Thai chậm tăng trưởng những vấn đề lưu ý trong chẩn đoán và theo dõi

Nhỏ so với tuổi thai thường được định nghĩa là trẻ có cân nặng lúc

sanh nhỏ hơn bách phân vị thứ 10 của một dân số. Thai chậm tăng

trưởng là thai nhi không đạt được tiềm năng tăng trưởng sinh học do suy

giảm chức năng bánh nhau. Thai chậm tăng trưởng chiếm 28-45% thai

lưu (không bị dị tật) và có nhiều khả năng chậm phát triển tâm thần,

béo phì sau này và mắc các bệnh lý chuyển hóa. Tuy nhiên đa số trẻ

này không được nhận diện đúng trước sanh. Tăng cường khả năng phát

hiện cùng với việc theo dõi đúng và xử lý kịp thời sẽ giúp giảm tỉ lệ thai

lưu do thai nhỏ. Tiêu chuẩn chẩn đoán và kế hoạch theo dõi thai chậm

tăng trưởng thay đổi theo từng vùng và từng nước rất nhiều. Mục tiêu

của bài tổng quan này nhằm nêu ra các vấn đề trong việc tầm soát thai

chậm tăng trưởng, cách để tăng cường cũng như 1 số đồng thuận trong

chẩn đoán và theo dõi thai nhỏ so với tuổi thai.

pdf 5 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Thai chậm tăng trưởng những vấn đề lưu ý trong chẩn đoán và theo dõi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thai chậm tăng trưởng những vấn đề lưu ý trong chẩn đoán và theo dõi

Thai chậm tăng trưởng những vấn đề lưu ý trong chẩn đoán và theo dõi
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
35
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 35 - 39, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
Nguyễn Đình Vũ 
Bệnh viện Hùng Vương, Tp. Hồ Chí Minh
THAI CHẬM TĂNG TRƯỞNG NHỮNG VẤN ĐỀ LƯU Ý 
TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ THEO DÕI
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Đình Vũ, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 03/05/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/05/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/05/2019
Tóm tắt
Nhỏ so với tuổi thai thường được định nghĩa là trẻ có cân nặng lúc 
sanh nhỏ hơn bách phân vị thứ 10 của một dân số. Thai chậm tăng 
trưởng là thai nhi không đạt được tiềm năng tăng trưởng sinh học do suy 
giảm chức năng bánh nhau. Thai chậm tăng trưởng chiếm 28-45% thai 
lưu (không bị dị tật) và có nhiều khả năng chậm phát triển tâm thần, 
béo phì sau này và mắc các bệnh lý chuyển hóa. Tuy nhiên đa số trẻ 
này không được nhận diện đúng trước sanh. Tăng cường khả năng phát 
hiện cùng với việc theo dõi đúng và xử lý kịp thời sẽ giúp giảm tỉ lệ thai 
lưu do thai nhỏ. Tiêu chuẩn chẩn đoán và kế hoạch theo dõi thai chậm 
tăng trưởng thay đổi theo từng vùng và từng nước rất nhiều. Mục tiêu 
của bài tổng quan này nhằm nêu ra các vấn đề trong việc tầm soát thai 
chậm tăng trưởng, cách để tăng cường cũng như 1 số đồng thuận trong 
chẩn đoán và theo dõi thai nhỏ so với tuổi thai.
Abstract 
FETAL GROWTH RESTRICTION: PROBLEMS 
NOTICE IN DIAGNOSTIC AND TRACKING
Small for gestational age is usually defined as an infant with a 
birthweight <10th centile for a population. Fetal growth restriction refers 
to a fetus that has failed to reach its biological growth potential because of 
placental dysfunction. Small-for-gestational-age babies make up 28-45% of 
nonanomalous stillbirths, and have a higher chance of neurodevelopmental 
delay, childhood and adult obesity, and metabolic disease. The majority 
of small-for-gestational-age babies are not recognized before birth. 
Improved identification, accompanied by surveillance and timely delivery, 
is associated with reduction in small-forgestational-age stillbirths. 
Internationally and regionally, detection of small for gestational age and 
management of fetal growthn problems vary considerably. The aim of 
this review is to summarize the problems of screening for SGA and the 
consensus in diagnosis and surveillance of SGA fetus.
NGUYỄN ĐÌNH VŨ
36
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
1. Giới thiệu
Nhỏ so với tuổi thai thường được định nghĩa là 
trẻ có cân nặng lúc sanh nhỏ hơn bách phân vị thứ 
10 của một dân số (1). Định nghĩa này sẽ bao gồm 
cả 18-22% trẻ có cân nặng nhỏ nhưng hoàn toàn 
khỏe mạnh (2). 
Thai chậm tăng trưởng (TCTT) là thai nhi không 
đạt được tiềm năng tăng trưởng sinh học do suy 
giảm chức năng bánh nhau. TCTT có 1 phần lớn là 
thai nhỏ so với tuổi thai nhưng khó định nghĩa hơn 
trong thực hành khi mà không phải tất cả đều có 
cân nặng nhỏ hơn bách phân vị thứ 10.
Thai chậm tăng trưởng quan trọng vì nó chiếm 
28-45% thai lưu không dị tật (3). Suy tuần hoàn 
bánh nhau là yếu tố chính trong sinh bệnh học và 
dẫn đến những kết cục xấu của thai kì. Trẻ sanh 
nhẹ cân có nguy cơ cao hơn bị chậm phát triển tâm 
thần, học kém, béo phì và mắc các bệnh lý chuyển 
hóa. Một vấn đề trong chăm sóc trước sanh hiện tại 
là đa số các thai nhỏ không được nhận diện trước 
sanh. Nếu phát hiện được trước sanh và theo dõi 
và xử trí phù hợp sẽ giảm được 4-5 lần tử suất và 
các bệnh suất nặng (4). Vì vậy thai lưu do TCTT là 
có thể phòng ngừa được nếu phát hiện sớm. 
Tuy nhiên tiêu chẩn đoán và kế hoạch theo dõi 
thai chậm tăng trưởng thay đổi theo từng cơ sở và 
từng vùng. Các định nghĩa thai chậm tăng trưởng chỉ 
dựa trên kích thước cũng như siêu âm Doppler động 
mạch rốn hiện tại không còn phù hợp. Cũng như 
trong theo dõi thai chậm tăng trưởng sau nghiên cứu 
TRUFFLE đã có nhiều thay đổi trong quan điểm xử trí 
(5). Mục tiêu của bài tổng quan này nhằm nêu ra các 
vấn đề trong việc tầm soát thai chậm tăng trưởng, các 
để tăng cường cũng như 1 số đồng thuận trong chẩn 
đoán và theo dõi thai nhỏ so với tuổi thai.
2. Nhận diện thai nhỏ so với 
tuổi thai tại Việt Nam, chúng 
ta đang có gì ?
Kích thước thai được ước lượng trước sanh là 
một trong những chăm sóc tiền sản không thể thiếu. 
Việc ước lượng này có thể bằng khám tay, đo bề 
cao tử cung cũng như qua siêu âm. 
Về phương diện siêu âm, việc tranh cãi trong 
sử dụng bảng tham khảo nào dường như chưa thể 
có câu trả lời rõ ràng. Hiện nay có hơn 100 bảng 
tham khảo đã được công bố, đa số đều sử dụng 
phương pháp cắt ngang để thực hiện và không lưu 
ý nhiều đến tính đồng nhất trong dân số chọn mẫu. 
Một điểm lưu ý nữa là đa số bảng tham khảo được 
tạo nên từ việc sử dụng cân nặng của trẻ sanh non 
– và được cho là một trẻ bình thường, điều này 
có thể làm cho bảng cân nặng đánh giá thấp cân 
nặng thật sự vì trẻ sanh non có thể do 1 bệnh lý 
hoặc bất thường gì đó chưa được chẩn đoán ra. 
Bảng tham khảo của InterGrowth 21 (IG21) 
được WHO tạo ra với 1 ý tưởng rằng trẻ sanh ra 
bởi 1 bà mẹ Châu Á hay Châu Âu có sức khỏe 
bình thường đều sẽ có một cân nặng tương tự. Bảng 
tham khảo này được đánh giá là được thiết kế và 
theo dõi tốt với cỡ mẫu đủ mạnh cũng như bao 
trùm các dân tộc trên thế giới (6). Tuy nhiên khi 
đánh giá lại bảng tham khảo này nhiều tác giả đã 
cho rằng bảng tham khảo này có khả năng chẩn 
đoán quá tay với 1 quốc gia đang phát triển như 
Ấn Độ và chẩn đoán thai nhỏ không đủ với các 
quốc gia phát triển như Na Uy. Vì vậy việc ứng 
dụng bảng tham khảo nào đều nên được đánh giá 
lại ở từng nơi (7).
Tại bệnh viện Hùng Vương đã sử dụng dữ liệu 
trước và sau sanh của 468 trẻ sanh đủ tháng từ 22 
đến 36 tuần nhằm đánh giá 2 bảng tham khảo 
thường sử dụng.
- Đánh giá cho thấy bảng tham khảo của 
Hadlock có độ nhạy cao so với IG21 (42.8 so với 
28.5) trong tầm soát thai nhỏ so với tuổi thai.
- Độ đặc hiệu của IG21 khá cao (83 – 91%) và 
có sàng lọc dương khoảng 10-19% là khá phù hợp 
so với dân số Việt Nam.
- Khả năng tầm soát của cân nặng ước tính cũng 
như chu vi vòng bụng trước sanh không cao có khả 
năng dương giả cao nếu sử dụng Hadlock (30.3%).
Vì vậy việc chọn bảng tham khảo nào trong tình 
hình Việt Nam là một cân nhắc từ nhà quản lý và 
nên có những đánh giá thực tế khi sử dụng nhằm 
nâng cao hiệu quả trong tầm soát thai nhỏ. 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
EFW AC EFW/AC
Độ nhạy Độ đặc hiệu Độ nhạy Độ đặc hiệu Độ nhạy Độ đặc hiệu
Hadlock 42.8 73.5 23 91 51.7 72.5
IG21 28.5 88 23 91 37.5 83.2
Sàng lọc 
dương
28.4%(Had), 
13.6%(IG21)
10.6%(Had), 
10%(IG21)
30.3%(Had), 
19.3%(IG21)
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
37
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 35 - 39, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
hay chu vi vòng bụng rất nhỏ, bất thường Doppler 
động mạch tử cung, động mạch rốn hoặc bất 
thường chỉ số não nhau (CPR), tốc độ tăng trưởng 
không phù hợp.
4. Theo dõi thai chậm tăng 
trưởng - Phân loại để có kế 
hoạch đúng
Để giúp cho việc theo dõi và xử trí thai chậm 
tăng trưởng điều đầu tiên cần đặt ra là thai chậm 
tăng trưởng loại nào và đang ở giai đoạn nào. 
4.1. Thai chậm tăng trưởng sớm hay 
muộn? 
Đồng tuần Delphi như trình bày ở trên đã chỉ 
ra rằng phải phân biệt rõ 2 loại bệnh lý này 
trước khi lập kế hoạch theo dõi. Đây là 2 bệnh lý 
khác nhau và có diễn tiến rất đặc trưng. 
4.2. Theo dõi thai chậm tăng trưởng 
sớm – xử trí theo giai đoạn
Đây là loại TCTT chiếm khoảng 1-2% trong 
thai kì tuy nhiên nó là một vấn đề khó khăn cho 
các nhà sản khoa vì việc theo dõi cũng như quản 
lý rất khó khăn. Mặc dù việc tầm soát và chẩn 
đoán khá đơn giản (chủ yếu dựa trên cân nặng 
ước tính và dấu hiệu Doppler) do triệu chứng 
trên siêu âm biểu hiện rất rõ ràng và diễn tiến 
như sau: 
3. Chẩn đoán thai nhỏ hay 
chậm tăng trưởng - Đồng 
thuận Delphi
Với một thai nhi có cân nặng ước tính và vòng 
bụng ở mức nghi ngờ (chung quanh bách phân vị 
10) việc định nghĩa đúng thai là nhỏ hoặc chậm 
tăng trưởng là điều rất quan trọng trong chăm sóc 
tiền sản vì có nhiều khác biệt:
- Thai nhỏ so với tuổi thai do di truyền: mặc dù 
nguyên nhân thường không rõ nhưng đây là những 
trường hợp không có nhiều nguy cơ và thường có 
kết cục tốt, hiếm gặp thai lưu.
- Thai chậm tăng trưởng: thường do nguyên 
nhân suy bánh nhau, có kết cục thường xấu hay 
gặp thai lưu (30% thai lưu sau 37 tuần được cho là 
do chậm tăng trưởng)(8).
Đồng thuận Delphi năm 2016 được công 
bố trên tạp chí siêu âm sản phụ khoa thế giới 
(UOG) dựa trên sự đồng thuận của 45 chuyên 
gia về thai chậm tăng trưởng đã giúp nhận định 
rõ hơn về vấn đề trên(9). Họ đưa ra các nhận 
định như sau:
Đồng thuận này cho ta 1 nhận định rõ hơn về 
thai chậm tăng trưởng với 1 số điểm lưu ý sau:
- Tuổi thai để phân biệt TCTT sớm và muộn là 
32 tuần
- Các yếu tố cộng thêm để phân biệt thai chậm 
tăng trưởng với thai nhỏ là: cân nặng ước tính 
Thai chậm tăng trưởng sớm (=32 tuần)
• AC/EFW < BPV thứ 3 hoặc mất/đảo 
ngược sóng tâm trương ĐMR
• Hoặc
+ AC/EFW < BPV thứ 10 kèm với
+ ĐMTC PI > BPV thứ 95 và/hoặc
+ ĐMR PI > BPV thứ 95
• AC/EFW < BPV thứ 3 
• Hoặc có 2/3 tiêu chuẩn sau:
+ AC/EFW < BPV thứ10
+ AC/EFW giảm hơn 2 tứ phân vị 
CPR BPV thứ 95
ü ĐMTC PI > BPV thứ 95 và/hoặc 
ü ĐMR PI > BPV thứ 95 
ü AC/EFW giảm hơn 2 tứ phân vị 
CPR BPV thứ 
95 
Đồng thuận này cho ta 1 nhận định rõ hơn về thai chậm tăng trưởng với 1 số điểm 
lưu ý sau: 
- Tuổi thai để phân biệt TCTT sớm và muộn là 32 tuần 
- Các yếu tố cộng thêm để phân biệt thai chậm tăng trưởng với thai nhỏ là: cân 
nặng ước tính hay chu vi vòng bụng rất nhỏ, bất thường Doppler động mạch tử 
cung, động mạch rốn hoặc bất thường chỉ số não nhau (CPR), tốc độ tăng trưởng 
không phù hợp. 
4. Theo dõi thai chậm tăng trưởng – Phân loại để có kế hoạch đúng 
Để giúp cho việc theo dõi và xử trí thai chậm tăng trưởng điều đầu tiên cần đặt ra là 
thai chậm tăng trưởng loại nào và đang ở giai đoạn nào. 
4.1. Thai chậm tăng trưởng sớm hay muộn? 
Thai chậm tăng trưởng sớm (=32 tuần) 
• 1-2% 
• Vấn đề : xử trí 
• Bệnh lý bánh nhau: nghiêm trọng 
(thường kết hợp với TSG) 
• Thiếu oxy ++ 
• Khả nặng chịu đựng với tính trạng 
thiếu oxy à bệnh sử vài tuần 
• Tỉ lệ tử vong cao 
• 3-5% 
• Vấn đề: chẩn đoán 
• Bệnh lý bánh nhau: nhẹ 
• Thiếu oxy +/- 
• Kém chịu đựng với thiếu oxy à bệnh 
sử tự nhiên ngắn 
• Tỉ lệ tử vong thấp (nhưng là nguyên 
nhân phổ biến của thai lưu trễ) 
ü ĐMTC PI > BPV thứ 95 và/hoặc 
ü ĐMR PI > BPV thứ 95 
ü AC/EFW giảm hơn 2 tứ phân vị 
CPR BPV thứ 
95 
Đồng thuận này cho ta 1 nhận định rõ hơn về thai chậm tăng trưởng với 1 số điểm 
lưu ý sau: 
- Tuổi thai để phân biệt TCTT sớm và muộn là 32 tuần 
- Các yếu tố cộng thêm để phân biệt thai chậm tăng trưởng với thai nhỏ là: cân 
nặng ước tính hay chu vi vòng bụng rất nhỏ, bất thường Doppler động mạch tử 
cung, động mạch rốn hoặc bất thường chỉ số não nhau (CPR), tốc độ tăng trưởng 
không phù hợp. 
4. Theo dõi thai chậm tăng trưởng – Phân loại để có kế hoạch đúng 
Để giúp cho việc theo dõi và xử trí thai chậm tăng trưởng điều đầu tiên cần đặt ra là 
thai chậm tăng trưởng loại nào và đang ở giai đoạn nào. 
4.1. Thai chậm tă rưởng sớm hay muộn? 
Thai chậm tăng trưởng sớm (=32 tuần) 
• 1-2% 
• Vấn đề : xử trí 
• Bệnh lý bánh nhau: nghiêm trọng 
(thường kết hợp với TSG) 
• Thiếu oxy ++ 
• Khả nặng chịu đựng với tính trạng 
thiếu oxy à bệnh sử vài tuần 
• Tỉ lệ tử vo cao 
• 3-5% 
• Vấn đề: chẩn đoán 
• Bệnh lý bánh nhau: nhẹ 
• Thiếu oxy +/- 
• Kém chịu đựng với thiếu oxy à bệnh 
sử tự nhiên ngắn 
• Tỉ lệ tử vong thấp (nhưng là nguyên 
nhân phổ biến của thai lưu trễ) 
Thai chậm tăng trưởng sớm (=32 tuần)
• 1-2%
• Vấn đề : xử trí
• Bệnh lý bánh nhau: nghiêm trọng (thường 
kết hợp với TSG)
• Thiếu oxy ++
• Khả nặng chịu đựng với tính trạng thiếu 
oxy → bệnh sử vài tuần
• Tỉ lệ tử vong cao
• 3-5%
• Vấn đề: chẩn đoán
• Bệnh lý bánh nhau: nhẹ
• Thiếu oxy +/-
• Kém chịu đựng với thiếu oxy → bệnh sử 
tự nhiên ngắn
• Tỉ lệ tử vong thấp (nhưng là nguyên nhân 
phổ biến của thai lưu trễ)
NGUYỄN ĐÌNH VŨ
38
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Các dấu hiệu Doppler thường xuất hiện sớm và 
diễn tiến theo trình tự như trên: đầu tiên là các bất 
thường động mạch tử cung, động mạch rốn-não 
giữa sau đó đến các bất thường của Doppler tĩnh 
mạch (ống tĩnh mạch) và cuối cùng là bất thường 
trên CTG.
Sau nghiên cứu TRUFFLE, việc quản lý TCTT sớm 
có vẻ rõ ràng hơn và một số chuyên gia đưa ra 
cách phân loại theo giai đoạn cũng như cách xử trí 
đối với từng giai đoạn như sau(10): 
Việc xử trí thai chậm tăng trưởng sớm đòi hỏi 
phải phối hợp nhiều phương thức cũng như nhiều 
loại Doppler để theo dõi trong đó:
- Doppler ống tĩnh mạch đóng vai trò quan 
trọng trong xác định thời điểm chấm dứt thai kì.
- CTG điện toán là một phương tiện không thể 
thiếu để phối hợp cùng Doppler ống tĩnh mạch.
Độ Bệnh lý tương ứng Tiêu chuẩn (chỉ cần 1) Lặp lại
Tuổi thai CDTK/
cách sanh
I
Bánh nhau nhỏ 
- suy tuần hoàn 
nhau nhẹ
EFW < bách phân vị 3
CPR < bách phân vị 5
PI ĐMR > bách phân vị 95
PI ĐMNTG <bách phân vị 5
PI ĐMTC >bách phân vị 95
Mỗi tuần 37 tuần/ KPCD
II Suy tuần hoàn nhau nặng
Mất sóng tâm trương ĐMR
Dòng phụt ngược ĐMC 2 lần/tuần 34 tuần/ Mổ sanh
III Nghi ngờ toan hóa ít
Đảo ngược sóng tâm trương ĐMR
PI OTM > bách phân vị 95 1-2 ngày 30 tuần/ Mổ sanh
IV Nghi ngờ toan hóa
Đảo ngược sóng a OTM
STV cCTG <3ms
Nhịp giảm muộn/CTG
12 giờ 26 tuần/Mổ sanh
- Khi mà tỉ lệ tử vong của thai chậm tăng trưởng 
sớm đã giảm thì Doppler cung động mạch chủ 
cung cấp thêm 1 mốc trong cân nhắc chấm dứt 
thai kì vì đây là loại Doppler giúp tiên lượng tổn 
thương não và các biến chứng thần kinh ở trẻ(11).
Với những cách phân loại và xử trí trên việc 
quản lý thai chậm tăng trưởng sớm có vẻ rõ ràng. 
Tuy nhiên ở những giai đoạn 3, 4 việc điều trị vẫn 
là thách thức đối với các nhà sản khoa – nhi khoa 
khi mà thời điểm chấm dứt thai kì nằm ở tuần tuổi 
thai thứ 26 hoặc 30. 
5. Theo dõi thai chậm tăng 
trưởng muộn - không dễ dàng 
nhận diện
Khác với chậm tăng trưởng sớm, đây là một loại 
bệnh lý bánh nhau xuất hiện muộn và biểu hiện rất 
mờ nhạt về cả trên sinh trắc thai lẫn Doppler. Bệnh 
chiếm tỉ lệ #5% biểu hiện ít trầm trọng hơn, thai nhi 
ít bị thiếu oxy và tử vong chu sinh nhưng đây là một 
loại bệnh lý được cho là nguyên nhân của #30% 
thai lưu không dị tật(8). 
Biểu hiện Doppler của TCTT muộn rất mờ nhạt 
và thường không có bất thường của Doppler động 
mạch rốn. Dấu hiệu có thể gợi ý của loại TCTT này 
là chỉ số CPR giảm nhẹ kèm với cân nặng thai nhi 
giảm theo thời gian.
Việc điều trị bệnh lý này không khó vì chấm 
dứt thai kì ở tuổi thai gần trưởng thành sẽ không 
gây khó khăn cho chăm sóc sơ sinh. Vì vậy vấn 
đề của chăm sóc tiền sản là tìm ra được những 
thai nhi có những nguy cơ này. Để nhằm tăng độ 
nhạy của việc tìm ra những thai có nguy cơ này 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
39
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 35 - 39, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
một số nghiên cứu đã đưa ra các phương cách 
như sau:
- Tầm soát tiền sản giật muộn → 12% (12) TCTT 
muộn có kèm tiền sản giật và đây là yếu tố làm 
nặng thêm bệnh lý. 
- Chỉ số CPR giúp tăng độ nhạy trong tìm ra 
bệnh lý này → các tổng quan cho thấy CPR giúp 
tiên lượng kết cục xấu trên cả thai nhỏ và thai đủ 
cân so với tuổi thai (13).
- Doppler động mạch tử cung có vai trò trong 
tiên lượng kết cục xấu ở 3 tháng cuối cũng như tiên 
lượng thai lưu (13).
- Các chất sinh hóa như: sFlt-1 và PLGF cũng giúp 
tìm ra những trường hợp thai nhỏ có nguy cơ (14).
- Các nghiên cứu về huyết động học của mẹ 
(phân suất tống máu, kháng trở ngoại vi) cũng là 1 
trong những yếu tố tiên lượng.
6. Kết luận
Thai chậm tăng trưởng là một bệnh lý quan 
trong ảnh hưởng nặng nề đến thai nhi. 
Siêu âm là công cụ tốt trong đánh giá và theo 
dõi nhưng cần lưu ý 1 số vấn đề: Bảng tăng trưởng 
sử dụng phù hợp, kết hợp các yếu tố tăng trưởng 
khác (tốc độ tăng trưởng). Siêu âm nên đóng góp 
1 phần trong nhận diện và phân loại sẽ giúp quản 
lý và theo dõi tốt các loại TCTT. Bên cạnh các loại 
Doppler thường sử dụng (ĐMTC, ĐMR, ĐMNG), 
Doppler ống tĩnh mạch và eo động mạch chủ sẽ 
đóng vai trò quan trọng trong theo dõi TCTT sớm. 
TCTT muộn là một loại bệnh lý khó nhận diện và 
cần có nhiều đánh giá để nhằm phân loại nguy cơ 
của loại TCTT này. Các nghiên cứu về vấn đề này 
sắp tới sẽ đưa ra hướng xử trí rõ ràng hơn.
Tài liệu tham khảo
1. Villar J, Cheikh Ismail L, Victora CG, Ohuma EO, Bertino E, Altman 
DG, et al. International standards for newborn weight, length, and head 
circumference by gestational age and sex: the Newborn Cross-Sectional 
Study of the INTERGROWTH-21st Project. Lancet. 2014;384(9946):857-68.
2. Gardosi J, Clausson B, Francis A. The value of customised centiles in 
assessing perinatal mortality risk associated with parity and maternal size. BJOG 
: an international journal of obstetrics and gynaecology. 2009;116(10):1356-63.
3. McCowan LME, Thompson JMD, Cronin RS, Li M, Stacey T, Stone 
PR, et al. Going to sleep in the supine position is a modifiable risk factor 
for late pregnancy stillbirth; Findings from the New Zealand multicentre 
stillbirth case-control study. PloS one. 2017;12(6):e0179396.
4. Lindqvist PG, Molin J. Does antenatal identification of small-for-
gestational age fetuses significantly improve their outcome? Ultrasound in 
obstetrics & gynecology : the official journal of the International Society of 
Ultrasound in Obstetrics and Gynecology. 2005;25(3):258-64.
5. Visser GHA, Bilardo CM, Derks JB, Ferrazzi E, Fratelli N, Frusca T, 
et al. Fetal monitoring indications for delivery and 2-year outcome in 310 
infants with fetal growth restriction delivered before 32 weeks' gestation in 
the TRUFFLE study. 2017;50(3):347-52.
6. Stirnemann J, Villar J, Salomon LJ, Ohuma E, Ruyan P, Altman DG, et 
al. International estimated fetal weight standards of the INTERGROWTH-
21(st) Project. Ultrasound in obstetrics & gynecology : the official journal 
of the International Society of Ultrasound in Obstetrics and Gynecology. 
2017;49(4):478-86.
7. Stirnemann JJ, Fries N, Bessis R, Fontanges M, Mangione R, Salomon 
LJ. Implementing the INTERGROWTH-21(st) fetal growth standards in 
France: a 'flash study' of the College Francais d'Echographie Foetale (CFEF). 
Ultrasound in obstetrics & gynecology : the official journal of the International 
Society of Ultrasound in Obstetrics and Gynecology. 2017;49(4):487-92.
8. S MK, Gardosi J. Perinatal mortality and fetal growth restriction. Best 
practice & research Clinical obstetrics & gynaecology. 2004;18(3):397-410.
9. Gordijn SJ, Beune IM, Thilaganathan B, Papageorghiou A, Baschat 
AA, Baker PN, et al. Consensus definition of fetal growth restriction: a 
Delphi procedure. Ultrasound in obstetrics & gynecology : the official 
journal of the International Society of Ultrasound in Obstetrics and 
Gynecology. 2016;48(3):333-9.
10. Figueras F, Gratacos E. Update on the diagnosis and classification 
of fetal growth restriction and proposal of a stage-based management 
protocol. Fetal diagnosis and therapy. 2014;36(2):86-98.
11. Cruz-Martinez R, Tenorio V, Padilla N, Crispi F, Figueras F, 
Gratacos E. Risk of ultrasound-detected neonatal brain abnormalities in 
intrauterine growth-restricted fetuses born between 28 and 34 weeks' 
gestation: relationship with gestational age at birth and fetal Doppler 
parameters. Ultrasound in obstetrics & gynecology : the official journal 
of the International Society of Ultrasound in Obstetrics and Gynecology. 
2015;46(4):452-9.
12. Figueras F, Caradeux J, Crispi F, Eixarch E, Peguero A, Gratacos E. 
Diagnosis and surveillance of late-onset fetal growth restriction. American 
journal of obstetrics and gynecology. 2018;218(2s):S790-S802.e1.
13. Khalil A, Morales-Rosello J, Townsend R, Morlando M, 
Papageorghiou A, Bhide A, et al. Value of third-trimester cerebroplacental 
ratio and uterine artery Doppler indices as predictors of stillbirth and 
perinatal loss. Ultrasound in obstetrics & gynecology : the official journal 
of the International Society of Ultrasound in Obstetrics and Gynecology. 
2016;47(1):74-80.
14. Gaccioli F, Sovio U, Cook E, Hund M, Charnock-Jones DS, Smith 
GCS. Screening for fetal growth restriction using ultrasound and the 
sFLT1/PlGF ratio in nulliparous women: a prospective cohort study. The 
Lancet Child & adolescent health. 2018;2(8):569-81.

File đính kèm:

  • pdfthai_cham_tang_truong_nhung_van_de_luu_y_trong_chan_doan_va.pdf