Hoa và Nguyễn Thị Diệu Trang (2010), 
"Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh ung thư hạ 
họng - thanh quản tại trung tâm ung bướu bệnh viện
Trung ương Huế (từ 1/1/2009 - 30/6/2010)", Kỷ yếu đề 
tài nghiên cứu khoa học Điều dưỡng Hội nghị khoa học 
Điều dưỡng toàn quốc lần thứ IV, Hà Nội, tr. 183-191. 
3. Hội Điều dưỡng Việt Nam (2010), "Lĩnh vực 2: 
Chăm sóc người bệnh", Hướng dẫn đánh giá chất lượng 
chăm sóc người bệnh trong các bệnh viện, Hà Nội, tr. 
23-33. 
4. Bùi Thị Bích Ngà (2011), Thực trạng công tác 
chăm sóc của điều dưỡng qua nhận xét của người bệnh 
điều trị nội trú tại bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương 
năm 2011, Luận văn thạc sỹ quản lý bệnh viện, Trường 
Đại học Y tế công cộng, Hà Nội. 
5. Trần Quỵ và các cộng sự (2005), "Sự hài lòng 
nghề nghiệp của điều dưỡng bệnh viện và các yếu tố 
liên quan, 2005", Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học 
điều dưỡng Hội nghị khoa học điều dưỡng toàn quốc lần 
thứ II, Hà Nội, tr. 33-42. 
6. Bekele Chaka (2005), Adult patient satisfaction 
with nursing care, The Thesis for the Degree of 
Master, Department of Community Health Faculty of 
Medicine, Addis Ababa University, Ethiopia. 
7. Barbara Kozier và các cộng sự (2004), "Historical 
and Contemporary Nursing Practice", Fundamentals of 
Nursing - Concepts, Process and Practica, Pearson 
Prentice Hall, New Jersey, tr. 9-11. 
8. Nguyen Bich Luu (2001), Factors related to the 
quality of nursing care services as evaluated by the 
patients discharged from Banpong Hospital, Ratchaburi 
province, Thailand, The thesic for the degree of master, 
Mahidol University, Ratchaburi province, Thailand. 
9. Nguyen Thi Hong Minh (2010), Identification of 
Nursing Activities at General Medical and Surgical 
Nursing Units in Vietnam, The Thesis for the Degree of 
Master, Department of Nursing Scienses The Graduate 
School, Ajou University, Korean. 
10. Li-ming You và các cộng sự (2012), "Hospital 
nursing, care quality, and patient satisfaction: Cross-
sectional surveys of nurses and patients in hospitals in 
China and Europe", International Journal of Nursing 
Studies (2012). 
NGHI£N CøU Sù BIÕN §æI CñA TÕ BµO NéI M¤ M¶NH GHÐP GI¸C M¹C 
SAU PHÉU THUËT GHÐP GI¸C M¹C XUY£N 
Ph¹m ThÞ Thïy Linh - §¹i Häc Y Hµ Néi 
tãm t¾t 
Néi m« gi¸ c m¹c lµ líp trong cïng cña gi¸ c m¹c, 
tiÕp xóc trùc tiÕp víi thñy dÞch, cã vai trß ®Æc biÖt quan 
träng ®èi víi h×nh thÓ vµ chøc n¨ng gi¸c m¹c, duy tr× sù 
trong suèt cña gi¸c m¹c nhê hÖ thèng b¬m néi m«. Sù 
sôt gi¶m ®¸ng kÓ tÕ bµo néi m«, trong vµ sau phÉu 
thuËt ghÐp gi¸ c m¹c (GGM) g©y ra sù thiÕu hôt chøc 
n¨ng cña néi m«, t¹m thêi hoÆc vÜnh viÔn. V× vËy, viÖc 
®¸nh gi ¸sù biÕn ®æi cña tÕ bµo néi m« sau phÉu thuËt 
GGM lµ cÇn thiÕt, cã ý nghÜa vÒ theo dâi vµ tiªn l­îng 
kÕt qu¶ ®iÒu trÞ. 
Môc tiªu: 
NhËn xÐt, ®¸nh gi¸ mét sè yÕu tè ¶nh h­ëng ®Õn 
sù biÕn ®æi cña tÕ bµo néi m« m¶nh ghÐp gi¸c m¹c 
sau phÉu thuËt ghÐp gi¸c m¹c xuyªn 
§èi t­îng vµ ph­¬ng ph¸p nghiªn cøu: 
§èi t­îng: Nghiªn cøu ®­îc thùc hiÖn trªn 52 bÖnh 
nh©n ®­îc GGM t¹i BÖnh viÖn M¾t Trung ­¬ng. Víi ®é 
tuæi trung b×nh lµ tõ 43 ± 15,1; 30 bÖnh nh©n nam vµ 
22 bÖnh nh©n n÷. 
Ph­¬ng ph¸p nghiªn cøu: Trªn l©m sµng, sù biÕn 
®æi cña tÕ bµo néi m« vÒ sè l­îng vµ chÊt l­îng ®­îc 
®¸nh gi¸ th«ng qua: sinh hiÓn vi, ®o chiÒu dµy gi¸c 
m¹c, chôp huúnh quang vµ sinh hiÓn vi ph¶n g­¬ng. 
KÕt qu¶ vµ kÕt luËn: 
MËt ®é tÕ bµo néi m« tr­íc mæ cña m¶nh gi¸c m¹c 
hiÕn cµng cao, nguy c¬ mÊt tÕ bµo néi m« sau phÉu 
thuËt cµng lín. 
Thêi gian b¶o qu¶n kÐo dµi lµm t¨ng nguy c¬ thÊt 
b¹i ghÐp. 

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_cong_tac_cham_soc_dieu_duong_nguoi_benh_tai_cac_k.pdf