Thai ở đồng thời hai vòi tử cung: nhân một trường hợp và điểm qua y văn

Thai ở đồng thời hai vòi tử cung là một bệnh

lý rất hiếm gặp, tần suất khoảng 1/200.000 ca

sinh sống và 1/725-1/1580 trường hợp thai

ngoài tử cung và thường được chẩn đoán vào

thời điểm phẫu thuật. Chúng tôi báo cáo một

trường hợp thai ở đồng thời hai vòi tử cung

được điều trị thành công tại Bệnh viện Phụ

nữ Thành phố Đà Nẵng. Bệnh nhân 27 tuổi,

vô sinh 1, được kích thích buồng trứng bằng

clomiphene citrate và sau đó hướng dẫn quan

hệ tự nhiên. Bệnh nhân trễ kinh 19 ngày, đau

bụng, ra máu âm đạo. Bệnh được chỉ định mổ

nội soi với chẩn đoán trước mổ là thai ở sừng

phải tử cung và chẩn đoán sau mổ (lâm sàng

và giải phẫu bệnh) là thai ở đồng thời hai vòi

tử cung. Bệnh nhân xuất viện sau 03 ngày với

tình trạng ổn định

pdf 5 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Thai ở đồng thời hai vòi tử cung: nhân một trường hợp và điểm qua y văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thai ở đồng thời hai vòi tử cung: nhân một trường hợp và điểm qua y văn

Thai ở đồng thời hai vòi tử cung: nhân một trường hợp và điểm qua y văn
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
117
phạM Chí KôNg, Võ XuâN phúC; Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 117-121, 2013
THAI Ở ĐồNG THỜI HAI VÒI TỬ CUNG:
NHÂN MỘT TRƯỜNG HợP VÀ ĐIỂM QUA y VĂN
phạm Chí Kông1, Võ Xuân phúc1
(*) Bệnh viện Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng
tóm tắt
Thai ở đồng thời hai vòi tử cung là một bệnh 
lý rất hiếm gặp, tần suất khoảng 1/200.000 ca 
sinh sống và 1/725-1/1580 trường hợp thai 
ngoài tử cung và thường được chẩn đoán vào 
thời điểm phẫu thuật. Chúng tôi báo cáo một 
trường hợp thai ở đồng thời hai vòi tử cung 
được điều trị thành công tại Bệnh viện Phụ 
nữ Thành phố Đà Nẵng. Bệnh nhân 27 tuổi, 
vô sinh 1, được kích thích buồng trứng bằng 
clomiphene citrate và sau đó hướng dẫn quan 
hệ tự nhiên. Bệnh nhân trễ kinh 19 ngày, đau 
bụng, ra máu âm đạo. Bệnh được chỉ định mổ 
nội soi với chẩn đoán trước mổ là thai ở sừng 
phải tử cung và chẩn đoán sau mổ (lâm sàng 
và giải phẫu bệnh) là thai ở đồng thời hai vòi 
tử cung. Bệnh nhân xuất viện sau 03 ngày với 
tình trạng ổn định.
abStract
simuLtanEous biLatERaL tubaL pREgnancy: a 
casE REpoRt and REViEW oF tHE LitERatuRE
Simultaneous bilateral tubal pregnancy 
is very rare. The incidence of simultaneous 
bilateral tubal pregnancy is nearly 1/200000 
live births and reported to range from 1 in 725 
to 1 in 1580 ectopic pregnancy. This disease 
is usually diagnosed at the time of surgery. 
We report a case of simultaneous bilateral 
tubal pregnancy which was managed 
successfully at the Danang women’s hospital. 
She was 27 years old, primary infertility, 
induced ovulation by clomiphene citrate 
followed nature intercourse. She was 19 days 
from delayed from her menstruation, vaginal 
bleeding, abdominal pain and indicated 
laparoscopically due to pre-operative 
diagnosis as right cornual ectopic pregnancy. 
Post-operative diagnosis (clinical and 
pathological diagnosis) was simultaneous 
bilateral tubal pregnancy. She was discharged 
from the hospital with good health.
ĐẶt vấn Đề
Thai ngoài tử cung là một trong những 
cấp cứu trong sản phụ khoa. Đây vẫn còn là 
nguyên nhân gây tử vong mẹ hàng đầu trong 
tam cá nguyệt thứ nhất của thai kỳ, chiếm 
khoảng 10% các trường hợp tử vong mẹ ở 
các nước phát triển[1]. Trong vòng 20 năm 
qua, tỉ lệ thai ngoài tử cung tăng gấp 3 lần 
do nhiều yếu tố như tăng tỉ lệ các bệnh lan 
truyền qua đường tình dục, sử dụng kháng 
sinh trong điều trị bệnh lý viêm nhiễm vùng 
chậu, chẩn đoán sớm và chính xác các trường 
hợp thai ngoài tử cung, tăng các biện pháp 
điều trị vô sinh bằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh 
sản và tăng tỉ lệ triệt sản[1],[2]. Tỉ lệ thai ngoài 
tử cung sau thụ tinh trong ống nghiệm dao 
động từ 2,1-9,4 của tất cả các trường hợp 
thai lâm sàng[3]
Thai ở hai vòi tử cung là một bệnh lý phụ 
khoa rất hiếm gặp, tần suất khoảng 1/200.000 
ca sinh sống và 1/725-1/1580 trường hợp 
thai ngoài tử cung[1],[4]. Cho đến ngày nay, có 
hơn 200 trường hợp thai ở hai vòi tử cung 
được báo cáo trong y văn và không có trường 
hợp nào được chẩn đoán trước mổ (Shetty JP, 
BÁO cÁO tRƯỜng hỢP
phạM Chí KôNg, Võ XuâN phúCBÁO cÁO tRƯỜng hỢP
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
118
2011)[5]. Siêu âm có vai trò hạn chế trong chẩn 
đoán thai ở hai vòi tử cung. Có nhiều phương 
pháp điều trị thai ở hai vòi tử cung như cắt 
tử cung đường bụng kèm cắt phần phụ hai 
bên, nôi soi cắt vòi tử cung hay mở thong vòi 
tử cung. Chưa có trường hợp thai ở hai vòi 
tử cung nào được điều trị bằng methotrexate 
được báo cáo trong y văn[1],[4].
Chúng tôi báo cáo trường hợp thai ở hai vòi 
tử cung được điều trị thành công tại Bệnh viện 
Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng. 
bệnh Án
- Họ và tên bệnh nhân: Nguyễn Thị Thùy D., 
27 tuổi.
- Ngày nhập viện: 05/02/2013. Mã số vào 
viện: 1130005101P
- Lý do vào viện: đau bụng và ra máu âm đạo
- quá trình bệnh lý: Bệnh nhân lập gia đình 
03 năm, vô sinh 1. Bệnh nhân đang điều trị 
vô sinh tại phòng mạch tư bằng kích thích 
buồng trứng với clomiphene citrate và 
hướng dẫn quan hệ tự nhiên. Bệnh nhân trễ 
kinh 19 ngày, sau đó đau bụng và ra máu 
âm đạo. Bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện 
Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng và được chỉ định 
nhập viện.
- tình trạng lúc nhập viện:
 + Mạch 100 lần/phút, HA 120/80mmHg.
 + Bụng mềm, ấn hố chậu phải đau nhiều.
 + Khám trong: tử cung hơi lớn hơn bình 
thường, cạnh phải tử cung có khối 2x2cm, ấn 
đau, di động ít. Phần phụ trái bình thường. Túi 
cùng sau đau nhẹ.
 + Siêu âm: tử cung trung gian. Lòng tử 
cung có túi thai giả 25x32mm. Sát sừng phải tử 
cung có cấu trúc hình nhẫn 24x28mm. Buồng 
trứng phải và buồng trứng trái không u. Dịch 
cùng đồ ít (hình 1 và 2).
 + Xét nghiệm β-hCG: 3235mIU/mL.
- Bệnh nhân được hội chẩn và chỉ định mổ 
nội soi với chẩn đoán trước mổ là: Theo dõi thai 
ở sừng phải tử cung.
- tường trình phẫu-thủ thuật:
 + PTV: BS Võ Xuân Phúc- BS Phạm Chí Kông
 + Vào các trocart không tai biến.
 + Quan sát:
 Ổ bụng có # 100ml máu
 Thai ở sừng phải tử cung kích thước 
2,5x2,5cm, căng mọng, đang chảy máu.
 Thai đoạn bóng vòi tử cung trái 
1,5cmx2cm, vỡ chảy máu (hình 3 và 4)
 Tử cung hơi lớn
e	
  
e	
  
Hình 1: Lòng tử cung có túi thai giả
Hình 2: sát sừng phải tử cung có cấu trúc hình nhẫn
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
119
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 117-121, 2013
 + Hội ý kíp mổ, giải thích cho chồng 
bệnh nhân. Sau đó, tiến hành, cắt sừng phải tử 
cung hình chêm, đốt cầm máu (hình 5). Cắt vòi 
tử cung trái, đốt cầm máu.
Hình 3 và 4: Thai ở sừng phải tử cung và vòi tử cung trái
Hình 5: Cắt sừng phải tử cung
 + Rửa bụng. 
 + Gởi bệnh phẩm làm giải phẫu bệnh lý 
(Bệnh viện C Đà Nẵng)
 + Nạo buồng tử cung: ra dịch đà nâu 
và ít tổ chức giống nội mạc tử cung. Gởi bệnh 
phẩm làm giải phẫu bệnh lý.
- kết quả giải phẫu bệnh:
 + Mẫu bệnh phẩm ở sừng phải tử 
cung (W13-70): Thấy nhiều tế bào rụng, tế 
bào nuôi co cụm thành đám nhỏ lan tỏa, 
xen lấn nhiều gai nhau còn non đứng rời rạc, 
nhiều tế bào viêm đa nhân trung tính và đơn 
nhân, xen lẫn một số mô hoại tử đông, một 
số tế bào cơ trơn thoái hóa. Không thấy ác 
tính ở mẫu này. chẩn đoán gpbL: Tổ chức nhau 
thai và màng thai thoái hóa.
 + Mẫu bệnh phẩm ở vòi tử cung trái 
(W13-72): Thấy nhiều tế bào rụng, tế bào 
nuôi co cụm thành đám nhỏ lan tỏa, xen lấn 
nhiều gai nhau còn non đứng rời rạc, nhiều 
tế bào viêm đa nhân trung tính và đơn nhân, 
xen lẫn một số mô hoại tử đông, một số tế 
bào cơ trơn thoái hóa. Không thấy ác tính ở 
mẫu này. chẩn đoán gpbL: Tổ chức nhau thai và 
màng thai thoái hóa.
 + Mẫu bệnh phẩm ở buồng tử cung 
(W13-71): các ống tuyến tăng sinh, các tế bào 
tuyến hình trụ cao, có tính chế tiết rất mạnh, 
mô đệm phù nề, xung huyết nhẹ, có hình ảnh 
phản ứng giả màng rụng, ít tế bào viêm đơn 
nhân xâm nhiễm. chẩn đoán gpbL: Nội mạc tử 
cung phản ứng có thai.
bàn luận
Thai ở đồng thời hai vòi tử cung là một 
bệnh lý hiếm gặp. Trường hợp đầu tiên được 
Rodenberg TA báo cáo vào năm 1918[6]. 
Fishback là tác giả đầu tiên thực hiện một 
tổng kết trong y văn vào năm 1939 và báo 
phạM Chí KôNg, Võ XuâN phúCBÁO cÁO tRƯỜng hỢP
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
120
cáo 76 trường hợp thai ở hai vòi tử cung. 
Sau đó, Edelstein đã tìm kiếm trong y văn 
tiếng Anh vào năm 1989 và tìm thấy thêm 
22 trường hợp nữa. Năm 2007, Andrews J và 
Farrell đã tìm kiếm trong các tạp chí bằng 
tiếng Anh trên Medline và phát hiện thêm 
45 trường hợp kể từ tổng kết của Edelstein 
vào năm 1989. Trong đó, 17 trường hợp liên 
quan với các phương pháp khác nhau trong 
điều trị vô sinh và các kỹ thuật hỗ trợ sinh 
sản và 28 trường hợp là có thai tự nhiên[1]. 
Trường hợp của chúng tôi là có thai sau kích 
thích phóng noãn bằng clomiphene citrate. 
Tìm kiếm trong các tạp chí bằng tiếng Anh 
trên Medline, chúng tôi nhận thấy có 06 
trường hợp thai ở hai vòi tử cung sau kích 
thích buồng trứng bằng clomiphene citrate.
Có nhiều giả thuyết được đưa ra để giải 
thích cho sự xuất hiện của thai ở cả hai vòi 
tử cung. Có giả thuyết cho rằng thai ở hai vòi 
tử cung cần phải có nhiều noãn được phóng 
ra, thụ tinh và sau đó làm tổ ở những vị trí 
tổn thương của vòi tử cung. Một nguyên 
nhân khác là sự di cư ngang qua phúc mạc 
của tế bào nuôi từ vòi tử cung này đến vòi tử 
cung khác. Một lý giải khác là do sự thụ tinh 
khác kỳ, có nghĩa là sự thụ tinh và phát triển 
của noãn thứ hai khi người phụ nữ vừa có 
thai. Một giả thuyết nữa là thai thứ hai xảy 
ra sau khi thai thứ nhất bị hư. Nếu thai thứ 
nhất bị sẩy thai tự nhiên, đang trong quá 
trình sẩy thai và sự phóng noãn lần hai có 
thể xảy ra trong quá trình này, dẫn đến thai 
ở cả hai vòi tử cung[1]. Bệnh nhân của chúng 
tôi có sử dụng clomiphene citrate để kích 
thích buồng trứng, điều này có thể làm cho 
nhiều noãn được phóng, thụ tinh và làm tổ 
ở các nơi vòi tử cung bị tổn thương. Ngoài 
ra, ngay cả việc sử dụng clomiphene citrate 
trong điều trị vô sinh do rối loạn phóng noãn 
cũng được cho làm tăng tần suất thai ngoài 
tử cung. Nghiên cứu của Shao R và cộng sự 
ở in vivo cho thấy khi sử dụng clomiphene 
citrate, sự chết tế bào theo chương trình 
của tế bào biểu mô ở vùng eo vòi tử cung 
cùng với sự hoạt hóa thụ thể ESR-2A của 
nhung mao sẽ ức chế giao tử và con đường 
di chuyển của phôi qua vòi tử cung, cuối 
cùng dẫn đến thai ngoài tử cung[7].
Hầu hết các bệnh nhân thai ở hai vòi tử 
cung đều có các triệu chứng lâm sàng và 
yếu tố nguy cơ tương tự ở bệnh nhân bị thai 
ngoài tử cung một bên. Tam chứng thường 
gặp nhất là trễ kinh, ra máu âm đạo và đau 
bụng. Nồng độ β-hCG và vùng phân biệt 
(discriminatory zone) không đủ độ tin cậy 
ở các bệnh nhân bị thai ở hai vòi tử cung. 
Siêu âm cũng không hữu ích trong việc xác 
định thai ở hai vòi tử cung. Vì vậy, thường 
chẩn đoán thai ở hai vòi tử cung trong lúc 
phẫu thuật. Điều này nhấn mạnh việc xác 
định và đánh giá cẩn thận cả hai vòi tử cung 
lúc phẫu thuật ngay cả trong trường hợp 
có dính nhiều ở vùng chậu. Giống như các 
trường hợp thai ở hai vòi tử cung được báo 
cáo trước đây, chúng tôi cũng không chẩn 
đoán chính xác thai ở hai vòi tử cung trước 
phẫu thuật. Về mô học, Fishback là tác giả 
đầu tiên đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán thai 
ở đồng thời hai vòi tử cung, bao gồm phần 
thai cũng như bánh nhau (1939). Sau đó 
(1953), Norris tuyên bố rằng việc xác định 
có lông nhau về mặt vi thể là đủ để chẩn 
đoán[1],[4].
Có nhiều biện pháp điều trị thai ở hai 
vòi tử cung cùng lúc. Phần lớn các trường 
hợp này đều được phẫu thuật cắt hai vòi 
tử cung[8]. Phẫu thuật nội soi là biện pháp 
được lựa chọn tốt nhất vì thời gian hồi phục 
nhanh[9]. Trường hợp thai ở hai vòi tử cung 
cùng lúc được điều trị bằng phẫu thuật nội 
soi đầu tiên bởi Takeuchika vào năm 1995. 
Kể từ đó, có nhiều báo cáo về điều trị thai ở 
hai vòi tử cung cùng lúc bằng cách cắt vòi 
tử cung và mở thông vòi tử cung qua nội 
soi. Cũng có các báo cáo về các trường hợp 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
121
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 117-121, 2013
không chẩn đoán được thai ở hai vòi tử cung 
cùng lúc vào thời điểm phẫu thuật đầu tiên. 
Trong các trường hợp này, bệnh nhân quay 
lại vì đau bụng nhiều hơn do vỡ vòi tử cung 
đối bên. Vì vậy, chẩn đoán thai ở hai vòi tử 
cung cùng lúc được đưa ra ở lần phẫu thuật 
thứ hai. Không có báo cáo nào về việc điều 
trị nôi khoa thai ở hai vòi tử cung cùng lúc. 
Tuy nhiên, do thai ở hai vòi tử cung cùng 
lúc thường được chẩn đoán lúc phẫu thuật 
nên có thể có những trường hợp thầy thuốc 
không biết và việc điều trị nội khoa có thể 
dẫn đến thành công ở các trường hợp thai ở 
hai vòi tử cung cùng lúc. Walter đã báo cáo 
trường hợp thai ở hai vòi tử cung cùng lúc 
mãn tính và thai vòi tử cung cấp tính sau 
điều trị thất bại một trường hợp thai ngoài 
tử cung trước đó bằng methotrexare[1]. 
Trong trường hợp của chúng tôi, do một 
thai ở sừng tử cung vỡ và một thai ở đoạn 
bóng vỡ nên chúng tôi chọn phương pháp 
cắt cả hai vòi tử cung sau khi giair thích cho 
chồng của bệnh nhân biết về khả năng sinh 
sản của cô ta sau này.
Kết luận
Thai ở hai vòi tử cung cùng lúc là một 
bệnh lý hiếm gặp. Hiện nay, với việc ứng 
dụng ngày càng nhiều các kỹ thuật hỗ trợ 
sinh sản, tỉ lệ này cũng có xu hướng tăng 
lên. Chẩn đoán trước phẫu thuật vẫn còn 
là một thách thức đối với các nhà sản phụ 
khoa và phần lớn các trường hợp được 
chẩn đoán trong phẫu thuật. Nội soi vẫn là 
phương pháp chẩn đoán và điều trị chính 
đối với thai ở hai vòi tử cung cùng lúc.
Tài liệu Tham khảo
1. Andrews J, Farrell S (2008), 
Spontaneous bilateral tubal pregnancies: 
a case report, J Obstet Gynaecol Can, 
30(1), 51-54.
2. Al-Quraan GA, Al-Taan MI, Nusair 
BM et al (2007), Spontaneous ruptured 
and intact bilateral tubal ectopic 
pregnancy, Eastern Mediterranean 
Health Journal, 13(4), 972-974.
3. Ghaffari F, Yazdi PE, Kiani K (2011), 
A case report of bilateral tubal ectopic 
pregnancy following day 5 embryo 
transfer, Arch Med Sci, 7(6), 1087-1088.
4. Wali AS, Khan RS (2012), 
Spontaneous bilateral tubal pregnancies, 
Journal of the College of Physicians and 
Surgeons Pakistan, 22(2), 118-119.
5. Shetty JP, Shetty B, Makkanavar 
JH, Chandrika (2011), A rare case of 
bilateral tubal pregnancy, J Indian Med 
Assoc, 109, 506-507.
6. Rodenberg TA, DJ (1918), Bilateral 
spontaneous tubal pregnancy, South 
Med J, 74(11), 1426.
7. Shao R, Nutu M, Weijdegard B et 
al (2009), Clomiphene citrate causes 
aberrant tubal apoptosis and estrogen 
receptor activation in rat fallopian tube: 
implications for tubal ectopic pregnancy, 
Biology of reproduction, 80, 1262-1271.
8. Sommer EM, Reisenberger K, 
Bogner G, Nagele F (2002), Laparoscopic 
management of an unrecognized 
spontaneous bilateral tubal pregnancy, 
Acta Obstet Gynecol Scand, 81, pp.366-368.
9. Rajapaksha RKLS, Tharangani 
MDV, Ratnayake UP (2010), a case of 
spontaneous bilateral tubal pregnancy, 
Sri Lanka Juornal of Obstetrics and 
Gynecology, 32, 89-90.

File đính kèm:

  • pdfthai_o_dong_thoi_hai_voi_tu_cung_nhan_mot_truong_hop_va_diem.pdf