Thực hành đi buồng thường quy ở điều dưỡng viên tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2017

Mục tiêu: Mô tả thực trạng thực hành đi buồng thường

quy ở điều dưỡng/hộ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng bộ

câu hỏi phỏng vấn 66 điều dưỡng/hộ sinh thực hiện công

tác đi buồng và 200 người bệnh. Kết quả: Chỉ có 9,0%

điều dưỡng/hộ sinh thực hành đầy đủ quy trình đi buồng

đạt đầy đủ; theo phản hồi của điều dưỡng/hộ sinh có

42,4% tư vấn đầy đủ về phòng và nâng cao sức khỏe cho

người bệnh và 41% theo phản hồi từ người bệnh; 27,2%

điều dưỡng/hộ sinh hướng dẫn đầy đủ các nội dung với

sản phụ sau đẻ và 27,5% từ sự phản hồi người bệnh. Đánh

giá chung có 72,7% điều dưỡng/hộ sinh đạt trên 80% số

điểm và 77,7% đạt trên 80% số điểm theo sự phản hồi

từ người bệnh. Kết luận: Tỷ lệ thực hiện đầy đủ các nội

dung đi buồng ở điều dưỡng/hộ sinh còn thấp

pdf 6 trang phuongnguyen 580
Bạn đang xem tài liệu "Thực hành đi buồng thường quy ở điều dưỡng viên tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thực hành đi buồng thường quy ở điều dưỡng viên tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2017

Thực hành đi buồng thường quy ở điều dưỡng viên tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2017
SỐ 41 - Tháng 11+12/2017
Website: yhoccongdong.vn 3
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Mục tiêu: Mô tả thực trạng thực hành đi buồng thường 
quy ở điều dưỡng/hộ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng bộ 
câu hỏi phỏng vấn 66 điều dưỡng/hộ sinh thực hiện công 
tác đi buồng và 200 người bệnh. Kết quả: Chỉ có 9,0% 
điều dưỡng/hộ sinh thực hành đầy đủ quy trình đi buồng 
đạt đầy đủ; theo phản hồi của điều dưỡng/hộ sinh có 
42,4% tư vấn đầy đủ về phòng và nâng cao sức khỏe cho 
người bệnh và 41% theo phản hồi từ người bệnh; 27,2% 
điều dưỡng/hộ sinh hướng dẫn đầy đủ các nội dung với 
sản phụ sau đẻ và 27,5% từ sự phản hồi người bệnh. Đánh 
giá chung có 72,7% điều dưỡng/hộ sinh đạt trên 80% số 
điểm và 77,7% đạt trên 80% số điểm theo sự phản hồi 
từ người bệnh. Kết luận: Tỷ lệ thực hiện đầy đủ các nội 
dung đi buồng ở điều dưỡng/hộ sinh còn thấp.
Từ khóa: Đi buồng thường quy; điều dưỡng/hộ sinh; 
người bệnh.
ABSTRACT: WARD AROUND PRACTICE 
OF NURSES AT HANOI OBSTETRICS AND 
GYNECOLOGY HOSPITAL IN 2017 
Objectives: To describe the nursing practice of ward 
around at Hanoi Obstetrics and Gynecology Hospital. 
Methodology: A cross-sectional study was conducted on 
66 nurses/ midwifes and 200 patients. Result: Only 9,0% 
nurses/midwifes follow full procedure of going around 
wards; there is 42,4% and 41% of nurses/midwifes giving 
adequate consultation on prevention and improvement in 
health care for patients according to response of nurses/
midwifes and responses of patients, respectively; there 
is 27,2% and 27,5% of nurses/midwifes follow full 
procedures to mothers after giving birth according to 
response of nurses/midwifes and responses of patients, 
respectively. Total evaluation: the percentage of nurses/
midwifes completing more than 80% of points was 72,7% 
and 77,7% according to response of nurses/midwifes 
and responses of patients, respectively. Conclusion: The 
percentage of nurses/midwifes who follow the procedures 
of going around ward is still low.
Keywords: Frequent ward around; nurses/midwifes; 
patients
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đi buồng thường quy là công việc thường xuyên hàng 
ngày của điều dưỡng, hộ sinh; là một trong những chăm 
sóc thể chất và tinh thần hiệu quả nhằm phát hiện sớm 
những diễn biến bất thường của người bệnh. Đồng thời, 
thông qua hoạt động đi buồng, nhân viên y tế sẽ tư vấn, 
hướng dẫn, truyền thông phổ biến kiến thức giáo dục sức 
khỏe cho người bệnh và người nhà người bệnh. Đây là 
quy trình chăm sóc người bệnh chiếm nhiều thời gian hơn 
các quy trình chuyên môn khác, đòi hỏi điều dưỡng, hộ 
sinh phải có kỹ năng, kiến thức và thái độ thực hành tốt 
[1], [2].Theo Phạm Thị Xuyến (2015) tại Bệnh viện đa 
khoa Hà Đông kết quả cho thấy thực hành của ĐDV qua ý 
kiến của NB thì chưa tốt, nhiều nhiệm vụ thực hiện không 
thường xuyên hoặc là không thực hiện; chỉ có 69,3% NB 
hài lòng về hoạt động đi buồng thường qui của ĐDV [2].
Tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, công tác đi buồng đóng 
vai trò quan trọng đối với các bà mẹ trong việc giúp cung 
cấp thông tin nâng cao sức khỏe sau sinh, nuôi con bằng sữa 
mẹ, chuẩn bị tâm lý cho các bà mẹ trước, trong và sau sinh. 
Do đó, thực hành tốt đi buồng có ý nghĩa rất quan trọng. 
Nhằm đánh giá thực hành đi buồng, qua đó đề xuất các giải 
pháp can thiệp công tác đi buồng chúng tôi tiến hành nghiên 
cứu với đề tài: “Thực hành đi buồng thường quy ở điều 
dưỡng viên tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2017”.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, 
nghiên cứu định lượng.
Ngày nhận bài: 02/08/2017 Ngày phản biện: 09/08/2017 Ngày duyệt đăng: 17/08/2017
1. Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
2. Bệnh viện Nhi Trung ương;
3. Trường Đại học Y tế Công cộng
THỰC HÀNH ĐI BUỒNG THƯỜNG QUY Ở ĐIỀU DƯỠNG VIÊN 
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI NĂM 2017
Trương Thị Mỹ Hà1, Nguyễn Duy Ánh1, Đỗ Mạnh Hùng2, Nguyễn Quỳnh Anh3
SỐ 41 - Tháng 11+12/2017
Website: yhoccongdong.vn4
2017JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE
Đối tượng nghiên cứu
+ ĐD, HS trực tiếp chăm sóc NB tại 04 khoa: A3, A4, 
D4, D5
+ Người bệnh tại 04 khoa: A3, A4, D4, D5
+ Cán bộ quản lý: Phó Giám đốc phụ trách ĐD, HS; 
Phó Trưởng phòng Điều dưỡng; Trưởng/Phó khoa, Điều 
dưỡng trưởng tại 04 khoa: A3, A4, D4, D5.
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2017 đến tháng 
10/2017
- Cỡ mẫu phát vấn ĐD, HS:
Chúng tôi chọn mẫu toàn bộ 66 ĐD, HS tham gia đi 
buồng thường quy tại 04 khoa lâm sàng: A3, A4, D4, D5 
thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn vào nghiên cứu.
- Cỡ mẫu phỏng vấn NB/ NNNB:
n = Z2(1 - /2)
p(1-p)
d2
+ n: số NB điều trị nội trú tại BV để điều tra, n = 1,96 
với độ tin cậy 95%.
+ p: là tỷ lệ NB đánh giá được ĐD, HS thực hiện đi 
buồng với p = 0,5 để có cỡ mẫu lớn nhất.
+ d: sai số dự kiến 7%, d = 0,07.
Cỡ mẫu tối thiểu là n= 196. Lấy tròn là 200 bệnh nhân
Công cụ đánh giá: Bộ câu hỏi nghiên cứu được xây 
dựng dựa theo qui định đi buồng thường qui của ĐD, HS 
do Bệnh viện Phụ sản Hà Nội ban hành và áp dụng tại 
bệnh viện
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐD/HS thực hiện các công việc đi buồng như chào hỏi 
người bệnh khi đến chiếm tỷ lệ cao nhất với 89,3% ĐD/
HS, việc hỏi thăm tình hình chung người bệnh thấp nhất 
với 25,7% số ĐD/HS. 
Bảng 1. Thực hành đầy đủ về quy trình đi buồng
TT Chỉ tiêu
Thực hành ĐD/HS Phản hồi NB
Số lượng
(n = 66)
Tỷ lệ %
Số lượng
(n=200)
Tỷ lệ %
1 Đến đúng giờ 49 74,2 112 56,0
2 Có chào NB khi đến 59 89,3 184 92,0
3 Giới thiệu với NB về tên, chức danh 50 75,7 156 78,0
4 Hỏi thăm tình hình chung NB 17 25,7 75 37,5
5 Hướng dẫn NB thực hiện nội quy của bệnh viện 39 59 150 75,0
6 Chào NB sau khi rời buồng bệnh 56 84,8 176 88,0
THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ 6 9,0 32 16,0
Bảng 2. Thực hành của ĐD/HS về phổ biến đầy đủ quyền lợi người bệnh
TT Chỉ tiêu
Thực hành ĐD/HS
Số lượng
(n = 66)
Tỷ lệ 
%
1 Phổ biến quyền của NB được khám và chăm sóc theo bệnh lý. 11 16,6
2 Phổ biến quyền của NB được phục vụ ăn uống theo chế độ bệnh lý. 10 15,1
3
Phổ biến NB được sử dụng dụng cụ sinh hoạt của bệnh viện (quần áo, chăn màn, 
chiếu) theo qui định
46 69,7
4 Phổ biến NB thay đổi hàng ngày/theo lịch. 57 86,3
5 Giải thích về tình trạng bệnh tật 21 31,8
6 Công khai thuốc được sử dụng 40 60,6
SỐ 41 - Tháng 11+12/2017
Website: yhoccongdong.vn 5
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Điều dưỡng thường xuyên thực hiện đầy đủ về phổ biến 
quyền lợi người bệnh nhiều nhất là chỉ tiêu phổ biến NB 
được thay váy áo, ga gối đổi hàng ngày và theo lịch với 
86,3%, phổ biến quyền của NB được khám và chăm sóc 
theo bệnh lý và phổ biến quyền của NB được phục vụ ăn 
uống theo chế độ bệnh lý chiếm tỷ lệ thấp nhất với 15,1%.
Bảng 3. Phản ánh người bệnh về phổ biến đầy đủ quyền lợi bản thân
TT Chỉ tiêu Số lượng Tỷ lệ
1
Được bác sĩ khám bệnh hàng ngày và khi có bất thường, theo dõi nhiệt độ ít nhất 
hai lần/ ngày và theo chỉ định,
133 66,5
2 Vệ sinh âm hộ 3 lần/ngày, làm tại chỗ cho người bệnh nặng/chăm sóc cấp I, 185 92,5
3 Trẻ sơ sinh được tắm buổi sáng hàng ngày/ đón, trả tại phòng bệnh, 183 91,5
4 Được tư vấn, hướng dẫn chế độ ăn uống khi có bệnh lý, 55 27,5
5 Được phục vụ nước uống tại khoa, 141 70,5
6 Mỗi người bệnh được mượn một bộ chăn, màn, ga (chiếu), gối, váy áo, 140 70,0
7 Mỗi trẻ sơ sinh nằm với mẹ được mượn cơ số tã áo cố định theo quy định của từng khoa, 140 70,0
8 Thay váy áo buổi sáng hàng ngày tại giường/khi bị bẩn 185 92,5
9
Thuốc được công khai và thực hiện hàng ngày theo giờThuốc được công khai và 
thực hiện hàng ngày theo giờ. 
143 71,5
10 Thuốc uống cho từng người bệnh tại giường, 160 80
11
 NB và gia đình người bệnh được góp ý kiến xây dựng về tinh thần trách nhiệm, 
thái độ phục vụ của các thành viên trong bệnh viện,
70 35
12 Người nhà và gia đình được đến thăm người bệnh theo giờ quy định 141 70,5
THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ 14 7,0
TT Chỉ tiêu
Thực hành ĐD/HS
Số lượng
(n = 66)
Tỷ lệ 
%
7 Giải thích về cách sinh hoạt, nghỉ ngơi 37 56,0
8
Hướng dẫn NB và gia đình NB được góp ý kiến xây dựng về tinh thần trách 
nhiệm, thái độ phục vụ của các thành viên trong bệnh viện.
16 24,2
9 ĐD, HS hướng dẫn người nhà NB vào thăm 46 69,7
THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ 14 21,2
Vệ sinh âm hộ 3 lần/ngày, làm tại chỗ cho người bệnh 
nặng/chăm sóc cấp I, trẻ sơ sinh được tắm buổi sáng hàng 
ngày/ đón, trả tại phòng bệnh và thay váy áo buổi sáng 
hàng ngày tại giường và khi bị bẩn chiếm trên 90%. Trong 
khi đó chỉ tiêu được tư vấn, hướng dẫn chế độ ăn uống khi 
có bệnh lý chỉ có 27,5%.
Bảng 4. ĐD/HS phổ biến đầy đủ nghĩa vụ người bệnh
TT Chỉ tiêu
Thực hành ĐD/HS
Phản hồi 
người bệnh
Số lượng
(n = 66)
Tỷ lệ %
Số lượng
(n = 200)
Tỷ lệ %
1 Phổ biến thực hiện đầy đủ y lệnh thầy thuốc: loại thuốc, 
liều lượng, thời gian dùng.
33 50,0 88 44,0
SỐ 41 - Tháng 11+12/2017
Website: yhoccongdong.vn6
2017JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE
TT Chỉ tiêu
Thực hành ĐD/HS
Phản hồi 
người bệnh
Số lượng
(n = 66)
Tỷ lệ %
Số lượng
(n = 200)
Tỷ lệ %
2 Hướng dẫn đầy đủ và yêu cầu bệnh nhân thực hiện nội 
quy bệnh viện 
39 59,0 115 57,5
3 Hướng dẫn và yêu cầu NB thực hiện thanh toán viện phí 
và thủ tục hành chính nhập viện/ra viện
24 36,3 59 29,5
4 Khuyến khích NB giúp đỡ lẫn nhau 6 9,0 31 15,5
THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ 0 0 15 7,5
Chỉ tiêu ĐD/HS có hướng dẫn đầy đủ và yêu cầu bệnh 
nhân thực hiện nội quy bệnh viện với tỷ lệ đạt tỷ lệ cao 
nhất là 59%, tỷ lệ thấp nhất là chỉ tiêu khuyến khích NB 
giúp đỡ lẫn nhau tỷ lệ đầy đủ là 9,8%. 
Bảng 5. Tư vấn đầy đủ về phòng và nâng cao sức khỏe cho NB
TT Chỉ tiêu
Thực hành ĐD/NHS Phản hồi người bệnh
Số lượng
(n = 66)
Tỷ lệ %
Số lượng
(n = 200)
Tỷ lệ %
1 Hướng dẫn chế độ ăn uống 40 60,6 107 53,5
2 Hướng dẫn chế độ vận động, sinh hoạt, nghỉ ngơi 36 54,5 89 44,5
3 Hướng dẫn chế độ vệ sinh, vệ sinh phụ nữ 41 62,1 103 51,5
THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ 28 42,4 82 41
Bảng 6. Hướng dẫn đối với các sản phụ sau đẻ
TT Chỉ tiêu
Thực hành ĐD/HS
Phản hồi 
người bệnh
Số lượng
(n = 66)
Tỷ lệ %
Số lượng
(n = 200)
Tỷ lệ %
1 Hướng dẫn cách nuôi con bằng sữa mẹ 45 68,1 132 66
2 Hướng dẫn chăm sóc sơ sinh 32 48,4 66 33
3 Hướng dẫn theo dõi dấu hiệu bất thường 35 53 91 45,5
4 Giải đáp thắc mắc 41 62,1 121 60,5
5 Hướng dẫn người bệnh báo bác sỹ khi có điều bất thường 38 57,5 114 59,3
THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ 18 27,2 55 27,5
Các nội dung nâng cao sức khỏe đều chiếm đa số 
khi đánh giá ở ĐD/HS và người bệnh phản ánh. Mặc 
dù vậy kết quả đánh giá đầy đủ chỉ có hơn 40% số 
trường hợp được tư vấn đầy đủ về các nội dung nâng 
cao sức khỏe khi đánh giá ĐD/HS và phản ánh từ 
người bệnh.
Chỉ số hướng dẫn cách nuôi con bằng sữa mẹ chiếm 
tỷ lệ cao nhất với (đánh giá ĐD/HS là 68,1%; phản ánh 
ở BN là 66%), chỉ số hướng dẫn chăm sóc sơ sinh chiếm 
tỷ lệ thấp nhất (đánh giá ĐD/HS là 48,4% và phản ánh ở 
NB là 33%).
SỐ 41 - Tháng 11+12/2017
Website: yhoccongdong.vn 7
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Biểu 1.Tỷ lệ đánh giá đạt thực hành đi buồng ở ĐD/HS
Tỷ lệ đạt về thực hành với việc thực hiện trên 80% 
tổng điểm đi buồng cho thấy đánh giá ĐD/HS là 72,7%, 
thấp hơn sự phản hồi từ người bệnh với 77,7%.
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi cao hơn về ĐD/HS chào 
hỏi người bệnh so với Phạm Thị Xuyến trong đó có 17% 
ĐDV không chào hỏi NB [2]. Nghiên cứu của chúng 
tôi cao hơn Đỗ Mạnh Hùng người nhà NB phản ánh về 
ĐDV có các hành vi, cử chỉ: Chào, mời ngồi hỏi tên 
người bệnh nhi chiếm ¾ số NB, giới thiệu tên và nêu lý 
do chiếm tỷ lệ thấp với 1/3 số NB, chú ý đến tâm trạng 
của người nhà người bệnh chiếm hơn 67% [3]. So sánh 
Nguyễn Thị Linh (2006) chủ động chào hỏi, tiếp đón vui 
vẻ niềm nở có 74%, sử dụng cụm từ “xin mời, làm ơn, 
xin lỗi, cảm ơn” có 64,6%, nói trống không khi giao tiếp 
13,6%, nhân viên giới thiệu về mình có 46,2%[4].
Về hướng dẫn nội quy của chúng tôi thấp hơn Hà Thị 
Soạn và cộng sự năm 2007 tại Phú Thọ có 89% hài lòng 
về hướng dẫn nội quy bệnh viện [5]. Nguyễn Thị Hạ và 
cộng sự cho thấy việc giải thích các thủ tục hành chính, 
nội quy bệnh viện,.. cho NB có 89,2% có giải thích, 
10,4% không giải thích [6]. Theo Hà Kim Phượng kỹ 
năng giao tiếp của ĐD với BN, việc giải thích khi làm 
các thủ tục hành chính và nội quy BV có 95%, không 
giải thích 5% [7].
* ĐD/HS thực hành về phổ biến đầy đủ quyền lợi 
người bệnh
Về quyền lợi của khách hàng theo Đỗ Mạnh Hùng 
tại Bệnh viện Nhi Trung ương ĐDV nhận thức về quyền 
lợi của khách hàng có 82,7% cho rằng khách hàng (BN) 
được quyền biết về bệnh của mình, 78,5% cho rằng khách 
hàng có quyền được giải thích, lựa chọn, các kỹ thuật 
chăm sóc [3].
Về phổ biến NB được sử dụng dụng cụ sinh hoạt 
của bệnh viện (quần áo, chăn màn, chiếu) theo qui định, 
nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn của Phạm Thị Xuyến 
với tỷ lệ ĐD đi buồng hướng dẫn thủ tục mượn tư trang 
của bệnh viện chiếm 80%, Thủ tục trả đồ tư trang bệnh 
viện 94,7% [2].
ĐD/HS giải thích tình trạng bệnh tật, trong nghiên 
cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu ĐDV của 
Hà Kim Phượng tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định, 
trong đó giải thích bệnh tật và hướng điều trị 19% [7]. 
Mặc dù vậy nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn Hà Thị 
Soạn và cộng sự năm 2007 tại Phú Thọ cho thấy trong 
quá trình nằm điều trị tại Bệnh viện 90% người bệnh và 
người nhà người bệnh hài lòng với sự thăm khám và giải 
thích về bệnh tật của thầy thuốc, sự chăm sóc của điều 
dưỡng [5].
Công khai sử dụng thuốc trong nghiên cứu của chúng 
tôi thấp hơn so với Trần Thị Kim Liên và cộng sự - Bệnh 
viện Tim Hà Nội (2010) cho thấy tỷ lệ công khai thuốc, 
vật tư sử dụng hàng ngày 82,3% [8]. 
Nghiên cứu tại BV Việt Đức năm 2009 trên đối tượng 
là NB [cho thấy việc không có sự công khai, hướng dẫn 
sử dụng thuốc là 3,9%; hiện tượng giới thiệu mua thuốc 
ngoài nhà thuốc bệnh viện là 1,2% [9]. Tỷ lệ nghiên cứu 
của chúng tôi thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Hoàng 
Tiến Thắng và cộng sự tại Bệnh viện Đa khoa Sơn Tây 
Năm 2010, có 97% bệnh nhân phản ánh cán bộ có sự công 
khai thuốc, vật tư y tế khi khám và điều trị [10].
Giải thích về cách sinh hoạt, nghỉ ngơi trong nghiên 
cứu của chúng tôi cao hơn của Phạm Thị Xuyến tại Bệnh 
viện đa khoa Hà Đông, trong đó 52% ĐD/HS hướng dẫn 
NB về cách nghỉ ngơi, luyện tập vận động phù hợp với 
sức khỏe; có 61,3% ĐD thực hiện giải thích cho NB về 
bệnh về tự chăm sóc; 64,7% ĐD hướng dẫn NB về cách 
ăn uống phù hợp với SK; 29,3% ĐD hướng dẫn NB cách 
vệ sinh cá nhân và 54% ĐD hướng dẫn NB cách phát hiện 
diễn biến và sự cố bất thường báo cáo Bộ Y tế [2].
Để bệnh viện đạt chất lượng tốt thì việc tiếp nhận 
thường xuyên những ý kiến góp ý, phản hồi là rất cần 
thiết. Theo Đỗ Mạnh Hùng thì góp ý đóng vai trò quan 
trọng trong việc thay đổi thái độ, đạo đức phục vụ của 
ĐDV [3]. Mặc dù vậy, tỷ lệ trong nghiên cứu về hướng 
dẫn NB góp ý còn thấp, do đó Bệnh viện Phụ sản Hà Nội 
cần đẩy mạnh công tác hướng dẫn, khuyến khích bệnh 
nhân góp ý.
* Phản ánh người bệnh về phổ biến đầy đủ quyền 
lợi bản thân
Theo Phạm Thị Xuyến tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông 
năm 2015 cho thấy 51,3% ĐD thông tin quyền được khám 
chữa bệnh có chất lượng phù hợp với điều kiện thực tế [2]. 
Bảng 6. Hướng dẫn đối với các sản phụ sau đẻ 
TT Chỉ tiêu 
Thực hành 
ĐD/HS 
Phản hồi 
người bệnh 
Số lượng 
(n = 66) 
Tỷ lệ 
% 
Số lượng 
(n = 200) 
Tỷ lệ 
% 
1. 
Hướng dẫn cách nuôi con bằng sữa 
mẹ 
45 68,1 132 66 
2. Hướng dẫn chăm sóc sơ sinh 32 48,4 66 33 
3. 
Hướng dẫn theo dõi dấu hiệu bất 
thường 
35 53 91 45,5 
4. Giải đáp thắc mắc 41 62,1 121 60,5 
5. 
Hướng dẫn người bệnh báo bác sỹ 
khi có điều bất thường 
38 57,5 114 59,3 
 THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ 18 27,2 55 27,5 
Chỉ số hướng dẫn cách nuôi con bằng sữa mẹ chiếm tỷ lệ cao nhất với (đánh giá 
ĐD/HS là 68,1%; phản ánh ở BN là 66%), chỉ số hướng dẫn chăm sóc sơ sinh chiếm 
tỷ lệ thấp nhất (đánh giá ĐD/HS là 48,4% và phản ánh ở BN là 33%). 
Biểu 1.Tỷ lệ đánh giá đạt thực hành đi buồng ở ĐD/HS 
Tỷ lệ đạt về thực hành với việc thực hiện trên 80% tổng điểm đi buồng cho thấy 
đánh giá ĐD/HS là 72,7%, thấp hơn sự phản hồi từ bệnh nhân với 77,7%. 
BÀN LUẬN 
 Nghiên cứu của chúng tôi cao hơn về ĐD/HS chào hỏi người bệnh so với Phạm 
Thị Xuyến trong đó có 17% ĐDV không chào hỏi NB [2]. Nghiên cứu của chúng tôi 
cao hơn Đỗ Mạnh Hùng người nhà BN phản ánh về ĐDV có các hành vi, cử chỉ: 
Chào, mời ngồi hỏi tên người bệnh nhi chiếm ¾ số bệnh nhân, giới thiệu tên và nêu lý 
do chiếm tỷ lệ thấp với 1/3 số BN, chú ý đến tâm trạng của người nhà người bệnh 
72,73 
77,75 
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
Đánh giái ĐD/NHS (n=66) Phản hồi của bệnh nhân (n=200) 
SỐ 41 - Tháng 11+12/2017
Website: yhoccongdong.vn8
2017JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE
1. Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, “Qui định đi buồng thường qui của ĐD, HS, Quyết định số: 1258 QĐ/PS-TCCB, ngày 
03/11/2016 của Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội về việc ban hành bộ tài liệu ‘Quy định công tác Điều dưỡng’. tr. 
59-61.” 2016.
2. Phạm Thị Xuyến, “Thực trạng công tác đi buồng thường quy của điều dưỡng viên tại Bệnh viện đa khoa Hà 
Đông,” Luận văn Thạc sỹ quản lý bệnh viện, Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội, 2015.
3. Đỗ Mạnh Hùng, “Nghiên cứu thực trạng nhận thức, thực hành y đức của điều dưỡng viên tại Bệnh viện Nhi Trung 
ương và kết quả một số biện pháp can thiệp - Luận án Tiến sỹ Y tế công cộng,” 2013.
4. Nguyễn Thị Linh, “Đánh giá kỹ năng giao tiếp trong điều trị, chăm sóc, phục vụ người bệnh tại Bệnh viện tỉnh 
Ninh Thuận năm 2006,” Hội nghị khoa học Điều dưỡng toàn quốc lần thứ III, pp. 176–180, 2007.
5. Hà Thị Soạn, “Đánh giá sự hài lòng của người bệnh và người nhà người bệnh đối với công tác khám chữa bệnh tại 
một số Bệnh viện tỉnh Phú Thọ năm 2006-2007,” Hội nghị khoa học Điều dưỡng toàn quốc lần thứ III, pp. 17–23, 2007.
6. Nguyễn Thị Hạ và cộng sự, “ăng cường biện pháp nâng cao kỹ năng giao tiếp cho Điều dưỡng tại các Bệnh viện 
ngành Y tế Bắc Giang,” Điều dưỡng toàn quốc lần thứ III, pp. 31–39, 2007.
Theo Đỗ Mạnh Hùng tại bệnh viện Nhi Trung ương tỷ lệ 
ĐD cung cấp thông tin đầy đủ về các dịch vụ điều trị tại 
BV theo mức độ rất thường xuyên 22,4%, thường xuyên 
64%, thỉnh thoảng 13,1% [3].
Có thể nói quyền được biết thông tin các dịch vụ 
đóng vai trò quan trọng và đã được công nhận. Năm 
2000, Hội đồng Y đa khoa đưa ra các Hướng dẫn về bảo 
mật và cung cấp thông tin. Theo văn bản này thì bác sỹ 
cần cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến bệnh tật 
của chính NB, trên cơ sở đó họ có quyền lựa chọn các 
giải pháp chẩn đoán và điều trị phù hợp với họ “Bệnh 
nhân có quyền được biết thông tin về các dịch vụ chăm 
sóc y tế dành cho họ, các thông tin cần được diễn tả một 
cách dẽ hiểu”, “Người bệnh cũng có quyền được biết 
thông tin về tình trạng bệnh tật đang làm họ đau đớn” 
[11], [12]. 
* ĐD/HS phổ biến đầy đủ nghĩa vụ người bệnh
So sánh Hoàng Tiến Thắng và cộng sự tại Bệnh viện Đa 
khoa Sơn Tây năm 2010 cho thấy ĐD hướng dẫn quyền và 
nghĩa vụ của người bệnh khi nằm viện đều chiếm 93% [17]. 
Theo Phạm Thị Xuyến ĐD phổ biến chấp hành các qui định 
trong khám, chữa bệnh chiếm 69,3%, ĐD phổ biến thông 
tin chi trả kinh phí trong khám, chữa bệnh chiếm 70% [2]
* Tư vấn đầy đủ về phòng và nâng cao sức khỏe cho NB
ĐD/HS thực hiện tư vấn phòng và nâng cao sức khỏe 
cho NB đóng vai trò quan trọng và là một chức năng 
không thể thiếu của ĐD [3], [13]. Việc tư vấn giúp cho 
người bệnh có thể tự chủ động chăm sóc sức khỏe bản 
thân qua các chế độ vệ sinh, sinh hoạt, nghỉ ngơi. 
So sánh Phạm Thị Xuyến tại BVĐK Hà Đông thì 
61,3% ĐDV giải thích cho NB về bệnh và cách tự chăm 
sóc; 64,7% ĐD Hướng dẫn NB về cách ăn uống phù 
hợp với sức khỏe; 52% ĐD hướng dẫn NB về cách 
nghỉ ngơi, luyện tập vận động phù hợp với sức khỏe; 
29,3% ĐD hướng dẫn NB cách vệ sinh cá nhân; 54% 
ĐD hướng dẫn NB cách phát hiện diễn biến và sự cố 
bất thường [2]. So sánh nghiên cứu Hà Kim Phượng 
tại BV Tâm thần tỉnh Nam Định ĐD hướng dẫn chế độ 
ăn uống 83,4% [7]
Tuy vậy, cũng cần lưu ý, ở mỗi đối tượng bệnh nhân 
khác nhau, mỗi bệnh viện khác nhau thì nội dung nâng 
cao sức khỏe là hoàn toàn khác nhau. 
* Hướng dẫn đối với các sản phụ sau đẻ
Đây là những nội dung quan trọng giúp các bà mẹ sau 
sinh có thể chăm sóc bản thân và trẻ sơ sinh. Nghiên cứu 
cho thấy bệnh viện cần đẩy mạnh hơn nữa việc hướng dẫn 
các bà mẹ sau sinh việc nuôi con.
V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Đánh giá chung về đạt trên 80% số điểm có 72,73% 
điều dưỡng viên đạt và 77,75% theo sự phản hồi từ người 
bệnh. Tỷ lệ thực hiện đầy đủ các nội dung đi buồng ở điều 
dưỡng viên còn thấp.
Vì mỗi người bệnh có những nhu cầu tư vấn, cung cấp 
thông tin là khác nhau, do vậy bệnh viện cần hoàn thiện 
tiêu chuẩn đánh giá đi buồng thường quy đối với từng loại 
bệnh hoặc dịch vụ sinh nở cụ thể.
Bệnh viện cần tổ chức tập huấn thường xuyên cho ĐD/
HS tham gia đi buồng. Cần có các biện pháp tăng cường 
công tác giám sát hỗ trợ trong quá trình đi buồng ở ĐD/
NHS qua đó hướng dẫn và cải thiện công tác đi buồng đạt 
hiệu quả.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

File đính kèm:

  • pdfthuc_hanh_di_buong_thuong_quy_o_dieu_duong_vien_tai_benh_vie.pdf