Thai ngoài tử cung vỡ nhập viện muộn

Một nghiên cứu cắt ngang thực hiện tại Bệnh viện phụ sản Thành

phố Cần Thơ về các trường hợp thai ngoài tử cung vỡ đến muộn (mất

> 300 ml máu) từ 05/2015 – 04/2016 . Kết quả có 54 trường hợp trong

138 trường hợp chẩn đoán thai ngoài tử cung chiếm tỷ lệ 39%. Có 12

trường hợp (22.2 %) bị sốc mất máu và 7 trường hợp (13 %) máu mất

> 1000 ml. Có 12 trường hợp (22.22 %) cần phải truyền máu và lượng

máu phải truyền nhiều nhất là khoảng 1500 ml máu (4 đơn vị 350 ml).

Có 9 trường hợp (16.7%) chưa có con. Tỷ lệ có 1 con là 28 (51.58 %).

Khoảng 50% bệnh nhân đã phẫu thuật cắt vòi trứng hoặc chưa có con

hoặc chỉ có 1 con. Triệu chứng lâm sàng gặp nhiều nhất là di động tử

cung bệnh nhân đau. Có trường hợp thai ngoài vỡ khi nồng độ β – hCG

chỉ là 146,6 ml/ mL. Kết luận: tỷ lệ thai ngoài tử cung vỡ (máu mất > 300

ml)vẫn còn cao mặc dù hiện tại đã có nhiều phương tiện để chẩn đoán

(siêu âm đầu dò âm đạo, định lượng β – hCG). Tìm hiểu đặc điểm của

những trường hợp thai ngoài tử cung vỡ sẽ giúp làm giảm tỷ lệ thai ngoài

vỡ cùng những với những biến chứng của nó.

pdf 5 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Thai ngoài tử cung vỡ nhập viện muộn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thai ngoài tử cung vỡ nhập viện muộn

Thai ngoài tử cung vỡ nhập viện muộn
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 53 - 57, 2017
53
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
Nguyễn Quốc Tuấn 
Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
THAI NGOÀI TỬ CUNG VỠ NHẬP VIỆN MUỘN 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Quốc Tuấn,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
23/11/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/12/2016
Tóm tắt
Một nghiên cứu cắt ngang thực hiện tại Bệnh viện phụ sản Thành 
phố Cần Thơ về các trường hợp thai ngoài tử cung vỡ đến muộn (mất 
> 300 ml máu) từ 05/2015 – 04/2016 . Kết quả có 54 trường hợp trong 
138 trường hợp chẩn đoán thai ngoài tử cung chiếm tỷ lệ 39%. Có 12 
trường hợp (22.2 %) bị sốc mất máu và 7 trường hợp (13 %) máu mất 
> 1000 ml. Có 12 trường hợp (22.22 %) cần phải truyền máu và lượng 
máu phải truyền nhiều nhất là khoảng 1500 ml máu (4 đơn vị 350 ml). 
Có 9 trường hợp (16.7%) chưa có con. Tỷ lệ có 1 con là 28 (51.58 %). 
Khoảng 50% bệnh nhân đã phẫu thuật cắt vòi trứng hoặc chưa có con 
hoặc chỉ có 1 con. Triệu chứng lâm sàng gặp nhiều nhất là di động tử 
cung bệnh nhân đau. Có trường hợp thai ngoài vỡ khi nồng độ β – hCG 
chỉ là 146,6 ml/ mL. Kết luận: tỷ lệ thai ngoài tử cung vỡ (máu mất > 300 
ml)vẫn còn cao mặc dù hiện tại đã có nhiều phương tiện để chẩn đoán 
(siêu âm đầu dò âm đạo, định lượng β – hCG). Tìm hiểu đặc điểm của 
những trường hợp thai ngoài tử cung vỡ sẽ giúp làm giảm tỷ lệ thai ngoài 
vỡ cùng những với những biến chứng của nó.
Abstract 
A cross-sectional study carried out at the Can Tho Obstetrics 
and Gynecology Hospital on late ruptured ectopic pregnancy (blood 
loss greater than 300 ml) from 05/2015 – 04/2016. There were 
54 (39%) cases of late ruptured ectopic pregnancy rupture in 138 
cases of ruptured ectopic pregnancy. There were 12 cases ( 22%) 
of third and fourth degree hemorrhagic shock and 7 cases (13 %) 
with blood loss greater > 1000 mL. Twelve cases (22.22%) needed 
blood transfusions and the maximum amount of blood needed was 
1500 ml of whole blood (4 units of 350 ml). Nine women ( 16.7%) 
were nulliparous. Twenty eight (51.58%) women had one child. 
Approximately 50% of patients had previous tubal surgery, no 
children, or only one child. The clinical sign seen most frequently 
NGUYỄN QUỐC TUẤN
54
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
was uterine pain when accessing uterine mobility. There are cases of ruptured ectopic pregnancy 
when β - hCG was only 146.6 / mL. 
Conclusion: The rate of ruptured ectopic pregnancy (blood loss greater than 300 ml) was still high 
despite of many available diagnostic tests (vaginal ultrasound, quantitative β - hCG). Finding the 
characteristics of the ruptured ectopic pregnancy may help reduce its incidence and complications.
Cỡ mẫu
Chọn tất cả những trường hợp thỏa điều kiện 
nhập viện tại Bệnh viện phụ sản Cần Thơ và 
Khoa Sản BV Trường Đại học Y dược Cần Thơ từ 
05/2015 – 04/2016.
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
- Những trường hợp được chẩn đoán là thai 
ngoài tử cung nhập viện tại 2 bệnh viện trên.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân bị tâm thần, khó tiếp xúc.
4. Kết quả
Từ khoảng 05/2015 – 04/2016 chúng tôi ghi 
nhận được 138 trường hợp được chẩn đoán thai 
ngoài tử cung và nhập viện điều trị tại Bệnh viện 
phụ sản Cần Thơ và Khoa Sản BV Trường Đại học Y 
dược Cần Thơ. Trong đó có 54 trường hợp khi phẫu 
thuật lượng máu mất được ghi nhận là ≥ 300 ml.
4.1 Tỷ lệ thai ngoài tử cung vỡ nhập 
viện muộn
1. Đặt vấn đề 
Ngày nay, do nhiều nguyên nhân tỷ lệ thai ngoài 
tử cung ngày càng tăng. Tuy nhiên, đối với các nước 
đã phát triển thì tỷ lệ thai ngoài tử cung vỡ (có thể gây 
choáng mất máu) rất thấp. Chẩn đoán sớm thai ngoài 
tử cung (trước khi khối thai vỡ) sẽ giúp người thầy thuốc 
có nhiều phương pháp điều trị, bệnh nhân có nhiều 
khả năng giữ được ống dẫn trứng và ít nguy hiểm đến 
tính mạng. Ở Cần Thơ mặc dù phương tiện để chẩn 
đoán tương đối đầy đủ (siêu âm đầu dò âm đạo, định 
lượng β - hCG) nhưng tỷ lệ thai ngoài tử cung vỡ vẫn 
còn khá cao. Tìm hiểu những đặc điểm của thai ngoài 
tử cung vỡ đến muộn (mất > 300 ml) cũng sẽ giúp thầy 
thuốc làm tăng tỷ lệ chẩn đoán sớm thai ngoài tử cung 
giảm những nguy cơ cho bệnh nhân.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm của những trường hợp 
thai ngoài tử cung vỡ nhập viện muộn với 2 mục 
tiêu: 1. Khảo sát tỷ lệ đặc điểm lâm sàng và cận 
lâm sàng của thai ngoài tử cung vỡ nhập viện 
muộn; 2. Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến thai 
ngoài tử cung vỡ nhập viện muộn.
3. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: 
Cắt ngang mô tả có phân tích. 
Chúng tôi chọn tất cả những trường hợp chẩn 
đoán thai ngoài tử cung được nhập viện ở 2 bệnh 
viện nêu trên. Lượng máu mất được ghi nhận trong 
biên bản phẫu thuật, chúng tôi Biểu đồ 1: Tỷ lệ TNTC nhập viện muộn (mất ≥ 300 ml)
Mặc dù ở Cần Thơ cũng có đầy đủ các xét 
nghiệm để chẩn đoán thai ngoài tử cung như siêu 
âm đầu dò âm đạo, định lượng β – hCG, nhưng 
tỷ lệ thai ngoài tử cung nhập viện muộn cũng còn 
khá cao.
4.2 Đặc điểm xã hội học của những 
trường hợp thai ngoài tử cung nhập 
viện muộn
Độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 31,5. Độ 
tuổi 25 - 35 chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,15% (26 
trường hợp). Tuổi nhỏ nhất là 20 tuổi và lớn nhất 
43 tuổi, có 5 ca bệnh nhân trên 40 tuổi (ở những 
bệnh nhân này chu kỳ kinh không đều và do lớn 
tuổi nên bệnh nhân có thể chủ quan cho rằng mình 
không có khả năng có thai nên ít áp dụng biện 
pháp tránh thai hiệu quả cao và khi có trễ kinh 
thường không đi khám sớm). Có 9 trường hợp 
(16,67%) chưa có con và 28 trường hợp (51,85%) 
chỉ có 1 con 
4.3 Lý do nhập viện 
Đau bụng thường là biểu hiện lâm sàng của 
thai ngoài tử cung có biến chứng . . . Muốn được 
chẩn đoán sớm thai ngoài tử cung thì quan trọng 
nhất là bệnh nhân phải tới sớm, tức là bệnh nhân 
phải đến khám khi trễ kinh. Có thể bệnh nhân tới 
trễ do kinh nguyệt không đều nên bệnh nhân nghĩ 
mình không có thai và không quan tâm đi khám 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 53 - 57, 2017
55
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
Đặc điểm Phân loại – Tần suất (n) – Tỷ lệ (%) Tổng số
Tuổi
35 54
(100%)11 (20,4%) 26 (48,1%) 17 (31,5%)
Số con
0 1 2 >3
54
(100%)9
(16,67%)
28
(51,85%)
15
(27,78%)
2
(3,7%)
Nơi ở
Thành thị Nông thôn 54
(100%)21 (38,89%) 33 (61,11%)
Áp dụng BBTT
Có Không 54
(100%)20 (37,04%) 34 (62,96%)
Bảng 1: Đặc điểm xã hội học
Biểu đồ 2: Phân bố lý do nhập viện
thai sớm, cũng có thể bệnh nhân đã trễ kinh nhưng 
chủ quan không đi khám sớm và chỉ đi khám khi có 
biểu hiện đau bụng. 
4.4 Số lượng máu mất và lượng máu 
đã truyền
Đa phần các trường hợp mất từ 300 - 500ml 
máu 36 trường hợp (66,67%). Có 11 trường 
hợp (20,37%) mất từ 500 - 1000ml máu Đáng 
chú ý có đến 7 trường hợp mất >1000ml máu 
(12,96%) 1 và trường hợp bệnh nhân mất đến 
3000ml máu. 
Có 12 trường hợp (22,22%) bệnh nhân thai 
ngoài tử cung vỡ nhập viện muộn cần phải truyền 
máu. Trong đó, nhiều nhất là truyền 2 đơn vị máu 
350ml, 8 trường hợp (66,67%). Có 3 trường hợp 
truyền 1 đơn vị máu 350ml (25%) và có 1 trường 
hợp phải truyền đến 4 đơn vị máu 350ml (8,33%). 
Tỷ lệ cũng như số lượng máu truyền tăng sẽ làm 
tăng nguy cơ cho bệnh nhân mắc các tai biến 
truyền máu cũng như phải bỏ ra chi phí khá lớn 
để điều trị.
4.5 Phương pháp phẫu thuật. 
Cắt ống dẫn trứng là phẫu thuật được dùng 
trong những trường hợp này. Tuy nhiên có 19 ca 
(35,19%) phải mở bụng lớn. Điều đáng chú ý là 
trong đó có 9 trường hợp chưa có con và 28 trường 
hợp chỉ có 1 con. Khả năng mang thai trong tương 
lai của bệnh nhân bị giảm sẽ gây tâm lý mang tính 
tiêu cực cho bệnh nhân. 
Đặc điểm Phân loại – Số lượng – Tỷ lệ
Lượng máu mất
300 – 500 ml 500 – 1000 ml > 1000 ml
36
(66,67%)
11
(20,37%)
7
(12,96%)
Lượng máu cần truyền 
(350 ml/1 đơn vị)
1 đơn vị 2 đơn vị ≥ 3 đơn vị
3
(25%)
8
(66,67%)
1
(8,33%)
Bảng 2: Số lượng máu mất và lượng máu đã truyền
Biểu đồ 3: Tỷ lệ các phương pháp phẫu thuật
NGUYỄN QUỐC TUẤN
56
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
4.6 Phương pháp tránh thai đã áp 
dụng trước đó
Viên thuốc tránh thai loại phối hợp và Bao cao 
su là phương pháp tránh thai thường được khuyên 
dùng nếu bệnh nhân đã từng bị thai ngoài tử cung 
hay có yếu tố thuận lợi dẫn đến thai ngoài tử cung. 
Tuy nhiên trong những trường hợp thai ngoài tử 
cung vỡ đến muộn. Tỷ lệ bệnh nhân áp dụng biện 
pháp tránh thai này cao hơn các biện pháp tránh 
thai khác điều này nói lên 2 vấn đề cần tìm hiểu: 
(1) Bệnh nhân đã áp dụng biện pháp tránh thai 
không đúng nên đã mang thai → có hình thức tư 
vấn để giúp “khách hàng” có kiến thức, thái độ 
cũng như thực hành đúng khi áp dụng các biện 
pháp tránh thai này. (2) Vì đang áp dụng biện 
pháp tránh thai có hiệu quả cao nên có thể bệnh 
nhân mang tâm lý chủ quan (mình không thể có 
thai) nên không đi khám sớm khi có những biểu 
hiện bất thường → tư vấn cho “khách hàng” hiểu 
rằng các biện pháp tránh thai nào cũng có tỷ lệ 
thất bại, chính vì thế dù đang áp dụng các biện 
pháp tránh thai có hiệu quả cao thì nếu thấy những 
dấu hiệu bất thường (trễ kinh, đau dạ dày, buồn 
nôn, nôn . . . ) thì “khách hàng” cũng nên đi khám 
để chẩn đoán sớm thai ngoài tử cung (nếu có).
4.7 Nồng độ β – HCG < 1500 mUI/ ml. 
Nồng độ β-hCG trung bình là 9549 mUI/ml, 
thấp nhất là 146,6 mUI/ml, cao nhất là 90,992 
mUI/ml. Số trường hợp có nồng độ β-hCG ≤ 
1500 mUI/ml là 7 trường hợp (14,29%), nhiều 
nhất là số trường hợp có nồng độ β-hCG từ 1500 
– 6500 mUI/ml với 27 trường hợp (55,10%). Có 
15 trường hợp ghi nhận nồng độ β-hCG >6500 
mUI/ml (30,61%).
Theo lý thuyết thì nồng độ β-hCG trong máu 
càng cao thì nguy cơ khối thai vỡ càng tăng. Tuy 
nhiên, kết quả của định lượng nồng độ β-hCG 
trong máu trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 
rằng nồng độ β-hCG không phải là yếu tố giúp 
để tiên lượng khối thai có nguy cơ vỡ hay không 
(trong nghiên cứu này nồng độ thai thấp nhất ghi 
nhận được là 146,6 mUI/ml) thai ngoài tử cung 
Viên phối 
hợp
Dụng cụ tử 
cung
Bao cao 
su
Viên ngừa 
khẩn
Xuất tinh 
ngoài
Tính vòng 
kinh
Tần suất (n) 8 0 6 4 4 3
Tỷ lệ (%) 14,81 0 11,11 7,41 7,41 5,56
Bảng 3: Tỷ lệ các phương pháp tránh thai đã được áp dụng 
vẫn có thể vỡ khi nồng độ β-hCG, đây là 1 dữ kiện 
giúp các bác sĩ sản khoa lưu ý không chủ quan khi 
thấy nồng độ β-hCG thấp để tránh việc chẩn đoán 
và xử trí muộn. Có 42 (77,78%) trường hợp định 
lượng nồng độ β-hCG > 6500 mUI/ml, ở nồng 
độ β-hCG này có thể nghi ngờ rất cao thai ngoài 
tử cung khi siêu âm không thấy túi thai thật trong 
lòng tử cung. Theo lý thuyết khi nồng độ β-hCG ≥ 
1500 mUI/ ml nếu siêu âm bằng đầu dò âm đạo 
không thấy túi thai thật trong lòng tử cung thì khả 
năng thai ngoài tử cung cao, nếu nồng độ β-hCG 
≥ 6500 mUI/ ml mà siêu âm đầu dò bụng không 
thấy túi thai thật trong lòng tử cung cần phải nghĩ 
nhiều đến thai ngoài tử cung và phải chẩn đoán 
càng sớm càng tốt (nguy cơ vỡ cao)
4.8 Các yếu tố làm tăng tỷ lệ “Thai 
ngoài tử cung vỡ đến muộn”
“Không đi khám thai” và “Không được chẩn 
đoán ở lần khám thai đầu tiên” làm tăng nguy cơ 
thai ngoài tử cung vỡ nhập viện muộn từ 3 – 4 lần. 
Ngoài ra, 1 yếu tố làm tăng nguy cơ dẫn đến thai 
ngoài tử cung vỡ nhập viện muộn là bệnh nhân 
không nhớ ngày kinh cuối (OR = 3,9; 95% CI = 
1,8-8,3). 
5. Kết luận
- Tỷ lệ thai ngoài tử cung vỡ có lượng máu mất 
> 300 ml còn khá cao.
- Hình thái lâm sàng “Trễ kinh – Ra huyết – Đau 
bụng” thường gặp nhất.
- Tỷ lệ mất máu và cần phải truyền máu khá cao.
- Nồng độ β-hCG không là yếu tố tiên lượng 
khối thai có vỡ hay không. Cần cẩn thận và đánh 
giá các triệu chứng lâm sàng kèm theo.
- Không nhớ ngày kinh cuối, không đi khám thai 
sớm sau khi trễ kinh, Không được chẩn đoán thai 
ngoài tử cung ở lần khám đầu là các yếu tố làm tăng 
nguy cơ thai ngoài tử cung vỡ nhập viện muộn
Kiến nghị
- Giáo dục cho người phụ nữ hiểu rõ về chu kỳ 
kinh nguyệt của mình, cụ thể nên nhớ ngày kinh 
cuối của mình để phát hiện sớm trễ kinh và các vấn 
đề bất thường về kinh nguyệt.
Yếu tố OR P 95% CI
Không đi khám thai 3,8 0,003 1,6 – 9,4
Không được chẩn đoán thai ngoài tử cung ở lần khám đầu 3,7 0,002 1,6 – 8,6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 53 - 57, 2017
57
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
- Khuyến cáo người phụ nữ (đặc biệt là những 
trường hợp đang để có thai) nên đi khám phụ khoa 
ngay khi có triệu chứng bất thường như đau bụng, 
ra huyết âm đạo, trễ kinh để được bác sĩ chuyên 
khoa thăm khám và xử trí kịp thời.
- Đối với những trường hợp tư vấn các biện pháp 
tránh thai nên lưu ý với “khách hàng” là không có 
biện pháp tránh thai nào hiệu quả 100% vì thế nếu 
có các dấu hiệu giống như có thai (buồn nôn, nôn, 
đau thượng vị, trễ kinh . . . ) thì nên đi khám.
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
1. Bệnh viện Từ Dũ (2015), “Thai ngoài tử cung”, Phác đồ Điều trị 
Sản - Phụ khoa, tr. 173-179.
2. Nguyễn Diệu Hiền và Cao Ngọc Thành (2010), Nghiên cứu đặc 
điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị thai ngoài tử cung 
bằng phẫu thuật mở tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, Luận 
văn thạc sĩ y học, Đại học Y Dược Huế.
3. Nguyễn Quốc Tuấn (2006), “Khảo sát đặc điểm các trường hợp thai 
ngoài tử cung tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ – 2006.”, 
Tuyển tập Công trình nghiên cứu khoa học, tr. 151-156.
Tiếng Anh
4. Amy J. Voedisch – Carrie E. Frederick – Thomas G. Stovall (2015), 
“Early Pregnancy Loss and Ectopic Pregnancy”, Berek and Novak’s 
Gynecology 15th, pp. 1126-1169.
5. Cheng Li et al (2015), Risk factors for ectopic pregnancy: a multi-
center case-control study, BMC Pregnancy and Childbirth.
6. Ronald S.; Karlan Gibbs, Beth Y.; Haney, Arthur F.; Nygaard, Ingrid 
E, (2008), “Chapter 5: Ectopic Pregnancy”, Danforth’s Obstetrics and 
Gynecology, 10th Edition, pp. 71-87.
7. NICE guideline (2012), Ectopic pregnancy and miscarriage: diagnosis 
and initial management.

File đính kèm:

  • pdfthai_ngoai_tu_cung_vo_nhap_vien_muon.pdf