Thất bại trong chuyển vạt tự do ở chi dưới: kinh nghiệm 5 năm
Tạo hình che phủ các vết thương phức hợp ở chi dưới đã đang là một thách thức lớn
với hầu hết các phẫu thuật viên tạo hình. Tỉ lệ thất bại trong chuyển vạt tự do ở vùng
này sau chấn thương luôn chiếm tỉ lệ cao hơn so với các vị trí khác trên cơ thể. Báo
cáo tổng kết kinh nghiệm 5 năm tại bệnh viện Việt Đức đồng thời tổng kết y văn về
nguyên nhân và hướng xử trí trong các trường hợp này.
Bạn đang xem tài liệu "Thất bại trong chuyển vạt tự do ở chi dưới: kinh nghiệm 5 năm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Thất bại trong chuyển vạt tự do ở chi dưới: kinh nghiệm 5 năm
TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016 306 Vũ Trung Trực Bùi Mai Anh Nguyễn Hồng Hà Khoa phẫu thuật Hàm mặt,Tạo hình,Thẩm mỹ Bệnh viện hữu nghị Việt Đức Vu Trung Truc Bui Mai Anh Nguyen Hong Ha THẤT BẠI TRONG CHUYỂN VẠT TỰ DO Ở CHI DƯỚI: KINH NGHIỆM 5 NĂM TÓM TẮT Tạo hình che phủ các vết thương phức hợp ở chi dưới đã đang là một thách thức lớn với hầu hết các phẫu thuật viên tạo hình. Tỉ lệ thất bại trong chuyển vạt tự do ở vùng này sau chấn thương luôn chiếm tỉ lệ cao hơn so với các vị trí khác trên cơ thể. Báo cáo tổng kết kinh nghiệm 5 năm tại bệnh viện Việt Đức đồng thời tổng kết y văn về nguyên nhân và hướng xử trí trong các trường hợp này. Từ khóa: khuyết hổng chi dưới, phẫu thuật vi phẫu, vạt tự do SUMMARY Free flap failure in lower extremity microsurgery reconstruction: 5-year experience at VietDuc University Hospital Complex lower extremity wounds present a significant challenge to the reconstructive surgeon. The incidence of flap failure in this area is always higher other regions. We report a consecutive experience of free tissue transfers in lower extremity reconstruction within 5 years at Viet-Duc university hospital and literature review. Keywords: lower extremity defects, microsurgery, free flaps. I. ĐẶT VẤN ĐỀ: Khuyết hổng chi dưới gây ra bởi nhiều nguyên nhân. Tạo hình che phủ các khuyết ở vùng này vẫn đang là một thách thức không nhỏ đối với các phẫu thuật viên tạo hình và chấn thương chỉnh hình, đặc biệt trong các trường hợp khuyết gây ra do nguyên nhân chấn thương. Phương pháp điều trị kinh điển cho các tổn khuyết ở vùng này là ghép da và chuyển các vạt tại chỗ hay vạt chéo chân. Trong vài thập kỷ gần đây, sự ra đời của vi phẫu thuật đã góp thêm một lựa chọn trong tạo hình khuyết hổng chi dưới là chuyển các vạt tự do. Tuy nhiên phương pháp này cần đội ngũ phẫu thuật viên có kinh nghiệm và trang thiết bị hiện đại. Tại Việt Nam ngày nay, một số trung tâm có thể thực hiện vi phẫu thuật ở cả 3 miền đất nước. Đã có các báo cáo tổng kết về kết quả ứng dụng vi phẫu thuật trong tạo hình khuyết hổng chi dưới nhưng chưa có báo cáo về các trường hợp thất bại. Kỹ thuật vi phẫu đã được ứng dụng nhiều năm tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức, đầu tiên là trong phẫu thuật cấp cứu. Các ứng dụng vi phẫu trong chuyển vạt tự do tạo hình các khuyết ở chi thể thực sự mới trở thành thường quy trong khoảng 5 năm trở lại đây. Nghiên cứu đánh giá các trường hợp hoại tử vạt và tổng kết lại y văn. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu: Các trường hợp thất bại trong chuyển vạt tự do tạo hình các khuyết hổng chi dưới tại Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu 307 khoa Phẫu thuật Tạo hình, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ năm 2011 đến năm 2015. Các số liệu được thu thập dựa trên hồ sơ bệnh án về các tiêu chí như loại khuyết hổng, nguyên nhân khuyết hổng, thời gian từ khi tổn thương đến khi tạo hình, loại vạt sử dụng, kỹ thuật nối mạch, nguyên nhân và cách xử trí khi hoại tử vạt... Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả. KẾT QUẢ Từ tháng 1/2011 đến tháng 12/2015, 121 vạt tự do (54 vạt vùng đầu mặt cổ, 43 ở chi trên, 22 chi dưới, 2 vạt tạo hình thân mình sinh dục) đã được thực hiện tại khoa phẫu thuật Tạo hình – Hàm mặt, bệnh viện Việt Đức. Trong 22 trường hợp vi phẫu tạo hình chi dưới (21 vạt phần mềm và 1 vạt xương), tất cả các khuyết hổng đều do nguyên nhân chấn thương. Có 4 trường hợp hoại tử vạt hoàn toàn đều nằm trong số chuyển vạt ở chi dưới chiếm 3,3% trên tổng số (121) vạt tự do được thực hiện và 18,2% số vi phẫu tạo hình chi dưới (trên 22 vạt). Bảng 1. Danh sách bệnh nhân (BN) hoại tử vạt. CT – chấn thương, ALT – vạt đùi trước ngoài, LD – vạt cơ lưng to. Số thứ tự Tuổi Giới Nguyên nhân khuyết hổng Thời gian từ khi chấn thương (ngày) Loại vạt Số miệng nối tĩnh mạch Nguyên nhân hoại tử BN1 35 Nữ CT 36 ALT 2 Tắc động mạch BN2 37 Nam CT 33 ALT 2 Nhiễm trùng BN3 23 Nữ CT 16 LD 2 Tắc tĩnh mạch BN4 38 Nữ CT 35 ALT 1 Tắc tĩnh mạch BÀN LUẬN Mặc dù phần lớn các khuyết hổng ở chi dưới có thể được tạo hình bởi các vạt tại chỗ nhưng trong nhiều trường hợp, vạt tự do là phương pháp gần như không thể thay thế đặc biệt với các tổn khuyết phức hợp lớn ở vùng cẳng chân và bàn chân. Sử dụng các vạt tự do có rất nhiều ưu điểm như có thể chuyển được lượng tổ chức lớn che phủ các khuyết rộng, có nhiều lựa chọn, đa dạng, có thể cắt bỏ rộng rãi tổn thương, nơi cho vạt có thể đóng trực tiếp... Nhờ sự ra đời của các trang thiết bị hiện đại như kính hiển vi, dụng cụ vi phẫu và sự tiến bộ trong kỹ thuật vi phẫu, tỉ lệ thành công trong phẫu thuật vi phẫu ngày càng được nâng cao. Mới đây, Bekara và cộng sự tiến hành nghiên cứu một cách hệ thống các bài báo được xuất bản cho thấy vạt tự do thậm chí còn an toàn hơn là các vạt mạch xuyên cuống liền trong tạo hình các khuyết ở chi dưới. Tỉ lệ hoại tử vạt toàn bộ không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (3,9% so với 2,77%) trong khi hoại tử một phần ở các vạt tự do lại thấp hơn (2,7% so với 6,88%) [3]. Davison thông báo tỉ lệ hoại tử vạt nói chung ở mức 4% [2]. Tại Việt Nam, tỉ lệ biến chứng và tỉ lệ hoại tử vạt được thông báo rất khác nhau từ 1,5% đến 4,32% [1],[5]. Năm 2005, Nguyễn Việt Tiến và cộng sự tổng kết trên 139 vạt ở chi dưới cho thấy tỉ lệ hoại tử vạt cao hơn với các tổn khuyết do nguyên nhân chấn thương (7,63%), nhiễm khuẩn bán cấp, vạt xương... Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả các trường hợp hoại tử toàn bộ vạt đều nằm ở chi dưới, tỉ lệ 3,3% cho vi phẫu chuyển vạt nói chung và 18,2% trong vi phẫu tạo hình các khuyết chi dưới do chấn thương. Điều này cho thấy sự khó khăn và nguy cơ thất bại cao khi tạo hình bằng vạt tự do đối với các khuyết hổng chi dưới gây ra do nguyên nhân chấn thương. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ thành công trong chuyển vạt tự do như thời gian chấn thương, thời gian TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016 308 Hình minh họa BN2. (A) Khuyết hổng 1/3 dưới cẳng chân sau gãy hở IIIb do ngã cao kẹt chân vào hố phân lợn. (B) che phủ khuyết bằng vạt ALT kích thước lớn vào ngày thứ 33 sau chấn thương. (C) Vạt hoại tử ngày thứ 3 sau mổ, ống tủy nhiều mủ thối và dịch đen. thiếu máu vạt, số lượng miệng nối, vị trí miệng nối, tình trạng nhiễm khuẩn... đã được nghiên cứu và báo cáo trong y văn [1],[4],[5],[6],[7]. Thời gian can thiệp chuyển vạt vi phẫu tạo hình các khuyết sau chấn thương phụ thuộc vào tình trạng toàn thân của bệnh nhân và tình trạng tại chỗ của vết thương. Heller và cộng sự trên một nghiên cứu tổng kết y văn năm 2001 nhận thấy rằng cắt lọc vết thương sớm và chuyển vạt trong vòng 5 ngày sau chấn thương giúp giảm các biến chứng nhiễm trùng, hoại tử vạt, khớp giả và viêm xương mạn tính [6]. Một số tác giả còn đưa ra khái nhiệm “chuyển vạt cấp cứu” trong vòng 72 giờ. Tuy nhiên, vẫn nhiều ý kiến cho rằng cần chờ vết thương ổn định sau vài lần cắt lọc mới chuyển vạt vi phẫu tạo hình (7-14 ngày) [6]... Hầu hết các trường hợp thất bại trong nghiên cứu của chúng tôi đều được che phủ muộn, 1 trường hợp ngày 16, các trường hợp còn lại sau ngày 30. Do số lượng bệnh nhân ít và không thu thập được đầy đủ số liệu nên không thể bàn luận sâu về vấn đề này. Thời gian thiếu máu vạt cũng được nhiều tác giả đánh giá là yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ hoại tử vạt sau mổ. Để giảm thiểu thời gian thiếu máu vạt, cần chuẩn bị tốt mạch nhận, tạo hình vạt theo ý muốn tại nơi cho, chuẩn bị mạch ghép nếu cần... trước khi cắt cuống vạt [6]. Tuy nhiên đây không phải là yếu tố gây ra các trường hợp thất bại trong nghiên cứu của chúng tôi vì tất cả các trường hợp đều là vạt phần mềm nên thời gian thiếu máu vạt không đáng kể. Về vị trí miệng nối, trong một thời gian dài nhiều tác giả đề xuất khái niệm “vùng an toàn” (safe zone), ở đó các mạch máu không bị ảnh hưởng bởi chấn thương (nằm ngoài vùng chấn thương – trauma zone) làm tăng tỉ lệ sống của vạt sau mổ, hầu hết các trường hợp có thể nối mạch ở vùng an toàn, nếu mạch ngắn có thể ghép mạch. Tuy nhiên, Bendon, thông báo vào đầu năm 2016 kết quả nghiên cứu 6 năm trên 48 trường hợp được nối mạch trong vùng chấn thương thấy rằng tỉ lệ thất bại không có sự khác biệt với các trường hợp khác. Tác giả nhận xét rằng có thể nối mạch trong vùng chấn thương nhưng cần sự đánh giá tình trạng tổn thương và lưu thông mạch máu trong mổ của phẫu thuật viên có kinh nghiệm [7]. Hình minh họa BN2. (A) Khuyết hổng 1/3 dưới cẳng chân sau gãy hở IIIb do ngã cao kẹt chân vào hố phân lợn. (B) che phủ khuyết bằng vạt ALT kích thước lớn vào ngày thứ 33 sau chấn thương. (C) Vạt hoại tử ngày thứ 3 sau mổ, ống tủy nhiều mủ thối và dịch đen. Nhiễm trùng được coi là nguyên nhân thứ hai gây hoại tử vạt sau mổ. Nghiên cứu của Nguyễn Việt Tiến [1] cho thấy tỉ lệ hoại tử vạt ở nhóm có nhiễm khuẩn bán cấp (11,76%) cao hơn hẳn so với nhóm nhiễm khuẩn mạn tính (2,27%). BN2 trong nghiên cứu của chúng tôi ngã từ trên cao kẹt chân vào hố phân lợn, chuyển vạt sau 33 ngày khi vết thương tương đối sạch, tắc mạch vạt ngày thứ 3 sau mổ, mở kiểm tra dưới vạt nhiều mủ màu socola mùi thối, trong ống tủy xương chày chảy dịch đen. Có thể nhiễm khuẩn tiềm tàng từ trong tủy xương đã không được đánh giá một cách chính xác trước khi tạo hình che phủ. Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu 309 Stranix và cộng sự [4], năm 2016, nghiên cứu tổng quan trên 219 trường hợp cho thấy nhóm nối hai tĩnh mạch có tỉ lệ hoại tử vạt một phần hay hoàn toàn thấp hơn so với nhóm chỉ nối một tĩnh mạch (khác biệt có ý nghĩa thống kê). Trong khi đó sự khác biệt về thời gian mổ không có ý nghĩa thống kê. Davison [2] tổng kết trên 514 vạt nhấn mạnh thêm một số yếu tố ảnh hưởng như sự hợp tác nhóm phẫu thuật và nhóm gây mê tránh tình trạng bệnh nhân cử động khi đang nối mạch, đánh giá bệnh lý đông máu trước phẫu thuật, kiểm soát huyết áp trong và sau nối mạch, kiểm soát nhiễm trùng... Các biện pháp khắc phục (cứu vạt) quan trọng nhất là phát hiện sớm và phục hồi lưu thông mạch máu. Tình trạng ứ máu tĩnh mạch sau mổ được giải quyết theo nhiều phương pháp như dùng đỉa y tế, chích máu và tiêm hoặc đắp gạc heparin, lấy bỏ thượng bì và hút VAC (hệ thống áp lực âm) miếng dán Nitroglycerin [2],[3],[6]... Tuy nhiên, cả 4 trường hợp thất bại trong nghiên cứu của chúng tôi cấp cứu vạt không thành công. KẾT LUẬN Vi phẫu thuật đã tạo ra một cuộc cách mạng trong phẫu thuật tạo hình và đóng vai trò quan trọng đối với tạo hình các khuyết hổng vùng chi dưới. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ sống của vạt sau phẫu thuật, tuy nhiên đây vẫn đã và đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi. Ngoài các yếu tố như trang thiết bị, đội ngũ phẫu thuật viên có kinh nghiệm; các yếu tố khác như chọn mạch tốt để nối, tăng số lượng tĩnh mạch được nối, kiểm soát tình trạng nhiễm khuẩn, giảm thời gian thiếu máu vạt... được cho là làm tăng tỉ lệ sống của vạt có ý nghĩa thống kê. Tài liệu tham khảo 1. Nguyễn Việt Tiến, Lê Văn Đoàn, Lê Hồng Hải, Lưu Hồng Hải, Nguyễn Thế Hoàng, Nguyễn Việt Nam, Nguyễn Quốc Dũng, Nguyễn Năng Giỏi (2005). Điều trị tổn khuyết ở chi dưới bằng vạt tự do kinh nghiệm qua 139 trường hợp. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, tập 9, số 2. 2. Davison SP, Clemens MW, Kochuba AL (2013). Anatomy of free flap failures: Dissection of a series. Modern Plastic Surgery 3:89-95 3. Bekara F, Herlin C, Somda S, de Runz A, Grolleau JL, Chaput B (2016). Free versus perforator-pedicled propeller flaps in lower extremity reconstruction: What is the safest coverage? A meta-analysis. Microsurgery. Mar 28. 4. Stranix JT, Anzai L, Mirrer J, Hambley W, Avraham T, Saadeh PB, Thanik V, Levine JP (2016). Dual venous outflow improves lower extremity trauma free flap reconstructions. J Surg Res. 15;202(2):235-8 5. Ngô Thái Hưng (2015). Nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng vạt đùi trước ngoài trong điều trị khuyết hổng vùng cẳng – bàn chân. Luận án tiến sĩ y học. Viện nghiên cứu y dược lâm sàng 108. 6. Heller L, Levin LS (2001). Lower extremity microsurgical reconstruction. Plast Reconstr Surg. 15;108(4):1029-41 7. Bendon CL, Giele HP (2016). Success of free flap anastomoses performed within the zone of trauma in acute lower limb reconstruction. J Plast Reconstr Aesthet Surg. 2016 Jul;69(7):888-93.
File đính kèm:
that_bai_trong_chuyen_vat_tu_do_o_chi_duoi_kinh_nghiem_5_nam.pdf

