Thông báo trường hợp phẫu thuật lấy huyết khối động mạch phổi cấp tính trên bệnh nhân đa chấn thương tại Bệnh viện Việt Đức
Thuyên tắc động mạch phổi là bệnh lý
phổi gây tử vong cao nhất và là nguyên nhân
đứng thứ ba gây tử vong ở bệnh viện. Tỉ lệ tử
vong có thể tới 65% nếu chẩn đoán muộn ở
giai đoạn có trụy tim mạch. Đã có một số báo
cáo trong nƣớc về điều trị nội – ngoại khoa
thuyên tắc động mạch phổi trong môi trƣờng
ngoại khoa, song chƣa có báo cáo nào về điều
trị thuyên tắc động mạch phổi trên bệnh nhân
đa chấn thƣơng. Chúng tôi thông báo một
trƣờng hợp bệnh nhân nữ 65 tuổi, bị TTĐMP
cấp trên bệnh nhân đa chấn thƣơng đã đƣợc
phẫu thuật thành công tại khoa Tim mạch và
lồng ngực, bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, vào
tháng 09/2016, nhằm rút ra nhận xét ban đầu
về loại thƣơng tổn nguy hiểm này và nhìn lại
y văn
Bạn đang xem tài liệu "Thông báo trường hợp phẫu thuật lấy huyết khối động mạch phổi cấp tính trên bệnh nhân đa chấn thương tại Bệnh viện Việt Đức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Thông báo trường hợp phẫu thuật lấy huyết khối động mạch phổi cấp tính trên bệnh nhân đa chấn thương tại Bệnh viện Việt Đức
THÔNG BÁO TRƢỜNG HỢP PHẪU THUẬT LẤY HUYẾT KHỐI ĐỘNG MẠCH PHỔI CẤP TÍNH TRÊN BỆNH NHÂN... 29 THÔNG BÁO TRƢỜNG HỢP PHẪU THUẬT LẤY HUYẾT KHỐI ĐỘNG MẠCH PHỔI CẤP TÍNH TRÊN BỆNH NHÂN ĐA CHẤN THƢƠNG TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC Nguyễn Hữu Ước*, Phùng Duy Hồng Sơn* TÓM TẮT Thuyên tắc động mạch phổi là bệnh lý phổi gây tử vong cao nhất và là nguyên nhân đứng thứ ba gây tử vong ở bệnh viện. Tỉ lệ tử vong có thể tới 65% nếu chẩn đoán muộn ở giai đoạn có trụy tim mạch. Đã có một số báo cáo trong nƣớc về điều trị nội – ngoại khoa thuyên tắc động mạch phổi trong môi trƣờng ngoại khoa, song chƣa có báo cáo nào về điều trị thuyên tắc động mạch phổi trên bệnh nhân đa chấn thƣơng. Chúng tôi thông báo một trƣờng hợp bệnh nhân nữ 65 tuổi, bị TTĐMP cấp trên bệnh nhân đa chấn thƣơng đã đƣợc phẫu thuật thành công tại khoa Tim mạch và lồng ngực, bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, vào tháng 09/2016, nhằm rút ra nhận xét ban đầu về loại thƣơng tổn nguy hiểm này và nhìn lại y văn. SUMMARY: Pulmonary embolism (PE) is the most lethal pulmonary disorder, with high mortality if late diagnosis in severe type (65%) with cardiac shock. There ware some national reseaches about this complication, but not yet report about acute PE in multi-trauma patient. We report a case of 65- year-old woman with multi-trauma, who underwent success emergency surgical embolectomy from bilateral pulmonary arteries in department of cardiovascular and thoracic surgery, Viet Duc university hospital and analysis literatures. Từ khóa: Thuyên tắc động mạch phổi, huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới, lấy huyết khối, PE, pulmonary embolectomy. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Thuyên tắc động mạch phổi (TTĐMP) là bệnh lý phổi gây tử vong cao nhất và là nguyên nhân đứng thứ ba gây tử vong ở bệnh viện [1,2]. Tỉ lệ tử vong tại bệnh viện đối với bệnh nhân TTĐMP có huyết động ổn định là 8,1%, ở bệnh nhân có trụy tim mạch là 25% và ở bệnh nhân phải ép tim là 65% [3]. TTĐMP cấp tính trong môi trƣờng ngoại khoa chủ yếu do di chuyển huyết khối từ tĩnh mạch sâu chi dƣới [1,4]. Do các triệu chứng và biểu hiện bệnh không điển hình nên rất khó chẩn đoán và thƣờng bị nhầm với các bệnh lý phổi khác hoặc bỏ sót. Chúng tôi thông báo một trƣờng TTĐMP trên bệnh nhân đa chấn thƣơng đã đƣợc phẫu thuật cấp cứu thành công tại khoa tim mạch lồng ngực bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 09/2016. * II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Mô tả trƣờng hợp lâm sàng hiếm gặp về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, xử trí, kết quả và nhìn lại y văn. * Khoa Phẫu thuật tim mạch lồng ngực, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hữu Ước Ngày nhận bài: 01/04/2018 - Ngày Cho Phép Đăng: 10/04/2018 Phản Biện Khoa học: GS.TS. Bùi Đức Phú PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 19 - THÁNG 5/2018 30 III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Bệnh nhân nữ 65 tuổi, chƣa có tiền sử bệnh lý, bị tai nạn giao thông đi bộ va chạm xe máy, với chẩn đoán khi nhập viện: chấn thƣơng gan, gãy hở hai xƣơng cẳng chân phải (Hình 1). A B C Hình 1: A- Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính chấn thương gan; B - X-quang hình ảnh gãy xương cẳng chân; C – Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính động mạch phổi. Do chấn thƣơng gan là nặng nhất, nên bệnh nhân đƣợc cho vào khoa Cấp cứu tiêu hóa theo dõi sau khi sơ cứu và làm chẩn đoán, không dùng thuốc chống đông dự phòng. Ngày thứ hai sau nhập viện xuất hiện khó thở tăng, đau ngực, hội chẩn chuyên khoa tim mạch chỉ định chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MSCT) ngực có cản quang. Trên phim MSCT (hình 1C), có hình ảnh huyết khối động mạch phổi chiếm gần hoàn toàn động mạch phổi trái, bán phần động mạch phổi phải lan sang nhánh thùy đỉnh và phân thùy sau, dịch khoang màng phổi hai bên, xẹp thụ động nhu mô phổi hai bên. Bệnh nhân đƣợc chuyển đến phòng hồi sức tích cực, thở không xâm nhập ngắt quãng, nhƣng huyết động dao động nhiều, mạch nhanh, phải dùng thuốc trợ tim dobutamin. Siêu âm Doppler mạch máu cấp cứu tại giƣờng thấy huyết khối tĩnh mạch sâu chi dƣới bên phải, nhu mô gan có ổ đụng giập, tụ máu kích thƣớc 81x90mm; xét nghiệm D-dimer tăng cao 36940. Hội chẩn đa chuyên khoa thống nhất bƣớc đầu điều trị bảo tồn, song do bệnh nhân có chấn thƣơng gan nên không thể dùng thuốc tiêu sợi huyết hay thuốc chống đông. Sau 3 giờ, tình trạng bệnh nhân chuyển biến xấu, với nhịp thở nhanh, SpO2 giảm, mạch nhanh, huyết áp động mạch tụt. Bệnh nhân đƣợc đặt nội khí quản cấp cứu và thở máy. Hội chẩn lại đa chuyên khoa và quyết định phẫu thuật tim hở cấp cứu lấy huyết khối động mạch phổi – một phƣơng pháp điều trị đã có kinh nghiệm tại bệnh viện Việt Đức. Bệnh nhân chuyển sang phòng mổ tim mạch để mổ cấp cứu với tuần hoàn ngoài cơ thể. Qui trình mổ: Mở đƣờng giữa xƣơng ức; Heparin cho liều 200 UI/kg và thử ACT duy trì đạt 300-400 c; Lắp tuần hoàn ngoài cơ thể qua canuyn động mạch chủ, tĩnh mạch chủ trên và dƣới; Chạy tuần hoàn ngoài cơ thể toàn bộ, thắt tĩnh mạch chủ trên và dƣới; Mở động mạch phổi ngay sát ngã ba, kéo dài sang động mạch phổi trái; Dùng dụng cụ Mirizy [1] lấy ra THÔNG BÁO TRƢỜNG HỢP PHẪU THUẬT LẤY HUYẾT KHỐI ĐỘNG MẠCH PHỔI CẤP TÍNH TRÊN BỆNH NHÂN... 31 nhiều huyết khối hình cây động mạch phổi trái (hình 2B); Mở động mạch phổi phải sát tĩnh mạch chủ trên, lấy ra nhiều huyết khối; Bơm rửa làm sạch động mạch phổi hai bên bằng dung dịch nƣớc muối sinh lý ấm; Mở nhĩ phải kiểm tra không có huyết khối; Đóng nhĩ phải, đuổi khí, đóng các đƣờng mở động mạch phổi, ngừng tuần hoàn ngoài cơ thể, trung hòa protamine; Kết thúc ca mổ. Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể 30 phút, không ngừng tim trong quá trình mổ. Sau mổ, bệnh nhân đƣợc chuyển về phòng hồi sức tim mạch với huyết động ổn định, vận mạch dobutamin liều thấp, trao đổi phổi còn hạn chế. Siêu âm bụng ngay sau mổ: ổ tụ máu gan không tăng, dịch ổ bụng không tăng. X-quang phổi: hình ảnh phù kẽ phổi hai bên. Bệnh nhân đƣợc chỉ định băng chun hai chân và cho heprin từ ngày thứ 2 sau mổ. Diễn biến sau đó thuận lợi và bệnh nhân đƣợc rút nội khí quản vào ngày thứ 3 sau mổ. Sau đó 10 ngày đƣợc tiến hành mổ kết hợp xƣơng cẳng chân phải và xuất viện sau 15 ngày. Trên MSCT ngực trƣớc ra viện, các nhánh động mạch phổi không có huyết khối, phổi hai bên nở tốt. Siêu âm Doppler tim thấy chức năng tim phải bình thƣờng, áp lực động mạch phổi không cao, van ba lá hở nhẹ. A B C Ảnh 2: 2A-Sơ đồ phẫu thuật[2], 2B-Hình ảnh huyết khối từ ĐMP, 2C- Hình ảnh MSCT động mạch phổi sau mổ. IV. BÀN LUẬN 4.1. Cơ chế bệnh sinh của TTĐMP: cơ chế bệnh TTĐMP đƣợc Virchow miêu tả vào cuối thế kỷ 19; và Friedrich Trendelenburg – bác sỹ ngƣời Đức, là ngƣời đi tiên phong trong việc phẫu thuật lấy huyết khối ĐMP. Tuy nhiên tới năm 1924, học trò của ông, bác sỹ Martin Kirschner, mới thông báo ca phẫu thuật lấy huyết khối ĐMP thành công đầu tiên [4]. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến hình thành huyết khối tĩnh mạch sâu - nguyên nhân trực tiếp của TTĐMP đƣợc trình bày ở bảng 1. [5] PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 19 - THÁNG 5/2018 32 Bảng 1: Các yếu tố nguy cơ hình thành huyết khối tĩnh mạch sâu. Các yếu tố nguy cơ cao Gãy xƣơng (đùi hoặc cẳng chân). Thay khớp háng hay gối. Các phẫu thuật lớn. Chấn thƣơng nặng. Chấn thƣơng tủy sống. Các yếu tố nguy cơ vừa Phẫu thuật nội soi khớp gối. Ống đặt tĩnh mạch trung tâm. Hóa trị. Suy tim hoặc suy hô hấp mãn. Điều trị hóc môn thay thế. Ung thƣ di căn. Dùng thuốc tránh thai. Có thai, sau sinh. Bại liệt. Có tiền sử thuyên tắc mạch do huyết khối. Bệnh tăng đông máu (trombophilia). Các yếu tố nguy cơ thấp Nằm bất động trên 3 ngày. Ngồi lâu không vận động (đi tàu, xe, máy bay..) Tuổi cao. Phẫu thuật nội soi (cắt túi mật nội soi). Béo phì. Giãn tĩnh mạch. TTĐMP có ảnh hƣởng đến huyết động và có biểu hiện lâm sàng khi gây tắc trên 30%- 50% động mạch phổi [6]. Khi có TTĐMP làm tăng sức cản của ĐMP, gây giãn và suy thất phải. Cơ chế của đột tử chủ yếu của TTĐMP là do điện cơ phân ly. Trong trƣờng hợp nhẹ hơn, thƣờng bệnh nhân có triệu chứng ngất, hạ huyết áp, sốc. Với những bệnh nhân sống sót sau cơn TTĐMP cấp, hệ thần kinh giao cảm đƣợc hoạt hóa, các cơ chế nội sinh và ngoại sinh đƣợc kích thích, cơ chế Frank-Starling hoạt động làm tăng áp lực ĐMP, tăng lƣợng máu qua phổi, cùng với cơ chế co thắt mạch giúp cơ thể có thể duy trì huyết áp ổn định. Cơn mất ổn định huyết động thứ hai thƣờng xẩy ra sau khi TTĐMP 24-48 giờ, do có tái TTĐMP và /hoặc suy thất phải. Hầu hết do không phát hiện ra hoặc điều trị không hiệu quả TTĐMP. Suy thất phải có thể xẩy ra mà không có tái TTĐMP do cơ chế tự điều hòa không thể duy trì trong thời gian dài. Cơ thất phải cần lƣợng oxy lớn hơn, sự tƣới máu thất phải giảm THÔNG BÁO TRƢỜNG HỢP PHẪU THUẬT LẤY HUYẾT KHỐI ĐỘNG MẠCH PHỔI CẤP TÍNH TRÊN BỆNH NHÂN... 33 do huyết áp hệ thống giảm, sau TTĐMP phần phổi còn lại không thể đảm bảo oxy cho cơ thể, bão hòa oxy máu giảm, tất cả các yếu tố này dẫn đến suy thất phải. Ngoài ra giảm bão hòa máu, hạ huyết áp gây nên hội chứng cung lƣợng tim thấp, tăng áp lực động mạch phổi, tăng áp lực nhĩ phải gây dòng máu từ nhĩ phải sang nhĩ trái qua lổ bầu dục, tăng sự giảm bão hòa máu, tăng nguy cơ thuyên tắc đối nghịch và sốc. TTĐMP ít và ở ngoại vi không gây rối loạn huyết động, thƣờng biểu hiện của nhồi máu phổi về lâm sàng và MSCT (đau tức ngực nhẹ, sốt nhẹ, đám mờ nhỏ trên X quang và MSCT ngực). Đối chiếu với bệnh nhân trong nghiên cứu, thì lúc biểu hiện cấp tính trên lâm sàng là tƣơng đƣơng giai đoạn mất ổn định huyết động thứ hai do tái TTĐMP và suy giảm các cơ chế bù trừ. 4.2. Chẩn đoán TTĐMP: Khoảng 90% bệnh nhân TTĐMP có khó thở, đau ngực và ngất. Trong một số nghiên cứu, khó thở và đau ngực gặp ở hơn 90% bệnh nhân, cơn ngất ít gặp hơn nhƣng là dấu hiệu của TTĐMP nặng, ngoài ra bệnh nhân còn có biểu hiện của sốc, hạ huyết áp và các dấu hiệu của huyết khối tĩnh mạch sâu. Trong các phƣơng pháp cận lâm sàng cơ bản, thì X-quang ngực thẳng là phƣơng pháp thƣờng dùng nhất – thấy có bất thƣờng nhƣ xẹp phân thùy, thùy phổi, vòm hoành cao, tuy nhiên các dấu hiệu này không đặc hiệu của TTĐMP. Bão hòa oxy thƣờng giảm 20% so với ngƣời bình thƣờng. Trên điện tâm đồ có nhịp nhanh, và các dấu hiệu suy thất phải nhƣ sóng T âm ở các đạo trình V1-V4, bloc nhánh phải hoàn toàn hoặc không hoàn toàn. Tuy nhiên các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng cơ bản không cho phép khẳng định hay loại trừ TTĐMP. Để có chẩn đoán bƣớc đầu ngƣời ta đã đƣa ra các thang điểm tính chỉ số nguy cơ TTĐMP dựa trên các nguy cơ gây huyết khối tĩnh mạch sâu chi dƣới và phân ra bệnh nhân có nguy cơ thấp, vừa và cao, phổ biến nhất là bảng nguy cơ của Wells và Geneva (bảng 2) [5]. Bảng 2: Thang điểm nguy cơ TTĐMP Thang điểm Geneva Thang điểm Wells Các tiêu chí Điểm Các tiêu chí Điểm Các yếu tố nguy cơ Tuổi >65 Có tiền sử HKTMS hoặc TTĐMP Phẫu thuật hoặc gãy xƣơng trong vòng 1 tháng. Ung thƣ di căn +1 +3 +2 +2 Các yếu tố nguy cơ Có tiền sử HKTMS hoặc TTĐMP Mới phẫu thuật hoặc bất động Ung thƣ +1.5 +1.5 +1 Triệu chứng Đau chân 1 bên Ho ra máu +3 +2 Triệu chứng Ho ra máu +1 PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 19 - THÁNG 5/2018 34 Các dấu hiệu lâm sàng Nhịp tim: 75-94 lần/phút ≥ 95 lần/phút Đau khi thăm khám tĩnh mạch sâu chi dƣới hoặc phù 1 chân +3 +5 +4 Các dấu hiệu lâm sàng Nhịp tim: > 100 lần/ phút Dấu hiệu của HKTMS Chẩn đoán khác ít khả năng hơn TTĐMP +1.5 +3 +3 Khả năng TTĐMP Tổng Khả năng TTĐMP Tổng Thấp Vừa Cao 0-3 4-10 ≥11 Thấp Vừa Cao 0-1 2-6 ≥7 Thang điểm hai bậc Ít nguy cơ TTĐMP Nhiều nguy cơ TTĐMP 0-4 >4 Các phƣơng pháp cận lâm sàng chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch sâu (HKTMS): D- dimer là sản phẩm của quá trình phân hủy fibrin, nếu thử D-dimer âm tính có thể loại trừ TTĐMP ở bệnh nhân có thang điểm nguy cơ TTĐMP thấp và vừa. Doppler mạch chi dƣới hoặc chụp cắt lớp tĩnh mạch có cản quang dựng hình cho phép loại trừ HKTMS chi dƣới. Xạ hình phổi: là phƣơng pháp cho phép đánh giá tƣới máu phổi có dùng chất phóng xạ technetium (Tc)-99 m. Nếu kết quả xạ hình phổi bình thƣờng thì có thể loại trừ TTĐMP. Tuy nhiên kỹ thuật khá phức tạp, khó ứng dụng trong cấp cứu. Chụp cắt lớp vi tính động mạch phổi (ĐMP), đặc biệt là chụp MSCT ngực và ĐMP, cho phép đánh giá chính xác có hay không huyết khối trong hệ ĐMP. Đây là phƣơng pháp chẩn đoán ít xâm lấn có độ đặc hiệu cao thƣờng đƣợc sử dụng. Chụp động mạch phổi có cản quang: ngày nay ít sử dụng do đây là phƣơng pháp chẩn đoán xâm lấn, chỉ sử dụng khi các phƣơng pháp khác không loại trừ đƣợc TTĐMP. Siêu âm Doppler tim: cho phép đánh giá các dấu hiệu gián tiếp của TTĐMP nhƣ hở van ba lá, suy thất phải (giãn thất phải, giảm vận động thành thất phải, tăng tỉ lệ đƣờng kính thất phải/ thất trái). Bệnh nhân nghiên cứu có bệnh cảnh điển hình của TTĐMP cấp với các yếu tố nguy cơ nhƣ: sau đa chấn thƣơng, có chấn thƣơng chi, nằm bất động, khó thở, đau ngực. Các thăm khám sâu hơn cận lâm sàng nhƣ xét nghiệm D- dimer, siêu âm tĩnh mạch chi dƣới, siêu âm tim và đặc biêt là chụp MSCT động mạch phổi cho phép chẩn đoán chính xác TTĐMP ở bệnh nhân này. 4.3. Điều trị TTĐMP: Kết quả điều trị TTĐMP phụ thuộc nhiều vào bệnh cảnh lâm sàng của bệnh nhân. Để có phác đồ điều trị thích hợp, Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ phân TTĐMP thành ba nhóm: TTĐMP nhiều, vừa và ít, đặc điểm của các nhóm đƣợc trình bày ở bảng 3 [7]. THÔNG BÁO TRƢỜNG HỢP PHẪU THUẬT LẤY HUYẾT KHỐI ĐỘNG MẠCH PHỔI CẤP TÍNH TRÊN BỆNH NHÂN... 35 Bảng 3: Phân loại TTĐMP theo Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ TTĐMP nhiều TTĐMP cấp có hạ huyết áp (huyết áp tâm trƣơng ≤ 90 mm Hg trong ít nhất 15 phút hoặc cần thuốc vận mạch hỗ trợ mà không do lý do khác), nhịp nhanh hoặc chậm hơn 40 lần phút với dấu hiệu sốc. TTĐMP vừa TTĐMP cấp không có hạ huyết áp (huyết áp tâm trƣơng ≥ 90 mm Hg) với dấu hiệu suy tim phải hoặc nhồi máu cơ tim. TTĐMP ít TTĐMP cấp có huyết áp bình thƣờng, không có dấu hiệu suy tim phải hoặc nhồi máu cơ tim. Điều trị TTĐMP phải kết hợp nhiều phƣơng pháp. Ngay sau khi có chẩn đoán TTĐMP, bệnh nhân cần đƣợc chỉ định dùng thuốc chống đông ngay, thƣờng là heparin hoặc heparin trọng lƣợng phân tử thấp (Lovenox). Bƣớc tiếp theo cần xác định phƣơng pháp xử lý huyết khối ĐMP. Theo các khuyến cáo hiện nay nếu không có chống chỉ định, đối với TTĐMP nhiều và vừa phƣơng pháp lựa chọn đầu tiên là dùng thuốc tiêu sợi huyết (streptokinase, urokinase) [3],[5],[7], các kết quả nghiên cứu cho thấy thuốc tiêu sợi huyết cho kết quả tốt nhƣ hạ áp lực ĐMP, tăng bão hòa oxy [8],[9],[10]. Trong trƣờng hợp có chống chỉ định dùng thuốc tiêu sợi huyết và không thể tiến hành phẫu thuật lấy huyết khối, có thể can thiệp qua da điều trị TTĐMP với ba phƣơng pháp chính bao gồm: hút huyết khối, đánh nhỏ huyết khối, đánh nhỏ và hút huyết khối. Kết quả điều trị theo phƣơng pháp này cũng khá khả quan, tuy nhiên cần các dụng cụ chuyên dụng và tốn kém [9]. Phẫu thuật lấy huyết khối có sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể là phƣơng pháp đƣợc lựa chọn khi có chống chỉ định với thuốc tiêu sợi huyết, đặc biệt đối với bệnh nhân có huyết khối nhĩ phải hoặc thuyên tắc đối nghịch. Những nghiên cứu trƣớc đây cho tỉ lệ tử vong từ 20-30% sau mổ lấy huyết khối ĐMP [11], tuy nhiên cùng với sự tiến bộ của phẫu thuật tim mạch ngày nay tỉ lệ này giảm đáng kể (4%) [12]. Trên bệnh nhân nghiên cứu, các triệu chứng bệnh tƣơng ứng với loại TTĐMP nhiều, bệnh nhân có chống chỉ định dùng thuốc tiêu sợi huyết do chấn thƣơng gan, vì vậy có chỉ định phẫu thuật lấy huyết khối với tuần hoàn ngoài cơ thể. Nghiên cứu y văn, chúng tôi thấy có nhiều kỹ thuật lấy huyết khối ĐMP, tuy nhiên các thông báo mới nhất thiên về kỹ thuật không ngừng tim [1], đây là kỹ thuật có tỉ lệ biến chứng và tử vong thấp, và chúng tôi đã áp dụng phƣơng pháp này. Bệnh nhân này có chấn thƣơng gan nên vấn đề dùng heparin liều cao trong phẫu thuật đƣợc cân nhắc, chúng tôi dung liều 200UI/kg sau đó thử ACT và tiếp tục dò liều, thay vì dùng liều 300UI/kg nhƣ mổ tim hở thƣờng quy. Sau phẫu thuật việc xét đặt lọc tĩnh mạch chủ dƣới (inferior cava filter) cũng đƣợc cân nhắc, kết quả siêu âm mạch cho thấy chỉ có huyết khối ở tĩnh mạch khoeo trở xuống và tình trạng chấn thƣơng gan ổn định, không chảy máu tăng, sau mổ bệnh nhân dùng heparin trọng lƣợng phân tử thấp và sau đó là thuốc kháng Xa (xarento), đeo tất chun nhƣ điều trị HKTMS nên không có chỉ định đặt lọc tĩnh mạch chủ dƣới. V. KẾT LUẬN TTĐMP là bệnh khó chẩn đoán trong bệnh cảnh đa chấn thƣơng, có tỉ lệ tử vong cao, đối PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 19 - THÁNG 5/2018 36 với trƣờng hợp TTĐMP nhiều và vừa thì phẫu thuật lấy huyết khối ĐMP có tuần hoàn ngoài cơ thể không ngừng tim là phƣơng pháp an toàn, cho kết quả tốt. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Hữu Ƣớc, Phùng Duy Hồng Sơn, Nguyễn Ngọc Thọ,(2017) Phẫu thuật điều trị thuyên tắc động mạch phổi cấp tính kết quả lâu dài từ 2 ca phẫu thuật tại Bệnh viện Việt Đức, Y học thực hành (1049), số 6/2017, trang 131-135. 2. Hui D.S, Mcfadden P.M, (2013) Contemporary Surgical Management of Acute Massive Pulmonary Embolism, in Principles and Practice of Cardiothoracic Surgery, M. Firstenberg, pp. 395-412. 3. Konstantinides S. Kasper W, Et Al. (1997), "Management strategies and determinants of outcome in acute major pulmonary embolism: results of a multicenter registry", J Am Coll Cardiology, 30(5), pp. 1165-1171. 4. Ochsner J.L, Mcfadden P.M, (2002), "A history of the diagnosis and treatment of venous thrombosis and pulmonary embolism", Ochsner J, 4(1), pp. 9-13. 5. Perrier A, Chairperson A.T, Et Al (2008), "Guidelines on the diagnosis and management of acute pulmonary embolism. The Task Force for the Diagnosis and Management of Acute Pulmonary Embolism of the European Society of Cardiology", European Heart Journal, 29, pp. 2276–2315. 6. Sasahara A, Mcintyre K, (1971), "The hemodynamic response to pulmonary embolism in patients without prior cardiopulmonary disease. ", Am J Cardiol 28(3), pp. 288–294. 7. Mcmurtry M.S, Jaft R.M, Et Al, (2011), "Management of Massive and Submassive Pulmonary Embolism,Iliofemoral Deep Vein Thrombosis, and Chronic Thromboembolic Pulmonary Hypertension: A Scientific Statement From the American Heart Association", Circulation, 123, pp.1788-1830. 8. Pioped Investigators (1990), "Tissue plasminogen activator for the treatment of acute pulmonary embolism: a collaborative study by the PIOPED Investigators", Chest, 97(3), pp. 528-533. 9. Hirsh J, Levine M, Et Al, (1990), "A randomized trial of a single bolus dosage regimen of recombinant tissue plasminogen activator in patients with acute pulmonary embolism", Chest, 98(6), pp. 1473-1479. 10. Tiede N, Konstantinides S, Et Al, (1998), "Comparison of alteplase versus heparin for resolution of major pulmonary embolism", Am J Cardiol, 82(8), pp. 966-970. 11. Tiede N, Konstantinides S, Et Al, (2007), "Outcome of pulmonary embolectomy", Am J Cardiol, 99, pp. 421-423. 12. Unic D, Leacche M, Et Al, (2005), "Modern surgical treatment of massive pulmonary embolism: results in 47 consecutive patients after rapid diagnosis and aggressive surgical approach", J Thorac Cardiovasc Surg, 129(5), pp. 1018-1023.
File đính kèm:
thong_bao_truong_hop_phau_thuat_lay_huyet_khoi_dong_mach_pho.pdf

