Thay đổi kiến thức, thực hành về tư thế, vận động sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng của người bệnh điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, năm 2018

Duy trì tư thế, vận động đúng sau phẫu thuật đĩa đệm

cột sống thắt lưng nhằm cải thiện dấu hiệu đau và giảm nguy

cơ tái phát. Mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thực

hành về tư thế, vận động sau phẫu thuật đĩa đệm cột sống

thắt lưng của người bệnh sau can thiệp giáo dục sức khỏe.

Phương pháp: Đánh giá sự thay đổi, so sánh trước sau can

thiệp không có nhóm chứng. Kết quả: Kiến thức thay đổi,

điểm số trước can thiệp từ 11,60 ± 2,31 tăng lên sau can

thiệp 26,37 ± 2,50, điểm trung bình tăng 14,77 ± 3,42. Thực

hành trước can thiệp điểm số 14,33 ± 2,02 sau can thiệp tăng

47,10 ± 3,70, điểm trung bình tăng32,77 ± 4,55. Xếp loại

kiến thức trước can thiệp loại tốt và khá không có, sau can

thiệp tăng lần lượt là 26,7% và 60%. Thực hành trước can

thiệp loại tốt, khá không có, trung bình 3,3%, sau can thiệp

thực hành tốt 6,7%, khá 53,3%, trung bình 40,0%

pdf 5 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Thay đổi kiến thức, thực hành về tư thế, vận động sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng của người bệnh điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thay đổi kiến thức, thực hành về tư thế, vận động sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng của người bệnh điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, năm 2018

Thay đổi kiến thức, thực hành về tư thế, vận động sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng của người bệnh điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, năm 2018
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn 39
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÓM TẮT
Duy trì tư thế, vận động đúng sau phẫu thuật đĩa đệm 
cột sống thắt lưng nhằm cải thiện dấu hiệu đau và giảm nguy 
cơ tái phát. Mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thực 
hành về tư thế, vận động sau phẫu thuật đĩa đệm cột sống 
thắt lưng của người bệnh sau can thiệp giáo dục sức khỏe. 
Phương pháp: Đánh giá sự thay đổi, so sánh trước sau can 
thiệp không có nhóm chứng. Kết quả: Kiến thức thay đổi, 
điểm số trước can thiệp từ 11,60 ± 2,31 tăng lên sau can 
thiệp 26,37 ± 2,50, điểm trung bình tăng 14,77 ± 3,42. Thực 
hành trước can thiệp điểm số 14,33 ± 2,02 sau can thiệp tăng 
47,10 ± 3,70, điểm trung bình tăng32,77 ± 4,55. Xếp loại 
kiến thức trước can thiệp loại tốt và khá không có, sau can 
thiệp tăng lần lượt là 26,7% và 60%. Thực hành trước can 
thiệp loại tốt, khá không có, trung bình 3,3%, sau can thiệp 
thực hành tốt 6,7%, khá 53,3%, trung bình 40,0%.
Từ khóa: Thoát vị đĩa đệm, tư thế vận động, tư thế 
vận động cột sống, vận động sau phẫu thuật, tư thế vận 
động sau phẫu thuật.
SUMMARY:
CHANGING KNOWLEDGE, PRACTICE ON 
THE POSTURE, MOVEMENT AFTER LUMBAR 
SPIne HeRnIA SuRgeRy of THe PATIenTS 
WHo ARe TReATeD AT nAm DInH geneRAl 
HPSPITAl In 2018
Maintaining posture and moving correctly after 
lumbar spine hernia surgery aims to improve pain 
signs and reduce the risk of recrudescence. Objectives: 
Evaluate the change of knowledge, practice of posture, 
movement after lumbar spine hernia surgery of patients 
after health education intervention. Method: Assess the 
change, compare after and before the intervention without 
control. Results: Knowledge and score changed before 
intervention from 11.60 ± 2.31 increased after intervention 
26.37 ± 2.50, the average score increased by 14.77 ± 
3.42. Practices before the intervention score 14.33 ± 2.02 
after intervention it increased 47.10 ± 3.70, the average 
score increased by 32.77 ± 4.55. Knowledge ranking 
before intervention was good and there isn’t moderate 
rank, average rank occupied 3.3%, after the intervention, 
it increased by 26.7% and 60% respectively. Practicing 
before the intervention is good, the average is 3.3%, there 
isn’t moderate rank. After intervention, the good practice 
is 6.7%, the quite good is 53.3%, and the average is 40.0%.
Keywords: Disc hernia, motor posture, spinal 
posture, movement after surgery, posture after surgery. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thoát vị đĩa đệm có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng 
cho người bệnh do đĩa đệm thoát vị chèn ép tuỷ cổ gây liệt, 
chèn ép thần kinh vùng thắt lưng cùng gây chứng đại tiểu 
tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn. Khi bị chèn ép rễ thần 
kinh cơ bị teo ở các chi làm cho sinh hoạt bị ảnh hưởng trầm 
trọng, thậm chí mất khả năng lao động, đôi khi để lại di 
chứng tàn phế suốt đời gây suy giảm chất lượng cuộc sống. 
Có nhiều phương pháp điều trị đã được áp dụng nhằm phục 
hồi rối loạn thần kinh, giảm nguy cơ tái phát. Khi liệu trình 
nội khoa không hiệu quả, cần can thiệp ngoại khoa nhằm 
giải phóng khối thoát vị chèn ép, cải thiện chức năng thần 
kinh. Quá trình chăm sóc, điều trị và phục hồi sau phẫu thuật 
đòi hỏi người bệnh phải thực hiện và duy trì tư thế, vận động 
phù hợp với mỗi giai đoạn, nhằm cải thiện dấu hiệu đau, hạn 
chế biến chứng và giảm nguy cơ tái phát. Nghiên cứu đo 
lường hiệu quả can thiệp giáo dục sức khỏe, tiến hành với 
mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thực hành về tư 
thế, vận động sau phẫu thuật đĩa đệm cột sống thắt lưng của 
người bệnh sau can thiệp giáo dục sức khỏe.
Ngày nhận bài: 07/08/2019 Ngày phản biện: 12/08/2019 Ngày duyệt đăng: 29/08/2019
THAY ĐỔI KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ TƯ THẾ, VẬN ĐỘNG 
SAU PHẪU THUẬT THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG THẮT 
LƯNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA 
TỈNH NAM ĐỊNH, NĂM 2018
Vũ Mạnh Độ1, Đỗ Thị Mai1
1. Khoa Y tế Công cộng - Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn40
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 
CỨu
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 
 Người bệnh thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) cột sống thắt 
lưng (CSTL) sau phẫu thuật điều trị tại khoa Ngoại Thần 
kinh. Thời gian từ tháng 1/2018 - 11/2018, tại BVĐK tỉnh 
Nam Định.
2.2. Thiết kế nghiên cứu: Đánh giá trước và sau can 
thiệp không có nhóm chứng. 
2.3. Mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tất cả người 
bệnh phẫu thuật TVĐĐ CSTL đồng ý và tự nguyện tham 
gia nghiên cứu. 
2.4. Nội dung và hình thức can thiệp
2.4.1. Nội dung can thiệp: Theo nội dung nghiên cứu.
- Kiến thức sử dụng nẹp hỗ trợ cột sống sau phẫu 
thuật: thời gian, tần xuất đeo nẹp. 
- Thời gian sau phẫu thuật vị đĩa đệm người bệnh 
được tập và duy trì vận động
- Tư thế, vận động trong sinh hoạt sau phẫu thuật 
thoát vị đĩa đệm cột sống
- Thay đổi tư thế, vận động khi mang vác vật nặng
- Thực hành tư thế, vận động trong đời sống sinh hoạt 
và trong khi làm việc.
2.4.2. Hình thức can thiệp: Truyền thông GDSK 
nhằm thay đổi kiến thức và thói quen về tư thế vận động 
của người bệnh.
2.5. Thu thập số liệu: Phỏng vấn trực tiếp và quan sát 
thực hành thông qua bảng kiểm.
- Thu thập số liệu trước can thiệp giáo dục (t1): Tiến 
hành khi hoàn thành thủ tục nhập viện. 
- Truyền thông giáo dục sức khỏe: Hướng dẫn người 
bệnh tư thế, vận động an toàn sau phẫu thuật. Hỗ trợ mang 
đai cột sống và làm mẫu tư thế, vận động và yêu cầu thực 
hiện, đồng thời phát hình vẽ tư thế đúng để quan sát, thực 
hiện và duy trì. 
- Thu thập số liệu sau can thiệp giáo dục (t2): Thực 
hiện trước khi làm thủ tục ra viện. 
2.6. Các biến số trong nghiên cứu
- Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu.
- Thực trạng nhận thức về tư thế, vận động sau phẫu 
thuật thoát vị ĐĐCS.
- Thực trạng thực hành về tư thế, vận động sau phẫu 
thuật thoát vị ĐĐCS.
- Thay đổi kiến thức về tư thế, vận động sau can thiệp 
giáo dục.
- Thay đổi thực hành về tư thế, vận động sau can thiệp 
giáo dục.
2.7. Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
2.7.1. Công cụ thu thập số liệu
- Bộ câu hỏi phỏng vấn người bệnh về kiến thức, thực 
hành tư thế, vận động sau phẫu thuật TVĐĐ CSTL thông 
qua bộ câu hỏi gồm 2 phần 
- Bảng kiểm hướng dẫn, đánh giá thực hành về tư thế, 
vận động của người bệnh 
2.7.2. Cách đánh giá
- Đánh giá kiến thức: Mỗi câu hỏi trả lời đúng tương ứng 
với 1 điểm. Tổng điểm đạt được dao động từ 0 đến 33 điểm. 
- Đánh giá thực hành tư thế, vận động: Mỗi tư thế, 
vận động đúng đầy đủ tương ứng 2 điểm, thực hiện đúng 
1 phần hoặc không đầy đủ được 1 điểm, thực hiện không 
đúng hoặc không thực hiện được 0 điểm. Tổng số điểm 
đạt được cho phần thực hành dao động từ 0 đến 60 điểm 
(Trong đó có 32 điểm về tư thế, 28 điểm về hỗ trợ vận 
động và thay đổi tư thế). 
- Kiến thức lựa chọn không chính xác, thực hành 
không đúng, không phù hợp thì không được tính điểm, sau 
đó qui về thang điểm 100. 
+ Điểm đánh giá cho phần kiến thức qui về điểm số 
100, bằng cách lấy điểm số trả lời đúng phần kiến thức/
Tổng số điểm phần kiến thức x 100. 
+ Điểm đạt đánh giá cho phần thực hành qui về điểm 
số 100, bằng cách lấy điểm số thực hành đạt được/Tổng số 
điểm phần thực hành x 100. 
- Đánh giá chung cho từng phần lý thuyết, thực hành và 
chia làm 4 mức độ theo thang điểm 100, xếp loại như sau:
+ Tốt: Tổng số điểm đạt được từ 85 - 100 
+ Khá: Tổng số điểm đạt được từ 70 - 84 
+ Trung bình: Tổng số điểm đạt được từ 50 - 69
+ Kém: Tổng số điểm đạt được dưới 50.
2.8. Phương pháp phân tích số liệu: Nhập số liệu từ 
phiếu điều tra và quản lý dữ liệu trên máy tính với phần 
mềm Epidata 3.1. Số liệu được xử lý theo chương trình 
SPSS 18.0.
2.9. Đạo đức nghiên cứu: Tất cả người bệnh nhân 
đồng thuận tham gia nghiên cứu, cho phép sử dụng các 
thông tin y học phục vụ nghiên cứu khoa học và đảm bảo 
bí mật các thông tin cá nhân. Nghiên cứu đã được Hội 
đồng đạo đức của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định 
cho phép thực hiện.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu kiến thức, thực hành về tư thế vận động 
của 30 đối tượng sau phẫu thuật TVĐĐ CSTL, nhóm tuổi từ 
40 - 60 chiếm (76,7%), làm ruộng-lao động tự do (60,0%), 
HS SV (6,7%), nữ giới (53,3%), nam giới (46,7%).
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn 41
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bảng 1. Thay đổi kiến thức về tư thế, vận động trước và sau can thiệp 
Điểm số
Thời điểm đánh giá
Điểm thấp nhất
(Min)
Điểm cao nhất
(Max)
Trung bình
( ± SD)
p
(t-test)
Trước can thiệp (1) 6 17 11,60 ± 2,31
Sau can thiệp (2) 22 32 26,37 ± 2,50 p
(2-1)
< 0,0001
Tăng điểm (2-1) 9 24 14,77 ± 3,42
Bảng 2. Thay đổi thực hành về tư thế, vận động trước và sau can thiệp 
Điểm số
Thời điểm đánh giá
Điểm thấp nhất
(Min)
Điểm cao nhất
(Max)
Trung bình
( ± SD)
p
(t-test)
Trước can thiệp (T1) 10 18 14,33 ± 2,02
Sau can thiệp (T2) 40 52 47,10 ± 3,70 p
(2-1)
< 0,0001
Tăng điểm (2-1) 24 42 32,77 ± 4,55
Biểu đồ 1. Xếp loại kiến thức, thực hành đúng trước và sau can thiệp
Nhận xét: Kết quả trên cho thấy thay đổi điểm số thực 
hành về tư thế, vận động của người bệnh trước can thiệp 
thực hiện đúng điểm số là 14,33 ± 2,02 sau can thiệp tăng rất 
cao 47,10 ± 3,70, điểm số trung bình chênh là 32,77 ± 4,55.
 Nhận xét: Thay đổi về kiến thức trả lời đúng trước can 
thiệp loại tốt và khá không có, sau can thiệp tăng lên 26,7% 
và 60%, kiến thức kém giảm từ 93,3% còn 10%. Thực hành 
trước can thiệp thực hiện đúng loại tốt và khá không có, loại 
trung bình 3,3%. Sau can thiệp thực hiện đúng xếp loại tốt 
tỷ lệ đạt 6,7%, loại khá 53,3% và không có thực hành kém.
Nhận xét: Bảng số liệu trên cho thấy điểm số kiến 
thức về tư thế, vận động của người bệnh có sự thay đổi rõ 
rệt giữa trước can thiệp trả lời đúng điểm số là 11,60 ± 2,31 
và sau can thiệp mức điểm 26,37 ± 2,50, điểm số trung 
bình tăng cao 14,77 ± 3,42.
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn42
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
Iv. BÀN LUẬN
Can thiệp giáo dục sức khoẻ nhằm cung cấp kiến 
thức đúng, phù hợp làm cho đối tượng hiểu biết rõ các 
vấn đề sức khỏe liên quan, từ đó họ thay đổi nhận thức 
các vấn đề liên quan ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe 
bản thân, gia đình và cộng đồng. Truyền thông GDSK 
làm cho người bệnh nhận thức đúng tình trạng sức khoẻ 
cần cải thiện, từ đó có hiểu biết thấu đáo vấn đề liên quan 
đến hành vi, thói quen không đúng nhằm giảm thiểu yếu 
tố nguy cơ, mang lại tình trạng sức khỏe tốt. Kết quả 
làm thay đổi nhận thức và hành vi của người bệnh theo 
chiều hướng tích cực, từ nghi ngờ, ngần ngại chuyển sang 
đồng tình, ủng hộ và làm theo. Sự cải thiện điểm số về 
kiến thức còn cho thấy mong muốn tiếp cận thông tin 
của người bệnh, để có kiến thức tự chăm sóc đúng khi 
được ra viện hòa nhập cộng đồng. Kết quả thu được về 
tư thế, vận động của người bệnh có sự thay đổi rõ rệt 
giữa trước can thiệp là 11,60 ± 2,31 và sau can thiệp mức 
điểm 26,37 ± 2,50, điểm số trung bình tăng cao 14,77 ± 
3,42. Việc thay đổi hành vi diễn ra theo chúng tôi cần có 
thời gian, để đi đến mục tiêu cuối cùng của quá trình là 
thực hiện và duy trì hành vi mới, đối tượng phải trải qua 
các bước trung gian. Trên mỗi bước của bậc thang đó đối 
tượng có thể dừng lại, từ chối các bước vì không quan 
tâm hoặc không thích ứng với vấn đề hoặc có quan tâm 
có tin tưởng nhưng thiếu kỹ năng thực hiện hoặc khi thực 
hiện nhưng bị thất bại nên buồn chán, nản chí và nhiều 
yếu tố khác cản trở. Vì thế khi truyền thông cần xác định 
người bệnh đang ở giai đoạn nào của quá trình, có động 
cơ bước tiếp sang giai đoạn sau rất cần có thêm thông tin 
và các hỗ trợ khác và cách tiếp cận phù hợp.
Thực hành về tư thế, vận động thấy được sự thay đổi 
trước can thiệp là 14,33 ± 2,02 sau can thiệp tăng rất cao 
47,10 ± 3,70, điểm số trung bình chênh là 32,77 ± 4,55. 
Xếp loại kiến thức về tư thế vận động trước và can thiệp 
thu được loại tốt và khá không có trường hợp nào, sau 
can thiệp tăng lên lần lượt là 26,7% và 60%, kiến thức 
kém giảm từ 93,3% còn 10%. Thực hành về tư thế, vận 
động cũng thay đổi rõ rệt, trước can thiệp loại tốt, khá 
không có trường hợp nào đạt, trung bình tỷ lệ là 3,3%, 
sau can thiệp tỷ lệ đạt thay đổi rõ rệt, tỷ lệ thực hành 
tốt chiếm 6,7%, khá chiếm 53,3%, trung bình chiếm tỷ 
lệ 40,0% và không còn trường hợp nào thực hành kém. 
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng kiến thức và thực hành 
có mối liên quan chặt chẽ trong hành vi sức khỏe, thay 
đổi có thể không dễ dàng nhưng các nhà khoa học đã tìm 
ra nhiều cách giúp con người thay đổi hành vi. Qua mô 
hình “Các giai đoạn thay đổi” ta thấy hiếm khi nào là dễ 
dàng và thường đòi hỏi một quá trình từ từ nhiều bước 
để đạt được mục tiêu. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi 
cũng thể hiện rõ sự thay đổi tương đồng của người bệnh, 
kiến thức tỷ lệ thuận với việc thực hiện và duy trì tư thế 
đúng sau phẫu thuật thông qua quan sát thực hành trên 
người bệnh cho thấy hiệu quả của việc can thiệp giáo dục. 
Tuy nhiên, với cỡ mẫu không đủ lớn và thời gian theo dõi 
chưa đủ dài để khẳng định chắc chắn những thay đổi từ 
phía người bệnh là lâu dài và bền vững. 
V. KẾT LUẬN
 Kiến thức về tư thế, vận động sau phẫu thuật thoát vị 
đĩa đệm cột sống có sự thay đổi rõ rệt, điểm số trước can 
thiệp từ 11,60 ± 2,31 tăng lên sau can thiệp 26,37 ± 2,50, 
điểm trung bình tăng 14,77 ± 3,42. Thực hành về tư thế, 
vận động có sự cải thiện đáng kể, điểm số trước can thiệp 
là 14,33 ± 2,02 sau can thiệp 47,10 ± 3,70, điểm trung bình 
tăng là 32,77 ± 4,55. Xếp loại kiến thức về tư thế, vận động 
sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống trước can thiệp 
loại tốt và khá không có, sau can thiệp đã tăng lần lượt là 
26,7% và 60%. Thực hành về tư thế, vận động trước can 
thiệp loại tốt, khá không có, loại trung bình chiếm tỷ lệ 
3,3%. Sau can thiệp tỷ lệ thực hành tốt chiếm 6,7%, loại 
khá chiếm 53,3%, loại trung bình chiếm tỷ lệ 40,0%.
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn 43
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TIẾNG VIỆT
1. Bộ Y tế (2011), Thông tư số 07/2011/TT-BYT “Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong 
bệnh viện”.
2. Bộ Y tế (2014), Quyết định 3109/QĐ-BYT về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán, điều 
trị chuyên ngành phục hồi chức năng”, tr. 192; 229.
3. Nguyễn Văn Chương (2010), Thực hành lâm sàng thần kinh, tập 5, NXB Y học, Hà Nội, tr. 284 – 297.
4. Nguyễn Văn Chương, Phan Thanh Hiếu (2010), Nghiên cứu điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng bằng 
phương pháp dùng thuốc và vật lý trị liệu; Tạp chí Y-Dược học quân sự ; Vol; 2; 94-99.
5. Nguyễn Thị Hòa (2013), Đánh giá hiệu quả điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng của phác đồ tiêm ngoài 
màng cứng methylprednisolon kết hợp với uống cyclosporine A; Luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Bệnh học 
nội khoa.
6. Nhữ Đình Sơn, Nguyễn Văn Chương (2011), Đánh giá hiệu quả điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng của 
phương pháp giảm áp đĩa đệm qua da bằng LASER; Tạp chí Y Dược học quân sự; 36; 3; 121-127.
7. Bùi Quang Tuyển (2010), Phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 215-232.
TIẾNG ANH
8. M.F. Alfen, B.Lauerbach & W.Ries (2006), “Devolopments in the Area of Endoscopic Sprine Surgery”, European 
Musculoskeletal Review.
9. C.C Wong &W.P.Loke (2007), “Percutaneous Endoscopic Transforaminal Lumbar Discectomy - An Early 
Experience”, Malaysian Orthopaedic Journal, 1 (1): p.1-4.

File đính kèm:

  • pdfthay_doi_kien_thuc_thuc_hanh_ve_tu_the_van_dong_sau_phau_thu.pdf