Thiết lập quy trình thu nhận tế bào gốc trung mô từ mô mỡ thỏ

Đặt vấn đề: Tế bào gốc trung mô từ mô mỡ ngày càng được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng nhiều

trong công nghệ mô và y học tái tạo vì những đặc điểm ưu việt và tiềm năng to lớn mà các tế bào này mang lại.

Do đó, cần phải có một quy trình hiệu quả để thu nhận các tế bào gốc trung mô từ mô mỡ này để thử nghiệm trên

các mô hình động vật trước khi triển khai ứng dụng trên người.

Mục tiêu nghiên cứu: Thiết lập quy trình thu nhận và định danh tế bào gốc trung mô từ mô mỡ thỏ dùng

để thử nghiệm trên các mô hình động vật

pdf 8 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Thiết lập quy trình thu nhận tế bào gốc trung mô từ mô mỡ thỏ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thiết lập quy trình thu nhận tế bào gốc trung mô từ mô mỡ thỏ

Thiết lập quy trình thu nhận tế bào gốc trung mô từ mô mỡ thỏ
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 163 
THIẾT LẬP QUY TRÌNH THU NHẬN TẾ BÀO GỐC TRUNG MÔ TỪ MÔ MỠ THỎ 
Đặng Trần Quân1, Phan Thành Tiến2, Đặng Thị Hà Thanh2, Nguyễn Quốc Dũng2, Huỳnh Duy Thảo3, 
Hoàng KC Hương3, Nguyễn Khánh Hòa3, Nguyễn Thanh Bình3, Trần Thị Thanh Loan1, 
Nguyễn Xuân Hoàng4, Lê Chí Linh5, Trần Công Toại2,3 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Tế bào gốc trung mô từ mô mỡ ngày càng được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng nhiều 
trong công nghệ mô và y học tái tạo vì những đặc điểm ưu việt và tiềm năng to lớn mà các tế bào này mang lại. 
Do đó, cần phải có một quy trình hiệu quả để thu nhận các tế bào gốc trung mô từ mô mỡ này để thử nghiệm trên 
các mô hình động vật trước khi triển khai ứng dụng trên người. 
Mục tiêu nghiên cứu: Thiết lập quy trình thu nhận và định danh tế bào gốc trung mô từ mô mỡ thỏ dùng 
để thử nghiệm trên các mô hình động vật. 
Phương pháp nghiên cứu: Thí nghiệm thực nghiệm mô tả. Mô mỡ thỏ được thu nhận trong điều kiện vô 
trùng và phân lập tế bào gốc trung mô bằng hỗn hợp enzyme collagenase-dispase. Tế bào sau thu nhận được nuôi 
trong môi trường nuôi cơ bản. Định danh xác định tế bào gốc trung mô dựa vào khả năng bám dính trên chai 
nuôi, khả năng biệt hóa và sự biểu hiện của các marker cho dòng tế bào gốc trung mô (theo tiêu chuẩn ISCT). 
Kết quả: Quần thể tế bào sau lần cấy chuyền thứ 3 được đem đi định danh tế bào gốc trung mô. Đó là các tế 
bào bám dính vào chai nuôi, có hình thái giống với nguyên bào sợi. Các tế bào này biệt hóa được thành nguyên 
bào xương, nguyên bào sụn và tế bào mỡ trong điều kiện in vitro và biểu hiện được một số marker đặc trưng cho 
tế bào gốc trung mô. 
Kết luận: Với kết quả nghiên cứu đạt được, chúng tôi đã phân lập và nuôi cấy được tế bào gốc trung mô từ 
mô mỡ thỏ theo các tiêu chuẩn quốc tế. Đây sẽ là nguồn tế bào phù hợp dùng cho các thử nghiệm trên mô hình 
động vật sau này. 
Từ khoá: tế bào gốc trung mô, mô mỡ thỏ, sự biệt hóa, marker tế bào gốc trung mô 
ABSTRACT 
ESTABLISH A PROTOCOL USED TO OBTAIN MESENCHYMAL STEM CELLS FROM RABBIT ADIPOSE TISSUE 
Đang Tran Quan, Phan Thanh Tien, Đang Thi Ha Thanh, Nguyen Quoc Dung, Huynh Duy Thao, 
Hoang KC Huong, Nguyen Khanh Hoa, Nguyen Thanh Binh, Tran Thi Thanh Loan, 
Nguyen Xuan Hoang, Le Chi Linh, Tran Cong Toai, 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 163-171 
Background: Mesenchymal stem cells from adipose tissue are increasingly interested in research and 
application in tissue technology and regenerative medicine because of their superior features and great potential 
that these cells bring. Therefore, an efficient protocol is required to obtain mesenchymal stem cells from these 
adipose tissues for testing in animal models before human application. 
1Bộ môn Mô Phôi – Giải phẫu bệnh, ĐH Y Dược TP. HCM 
2Khoa Y, Đại học Quốc Gia TP. HCM 3Bộ môn Mô Phôi – Di truyền, Trường ĐHYK Phạm Ngọc Thạch 
4Bệnh viện Quận Thủ Đức 5Bộ môn Mô Phôi, ĐH Y Dược Cần Thơ 
Tác giả liên lạc: BS. Đặng Trần Quân ĐT: 0989393399 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 164 
Objectives: Establish procedures for the acquisition and identification of mesenchymal stem cells from rabbit 
adipose tissue used for testing on animal models. 
Methods: The research method is a descriptive experiment. Rabbit adipose tissue is collected under aseptic 
conditions and isolated stem cells by a mixture of enzymes collagenase-dispase. Cells that cloned up to the third 
passage collected and identified as mesenchymal stem cells (according to ISCT criteria). The identification criteria 
for mesenchymal stem cells are on the surface adhesion of flasks, the differentiation ability, and the expression of 
mesenchymal stem cell-specific markers. 
Results: The cells of the third passages were used to identify as mesenchymal stem cells. They are classified 
as multipotent cells with mesenchymal tri-lineage differentiation capacity, plastic adherent ability, fibroblast-like 
morphology and specific markers. 
Conclusion: With the results achieved, we have isolated and cultured mesenchymal stem cells from rabbit 
adipose tissue. They will be a suitable source of cells for later animal modeling experiments. 
Keywords: mesenchymal stem cells, rabbit adipose tissue, differentiation, mesenchymal stem cell markers 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Tế bào gốc trung mô (TBGTM) là nguồn thay 
thế tế bào gốc trưởng thành tự thân, có thể thu 
nhận nhiều lần với số lượng lớn mà rất ít ảnh 
hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân. TBGTM có 
khả năng tự đổi mới với khả năng biệt hóa thành 
các tế bào thuộc dòng trung mô bao gồm nguyên 
bào xương, tế bào mỡ và tế bào sụn trong điều 
kiện in vitro và phát triển thành mô xương, mô 
mỡ và mô sụn trong in vivo. Do đó, TBGTM trở 
thành nguồn tế bào gốc ứng dụng rất quan trọng 
trong công nghệ mô và y học tái tạo. 
Việc phát hiện sự tồn tại của nguồn tế bào 
gốc trung mô trong mô mỡ đã mở ra một tiềm 
năng to lớn trong ứng dụng điều trị. Thứ nhất, 
mô mỡ là loại mô có nhiều trong cơ thể người, 
dễ dàng thu nhận, ít xâm lấn nên ít gây đau đớn 
cho bệnh nhân so với việc thu nhận tủy xương. 
Lượng TBGTM tự thân cần thiết cho nghiên cứu 
có thể thu nhận chỉ từ khoảng 1 g mỡ. Hơn nữa, 
chỉ cần gây mê cục bộ và vết thương có thể lành 
trong vòng 1 tuần. Nếu mỡ thu nhận từ người 
cho là mỡ hút hoặc mỡ từ phẫu thuật dưới da thì 
lượng TBGTM đủ để cấy ghép ngay sau đó mà 
không cần qua bước nhân sinh khối ex vivo. Thứ 
hai, mô này cũng là nguồn tế bào có thể tự tái tạo 
lại được trong cơ thể. Thứ ba và quan trọng nhất, 
nó là nguồn mô ghép tự thân. Ngoài ra, khả 
năng biệt hóa của TBGTM từ mô mỡ ít chịu ảnh 
hưởng tuổi của người hiến mô. 
Tuy nhiên, việc lấy mô mỡ từ người và phân 
lập tế bào gốc trung mô để thực hành và sử 
dụng trong nghiên cứu không phải là chuyện dễ 
dàng vì có những yếu tố liên quan đến y đức 
trong thực hành nghiên cứu. 
Do đó, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên 
cứu quy trình phân lập, nuôi cấy và xác định các 
TBGTM từ mô mỡ thỏ. Từ đó, có thể sử dụng 
các tế bào gốc này để thực hiện các nghiên cứu 
trong điều kiện in vitro và in vivo trên mô hình 
động vật để làm cơ sở khoa học cho những triển 
khai nghiên cứu ứng dụng trên người. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
TBGTM được thu nhận từ mô mỡ thỏ. Có tất 
cả 5 mẫu mô mỡ thỏ được thu nhận từ 5 thỏ đực 
khác nhau. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu thực nghiệm - mô tả. Số thí 
nghiệm được lặp lại tối thiểu 3 lần độc lập nhau. 
Phương pháp thực hiện 
Phân lập và nuôi cấy tế bào gốc từ mô mỡ thỏ 
Mẫu mô mỡ thỏ được thu nhận trong điều 
kiện vô trùng. Mô mỡ được đặt trong đĩa petri 
sạch và rửa với dung dịch PBS (phosphate 
buffer saline). 
Mô mỡ được cắt nhỏ và chuyển vào tuýp 50 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 165 
ml có nắp đậy, bổ sung hỗn hợp enzyme 
Collagenase-Dispase (tỉ lệ 1:1, v/v), mẫu mô 
được ủ ở nhiệt độ 370C trong thời gian 90 phút. 
Sau đó ly tâm thu cặn lắng ở đáy chai. Bổ sung 
môi trường nuôi cơ bản DMEM/F12 có bổ sung 
10% FBS (fetal bovine serum) vào tuýp và huyền 
phù phần cặn lắng ở đáy chai. Lọc phần dịch tế 
bào qua phễu lọc tế bào (cell strainer, BD 
FalconTM) với đường kính 70 µM. 
Quay ly tâm phần dịch tế bào và thu nhận 
cặn lắng ở đáy chai. Sau đó bổ sung môi trường 
nuôi và huyền phù cặn lắng và chuyển vào chai 
nuôi. Tế bào được nuôi trong chai nuôi T-25 cm2 
ở nhiệt độ 370C và 5% CO2. Môi trường nuôi cơ 
bản được thay mới mỗi 2 ngày. 
Khi tế bào tăng sinh khoảng 80% diện tích bề 
mặt chai nuôi, các tế bào được cấy chuyền sang 
chai nuôi mới bằng cách ủ với trypsin/EDTA 
trong 5 phút ở 370C. Sau đó bổ sung môi trường 
nuôi DMEM/F12 có bổ sung 10% FBS và huyền 
phù để tách tế bào khỏi bề mặt chai nuôi, ly tâm 
3000 vòng/phút trong 5 phút, huyền phù cặn 
trong môi trường nuôi và nuôi ủ trong tủ ấm 
370C, 5% CO2. Môi trường được thay mới 2 ngày 
một lần. 
Định danh tế bào gốc trung mô 
Theo tổ chức The International Society for 
Cellular Therapy (ISCT) đưa ra các tiêu chuẩn 
chung để xác định một loại tế bào gốc là 
TBGTM(1) cần phải thỏa 3 điều kiện sau: thứ 
nhất, các TBGTM phải là các tế bào có khả năng 
bám dính khi tiến hành nuôi cấy trên bề mặt chai 
nuôi. Thứ hai, phải có khả năng biệt hóa thành 
nguyên bào xương, tế bào mỡ và tế bào sụn 
trong điều kiện in vitro. Thứ ba, các tế bào này 
phải biểu hiện được các marker bề mặt đặc hiệu 
cho TBGTM như CD105, CD73 và CD90,không 
biểu hiện các marker như CD45, CD34, CD14 và 
HLA-DR. Dựa theo các tiêu chuẩn trên, chúng 
tôi đánh giá các tế bào bào nuôi cấy từ mô mỡ là 
các TBGTM. 
TBGTM sau khi cấy chuyền lần thứ 3 (P3) sẽ 
được mang đi định danh dựa vào đặc tính bám 
dính của TBGTM và khả năng biệt hóa thành tế 
bào sụn, tế bào xương và tế bào mỡ trong điều 
kiện in vitro. 
Để đánh giá khả năng bám dính và phát 
triển trên bề mặt chai nuôi. Quan sát tế bào dưới 
kính hiển vi đảo ngược và nhuộm tế bào bằng 
thuốc nhuộm Giemsa để quan sát hình thái và 
khả năng bám dính của tế bào. 
Để đánh giá tiềm năng biệt hóa, tế bào sau 
lần cấy chuyển thứ 3 sẽ được chuyển lên một 
chai nuôi mới và nuôi trong môi trường cảm 
ứng biệt hóa xương (StemPro® Osteogenesis 
Differentiation Kit), biệt hóa sụn (StemPro® 
Chondrogenesis Differentiation Kit) và biệt hóa 
mỡ (StemPro® Adipogenesis Differentiation 
Kit). Sau 14 ngày nuôi cấy cảm ứng biệt hóa sẽ 
được quan sát dưới kính hiển vi đảo ngược để 
đánh giá sự thay đổi về mặt hình thái. Tiến hành 
nhuộm Alizarin Red để đánh giá khả năng biệt 
hóa thành nguyên bào xương, nhuộm Alcian 
blue để đánh giá khả năng tạo sụn và nhuộm Oil 
red O để đánh giá khả năng tạo mỡ. 
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng tiến hành 
đánh giá các marker chuyên biệt của TBGTM. 
Các tế bào sau lần cấy chuyền thứ 3 sẽ được 
mang đi tách chiết RNA bằng Easy- Spin™ 
(iNtRON Biotechnology, Hàn Quốc). Chúng tôi 
sử dụng RT-PCR để khuếch đại các DNA mục 
tiêu (PCR Biosystems, Vương quốc Anh) với các 
đoạn mồi đặc hiệu cho các gen như CD14, CD34, 
CD45, CD44, CD73, CD90, CD105, CD106 và 
glyceraldehyde 3-phosphate dehydrogenase 
(GADPH) (Bảng 1). Các sản phẩm khuếch đại 
được quan sát bằng phương pháp điện di trên 
gel agarose 1,5% và nhuộm bằng ethidium 
bromide (Sigma, USA). 
Bảng 1: Danh sách các đoạn mồi khảo sát các gen đặc hiệu của TBGTM 
Gen Đoạn mồi (5’-3’) Độ dài sản phẩm PCR (bp) 
Gapdh 
Mồi xuôi AGACACGATGGTGAAGGTCG 
166 
Mồi ngược CTTGCCGTGGGTGGAATCAT 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 166 
Gen Đoạn mồi (5’-3’) Độ dài sản phẩm PCR (bp) 
CD14 
Mồi xuôi TGCCTAAGGGACTGCCTG 
132 
Mồi ngược CAGGGACCAGGAACGGATT 
CD34 
Mồi xuôi CATCCTGGGCACTACTGGC 
115 
Mồi ngược GCATGTGCAGACTCCTTTCC 
CD44 
Mồi xuôi AGGTTTGGTGGAAGACCTGG 
162 
Mồi ngược CTTCCTCCTCTGCCATGAGT 
CD45 
Mồi xuôi CAATTACCTGGACACCTCCTC 
221 
Mồi ngược CTGACAGCTTGAAGCACTTC 
CD73 
Mồi xuôi GAGCTCACGATCCTGCACAC 
142 
Mồi ngược CTTGGCGGATCTGTTGCACT 
CD90 
Mồi xuôi CTCTGTGCTCAGAGACAAGC 
135 
Mồi ngược CCAACCAGTCACAGGGAAAG 
CD105 
Mồi xuôi CGCTCTGGTGCATCTACTCG 
108 
Mồi ngược CGATGCTGTGGTTCGTGCT 
CD106 
Mồi xuôi TCCCCGAATCCAGATCTCTTGC 
134 
Mồi ngược CTCGCTCCTCACCTTCCCAT 
KẾT QUẢ 
Phân lập và nuôi cấy tế bào gốc từ mô mỡ thỏ 
Các tế bào sau khi phân lập từ mô mỡ bắt 
đầu xuất hiện và bám dính sau hai ngày nuôi 
cấy trong môi trường nuôi cơ bản. Các tế bào ở 
dạng riêng lẻ, có dạng hình thoi, thon dài giống 
với hình thái của nguyên bào sợi (Hình 1). Các tế 
bào này sau lần cấy chuyền thứ 3 (P3) sẽ được 
mang đi đánh giá tiềm năng biệt hóa thành các 
tế bào xương, sụn, mỡ in vitro (Hình 2). 
Ngoài ra, khi nhóm nghiên cứu theo dõi khả 
năng tăng trưởng của dòng tế bào này qua kết 
quả khảo sát đường cong tăng trưởng (Hình 3). 
Kết quả cho thấy dòng tế bào có đỉnh tăng 
trưởng trong khoảng thời gian từ 7 – 10 ngày 
nuôi cấy và sau đó đi vào giai đoạn ổn định từ 
ngày 14. Kết quả này cũng cho thấy các tế bào 
thu nhận từ mô mỡ cũng là các tế bào phát triển 
theo quy luật thông thường của các dòng tế bào 
nuôi cấy. Do đó, đây cũng là một tiêu chuẩn để 
đánh giá sự phát triển bất thường của các dòng 
tế bào nuôi cấy trong in vitro. 
Hình 1: Tế bào gốc bám dính trên bề mặt chai nuôi. Tế bào gốc sau cấy chuyền F3, hình thái tế bào có hình dạng 
thon dài, giống với hình dạng của nguyên bào sợi. Tế bào được nhuộm Giemsa và quan sát dưới kính hiển vi đảo 
ngược, lần lượt ở các vật kính 4X (A), 10X (B) và 40X (C). Đa số tế bào có mang hình thái đặc trưng của hình 
dạng nguyên bào sợi 
A C B 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 167 
Hình 2: Tiềm năng biệt hóa của tế bào gốc trung mô từ mô mỡ. Tế bào gốc sau cấy chuyền F3 được nuôi trong 
môi trường biệt hóa xương, mỡ và sụn. Sau 14 ngày cảm ứng biệt hóa, hình thái tế bào thay đổi không còn hình 
dạng thon dài và bắt màu nhuộm đặc trưng của xương, mỡ và sụn. (A) Mẫu tế bào biệt hóa xương nhuộm Alizarin 
Red, (B) mẫu tế bào biệt hóa mỡ nhuộn Oil Red O, (C) mẫu tế bào biệt hóa sụn nhuộm Alcian Blue. (D), (E), (F) 
mẫu tế bào không biệt hóa (mẫu chứng âm) không bắt màu nhuộm với Alizarin Red, Oil Red O và Alcian Blue 
Hình 3: Đồ thị sự tăng trưởng của tế bào thu nhận từ mô mỡ sau lần cấy chuyền thứ ba. Tế bào sau lần cấy 
chuyền thứ 3 được mang đi đánh giá khả năng tăng trưởng trong 14 ngày. Kết quả đạt được cho thấy tế bào tăng 
sinh nhanh từ ngày 2 và đạt đỉnh vào ngày 6, sau đó bắt đầu giảm dần đến ngày thứ 14. Mỗi giá trị đo là số 
trung bình của 3 lần đo khác nhau lần lượt từ 3 dòng tế bào gốc trung mô khác nhau 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 168 
Kết quả định danh tế bào gốc trung mô 
Sau 14 ngày cảm ứng biệt hóa tế bào bằng 
môi trường cảm ứng biệt hóa tạo xương, tế bào 
bắt đầu thay hình thái từ hình dạng thon dài 
giống với các nguyên bào sợi thành các tế bào có 
hình thái đa diện và chế tiết chất nền xương, khi 
nhuộm với thuốc nhuộm Alirazin Red xuất hiện 
màu cam đỏ sáng màu (Hình 3A). Trong chai 
nuôi xuất hiện các nốt xương là dạng kết tựu 
chất nền xương đặc trưng trong trường hợp cảm 
ứng biệt hóa tạo nguyên bào xương in vitro. 
Đối với môi trường cảm ứng biệt hóa tạo 
mỡ, sau 14 ngày cảm ứng biệt hóa tế bào bằng 
môi trường tạo mỡ, tế bào cũng thay đổi dần 
hình thái từ hình dạng thon dài giống với các 
nguyên bào sợi, các tế bào thường phình to và 
bắt đầu kết tựu các giọt mỡ bên trong bào tương. 
Khi nhuộm với thuốc nhuộm Oil Red O thì các 
giọt mỡ bên trong bào tương bắt màu đỏ đậm 
sáng màu và thường kết tựu thành mảng/đám 
bên trong bào (Hình 2B). 
Đối với môi trường cảm ứng biệt hóa tạo 
sụn, sau 14 ngày cảm ứng biệt hóa tế bào bằng 
môi trường tạo sụn, tế bào cũng thay đổi dần 
hình thái từ hình dạng thon dài giống với các 
nguyên bào sợi, các tế bào bắt xuất hiện hình thái 
đa diện và kết dính chặt với nhau tạo thành lớp 
đơn và dần xuất hiện các nốt sụn. Khi nhuộm 
với thuốc nhuộm Alcian Blue thì chất nền xuất 
hiện màu xanh dương sáng màu đặc trưng của 
chất nền sụn (Hình 2C). 
Tế bào sau lần cấy chuyền thứ ba, sẽ được 
thu nhận bằng enzyme trypsin-EDTA (0,25% - 
0,02%). Sau đó, tế bào sẽ được thu nhận bằng 
cách quay ly tâm ở tốc độ 3000 vòng/phút trong 
5 phút. Tế bào sẽ được rửa 2 lần với dung dịch 
PBS để tinh sạch, các tế bào này sẽ được sử dụng 
để xác định sự biểu hiện của một số gen đặc 
trưng của TBGTM bằng phương pháp RT-PCR. 
Kết quả cho thấy quần thể tế bào thu nhận cho 
biểu hiện gen dương tính với marker GAPDH, 
CD73, CD90, CD106 và âm tính với các marker 
CD14, CD34, CD44, CD105, CD45 (Hình 4). 
Như vậy, dựa vào kết quả RT-PCR cho thấy 
các tế bào gốc từ mô mỡ thỏ biểu hiện được các 
marker đặc trưng của TBGTM theo tiêu chuẩn 
của ISCT như là CD73, CD90 và CD 103, âm tính 
với các marker như CD13, CD34, CD45. 
Hình 4: Biểu hiện gen của các marker chuyên biệt cho 
TBGTM. TBGTM sau lần cấy chuyền thứ 3 được 
mang đi đánh giá biểu hiện gen bằng phương pháp 
RT-PCR. Kết quả cho thấy quần thể tế bào thu nhận 
cho biểu hiện gen dương tính với marker GAPDH, 
CD73, CD90, CD106 và âm tính với các marker 
CD14, CD34, CD44, CD105, CD45 
BÀN LUẬN 
Các nghiên cứu trong y sinh học thường 
phải trải qua các bước nghiên cứu trên mô hình 
động vật trước khi có thể triển khai ứng dụng 
kết quả nghiên cứu trên lâm sang. Đây là một 
trong những bước cần thiết và bắt buộc để bảo 
đảm kết quả nghiên cứu an toàn và hiệu quả 
trên người bệnh. Do đó, việc có được những tế 
bào đạt tiêu chuẩn quốc tế để có thể triển khai 
thử nghiệm trên động vật là hết sức cần thiết. 
Việc thiết lập được quy trình chuẩn hóa và có 
thể áp dụng thường quy để thu nhận được dòng 
tế bào gốc trung mô từ mô mỡ với hiệu quả cao 
rất cần thiết khi thực hiện các nghiên cứu trên 
mô hình động vật. 
Dựa vào kết quả nghiên cứu của chúng tôi 
cho thấy, quần thể tế bào thu nhận từ mô mỡ thỏ 
thỏa mãn các tiêu chí của ISCT. Đó là các tế bám 
dính vào đáy chai nuôi, có hình dạng thon dài 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 169 
giống với hình dạng của nguyên bào sợi. Các tế 
bào này có khả năng cảm ứng biệt hóa khi sử 
dụng môi trường biệt hóa phù hợp thành các 
dạng tế bào xương, sụn và mỡ trong điều kiện in 
vitro(2,3,4,5). 
Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu 
của tác giả Huỳnh Duy Thảo (2013) khi nhóm 
nghiên cứu của tác giả này cũng sử dụng tiêu 
chuẩn ISCT để đánh giá các tế bào gốc trung mô 
thu nhận từ mô mỡ người(6). Kết quả nghiên cứu 
cũng cho thấy các TBGTM thu từ mô mỡ người 
cũng thỏa mãn các đặc tính đầy đủ của tế bào 
gốc trung mô. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu của 
tác giả này sử dụng mỡ chọc hút từ các phẫu 
thuật thẩm mỹ để tiến hành thu nhận TBGTM 
khi so sánh với nhóm nghiên cứu của chúng tôi 
sử dụng mô mỡ thu từ mỡ bụng của thỏ. 
Kết quả định danh một số marker chuyên 
biệt cho TBGTM từ mô mỡ thỏ cũng đã được 
nhóm nghiên cứu của chúng tôi đánh giá và kết 
quả thu được cũng cho thấy có sự tương đồng 
với một số nghiên cứu của các tác giả khác. Kết 
quả nghiên cứu của nhóm tác giả Dao Thi Thanh 
Thuy (2017)(7) cho thấy các TBGTM từ mỡ thỏ có 
kiểu hình marker tương đồng với kết quả nghiên 
cứu của chúng tôi. Kết quả cho thấy quần thể tế 
bào mà nhóm nghiên cứu chúng tôi thu nhận có 
kiểu hình miễn dịch dương tính với marker 
GAPDH, CD73, CD90, CD106 và âm tính với các 
marker CD14, CD34, CD44, CD105, CD45. Đây 
là những marker phổ biến để định danh TBGTM 
theo tiêu chuẩn của thế giới. 
KẾT LUẬN 
Với quần thể tế bào gốc thu nhận từ mô mỡ 
thỏ đã phân lập và nuôi cấy sau lần cấy chuyền 
thứ ba. Chúng tôi đã đánh giá các chỉ tiêu để xác 
định cho TBGTM, kết quả cho thấy các tế bào 
nuôi cấy đều là các tế bào bám dính trên chai 
nuôi, có hình dạng thon dài đặc trưng cho tế bào 
gốc trung mô. Thứ hai, quần thể tế bào này có 
khả năng biệt hóa được thành 3 dòng tế bào 
khác nhau thuộc nguồn gốc trung mô đó là 
nguyên bào xương, nguyên bào sụn và tế bào 
mỡ với phương pháp xác định đáng tin cậy 
chứng tỏ tế bào có khả năng biệt hóa được thành 
các dòng tế bào khác. Thứ ba, chúng tôi đã khảo 
sát sự biểu hiện của các marker dùng để xác 
định cho quần thể TBGTM từ mô mỡ, kết quả 
cho thấy tế bào thu nhận có biểu hiện dương 
tính với các marker được CD73, CD90 và không 
có biểu hiện với các marker CD45 và HLA-DR. 
Đây là các marker phổ biến được chấp thuận để 
xác định cho các TBGTM. 
Như vậy, với kết quả khảo sát khả năng bám 
dính, tiềm năng biệt hóa và sự biểu hiện các 
marker bề mặt cho thấy quần thể tế bào nuôi cấy 
chính là các TBGTM. Đây là nguồn tế bào gốc rất 
quan trọng và tiềm năng cho các ứng dụng 
nghiên cứu cơ bản và triển khai thử nghiệm trên 
các mô hình động vật. 
Tuy nhiên, để có thể ứng dụng các tế bào 
này một cách an toàn và hiệu quả, cần thực hiện 
thêm các thí nghiệm khác để khảo sát sự an toàn 
về mặt di truyền cũng như cần khảo sát sự biểu 
hiện của một số gen ung thư phổ biến khi thực 
hiện các nghiên cứu nuôi cấy in vitro trong thời 
gian nuôi cấy dài ngày để đảm bảo cho các tế 
bào này an toàn khi được sử dụng cho các 
nghiên cứu tiếp theo. 
Lời cảm ơn: Nhóm nghiên cứu xin chân 
thành cảm ơn sự hỗ trợ tài chính từ Đại học 
Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh đã giúp nhóm thực 
hiện nghiên cứu trên, mã số đề tài B2019-44-
01/HĐ-KHCN. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Dominici M1, Le Blanc K, Mueller I, Slaper-Cortenbach I, 
Marini F, Krause D, Deans R, Keating A, Prockop Dj, Horwitz 
E (2006). Minimal criteria for defining multipotent 
mesenchymal stromal cells. The International Society for 
Cellular Therapy position statement. Cytotherapy, 8(4):315-317. 
2. Locke M, Windsor J, Dunbar PR (2009). Human 
adiposederived stem cell: isolation, characterization and 
application in surgrey. ANZ Surgrey Journal, 79:235-244. 
3. Pittenger MF, Mackay AM, Beck SC et al (1999). Multilineage 
potential of adult human mesenchymal stem cell. Science, 
284:143-147. 
4. Strem BM et al (2005). Multipotential differentiation of adipose 
tissue-derived stem cells. Keio Journal of Medicine, 54:132-141. 
5. Zuk PA, Zhu M, Ashjian P, et al (2002). Human adipose tissue 
is a source of multipotent stem cells. Molecular Biological Cell, 
13:4279-4295. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 170 
6. Huỳnh Duy Thảo, Trần Lê Bảo Hà, Lê Thanh Hùng, Võ Quốc 
Vũ, Hoàng Kc Hương, Thái Trúc Quỳnh, Trần Công Toại 
(2013). Nghiên cứu quy trình thu nhận tế bào gốc trung mô từ 
mô mỡ người hướng đến ứng dụng trong lĩnh vực y học. Y học 
Thành phố Hồ Chí Minh, 17(1):459 - 466. 
7. Dao TTT, Vu NB, Pham LH, Van Gia L, et al (2017). In vitro 
production of cartilage tissue from rabbit bone marrow-
derived mesenchymal stem cells and polycaprolactone 
scaffold. In Tissue Engineering and Regenerative Medicine, 
pp.45-60. Springer, Cham. 
Ngày nhận bài báo: 30/08/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021

File đính kèm:

  • pdfthiet_lap_quy_trinh_thu_nhan_te_bao_goc_trung_mo_tu_mo_mo_th.pdf