Thai chậm tăng trưởng những vấn đề lưu ý trong chẩn đoán và theo dõi
Nhỏ so với tuổi thai thường được định nghĩa là trẻ có cân nặng lúc
sanh nhỏ hơn bách phân vị thứ 10 của một dân số. Thai chậm tăng
trưởng là thai nhi không đạt được tiềm năng tăng trưởng sinh học do suy
giảm chức năng bánh nhau. Thai chậm tăng trưởng chiếm 28-45% thai
lưu (không bị dị tật) và có nhiều khả năng chậm phát triển tâm thần,
béo phì sau này và mắc các bệnh lý chuyển hóa. Tuy nhiên đa số trẻ
này không được nhận diện đúng trước sanh. Tăng cường khả năng phát
hiện cùng với việc theo dõi đúng và xử lý kịp thời sẽ giúp giảm tỉ lệ thai
lưu do thai nhỏ. Tiêu chuẩn chẩn đoán và kế hoạch theo dõi thai chậm
tăng trưởng thay đổi theo từng vùng và từng nước rất nhiều. Mục tiêu
của bài tổng quan này nhằm nêu ra các vấn đề trong việc tầm soát thai
chậm tăng trưởng, cách để tăng cường cũng như 1 số đồng thuận trong
chẩn đoán và theo dõi thai nhỏ so với tuổi thai.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Thai chậm tăng trưởng những vấn đề lưu ý trong chẩn đoán và theo dõi
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 35 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(04), 35 - 39, 2019 Tập 16, số 04 Tháng 06-2019 Nguyễn Đình Vũ Bệnh viện Hùng Vương, Tp. Hồ Chí Minh THAI CHẬM TĂNG TRƯỞNG NHỮNG VẤN ĐỀ LƯU Ý TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ THEO DÕI Tác giả liên hệ (Corresponding author): Nguyễn Đình Vũ, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 03/05/2019 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 20/05/2019 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 20/05/2019 Tóm tắt Nhỏ so với tuổi thai thường được định nghĩa là trẻ có cân nặng lúc sanh nhỏ hơn bách phân vị thứ 10 của một dân số. Thai chậm tăng trưởng là thai nhi không đạt được tiềm năng tăng trưởng sinh học do suy giảm chức năng bánh nhau. Thai chậm tăng trưởng chiếm 28-45% thai lưu (không bị dị tật) và có nhiều khả năng chậm phát triển tâm thần, béo phì sau này và mắc các bệnh lý chuyển hóa. Tuy nhiên đa số trẻ này không được nhận diện đúng trước sanh. Tăng cường khả năng phát hiện cùng với việc theo dõi đúng và xử lý kịp thời sẽ giúp giảm tỉ lệ thai lưu do thai nhỏ. Tiêu chuẩn chẩn đoán và kế hoạch theo dõi thai chậm tăng trưởng thay đổi theo từng vùng và từng nước rất nhiều. Mục tiêu của bài tổng quan này nhằm nêu ra các vấn đề trong việc tầm soát thai chậm tăng trưởng, cách để tăng cường cũng như 1 số đồng thuận trong chẩn đoán và theo dõi thai nhỏ so với tuổi thai. Abstract FETAL GROWTH RESTRICTION: PROBLEMS NOTICE IN DIAGNOSTIC AND TRACKING Small for gestational age is usually defined as an infant with a birthweight <10th centile for a population. Fetal growth restriction refers to a fetus that has failed to reach its biological growth potential because of placental dysfunction. Small-for-gestational-age babies make up 28-45% of nonanomalous stillbirths, and have a higher chance of neurodevelopmental delay, childhood and adult obesity, and metabolic disease. The majority of small-for-gestational-age babies are not recognized before birth. Improved identification, accompanied by surveillance and timely delivery, is associated with reduction in small-forgestational-age stillbirths. Internationally and regionally, detection of small for gestational age and management of fetal growthn problems vary considerably. The aim of this review is to summarize the problems of screening for SGA and the consensus in diagnosis and surveillance of SGA fetus. NGUYỄN ĐÌNH VŨ 36 Tậ p 16 , s ố 04 Th án g 06 -2 01 9 1. Giới thiệu Nhỏ so với tuổi thai thường được định nghĩa là trẻ có cân nặng lúc sanh nhỏ hơn bách phân vị thứ 10 của một dân số (1). Định nghĩa này sẽ bao gồm cả 18-22% trẻ có cân nặng nhỏ nhưng hoàn toàn khỏe mạnh (2). Thai chậm tăng trưởng (TCTT) là thai nhi không đạt được tiềm năng tăng trưởng sinh học do suy giảm chức năng bánh nhau. TCTT có 1 phần lớn là thai nhỏ so với tuổi thai nhưng khó định nghĩa hơn trong thực hành khi mà không phải tất cả đều có cân nặng nhỏ hơn bách phân vị thứ 10. Thai chậm tăng trưởng quan trọng vì nó chiếm 28-45% thai lưu không dị tật (3). Suy tuần hoàn bánh nhau là yếu tố chính trong sinh bệnh học và dẫn đến những kết cục xấu của thai kì. Trẻ sanh nhẹ cân có nguy cơ cao hơn bị chậm phát triển tâm thần, học kém, béo phì và mắc các bệnh lý chuyển hóa. Một vấn đề trong chăm sóc trước sanh hiện tại là đa số các thai nhỏ không được nhận diện trước sanh. Nếu phát hiện được trước sanh và theo dõi và xử trí phù hợp sẽ giảm được 4-5 lần tử suất và các bệnh suất nặng (4). Vì vậy thai lưu do TCTT là có thể phòng ngừa được nếu phát hiện sớm. Tuy nhiên tiêu chẩn đoán và kế hoạch theo dõi thai chậm tăng trưởng thay đổi theo từng cơ sở và từng vùng. Các định nghĩa thai chậm tăng trưởng chỉ dựa trên kích thước cũng như siêu âm Doppler động mạch rốn hiện tại không còn phù hợp. Cũng như trong theo dõi thai chậm tăng trưởng sau nghiên cứu TRUFFLE đã có nhiều thay đổi trong quan điểm xử trí (5). Mục tiêu của bài tổng quan này nhằm nêu ra các vấn đề trong việc tầm soát thai chậm tăng trưởng, các để tăng cường cũng như 1 số đồng thuận trong chẩn đoán và theo dõi thai nhỏ so với tuổi thai. 2. Nhận diện thai nhỏ so với tuổi thai tại Việt Nam, chúng ta đang có gì ? Kích thước thai được ước lượng trước sanh là một trong những chăm sóc tiền sản không thể thiếu. Việc ước lượng này có thể bằng khám tay, đo bề cao tử cung cũng như qua siêu âm. Về phương diện siêu âm, việc tranh cãi trong sử dụng bảng tham khảo nào dường như chưa thể có câu trả lời rõ ràng. Hiện nay có hơn 100 bảng tham khảo đã được công bố, đa số đều sử dụng phương pháp cắt ngang để thực hiện và không lưu ý nhiều đến tính đồng nhất trong dân số chọn mẫu. Một điểm lưu ý nữa là đa số bảng tham khảo được tạo nên từ việc sử dụng cân nặng của trẻ sanh non – và được cho là một trẻ bình thường, điều này có thể làm cho bảng cân nặng đánh giá thấp cân nặng thật sự vì trẻ sanh non có thể do 1 bệnh lý hoặc bất thường gì đó chưa được chẩn đoán ra. Bảng tham khảo của InterGrowth 21 (IG21) được WHO tạo ra với 1 ý tưởng rằng trẻ sanh ra bởi 1 bà mẹ Châu Á hay Châu Âu có sức khỏe bình thường đều sẽ có một cân nặng tương tự. Bảng tham khảo này được đánh giá là được thiết kế và theo dõi tốt với cỡ mẫu đủ mạnh cũng như bao trùm các dân tộc trên thế giới (6). Tuy nhiên khi đánh giá lại bảng tham khảo này nhiều tác giả đã cho rằng bảng tham khảo này có khả năng chẩn đoán quá tay với 1 quốc gia đang phát triển như Ấn Độ và chẩn đoán thai nhỏ không đủ với các quốc gia phát triển như Na Uy. Vì vậy việc ứng dụng bảng tham khảo nào đều nên được đánh giá lại ở từng nơi (7). Tại bệnh viện Hùng Vương đã sử dụng dữ liệu trước và sau sanh của 468 trẻ sanh đủ tháng từ 22 đến 36 tuần nhằm đánh giá 2 bảng tham khảo thường sử dụng. - Đánh giá cho thấy bảng tham khảo của Hadlock có độ nhạy cao so với IG21 (42.8 so với 28.5) trong tầm soát thai nhỏ so với tuổi thai. - Độ đặc hiệu của IG21 khá cao (83 – 91%) và có sàng lọc dương khoảng 10-19% là khá phù hợp so với dân số Việt Nam. - Khả năng tầm soát của cân nặng ước tính cũng như chu vi vòng bụng trước sanh không cao có khả năng dương giả cao nếu sử dụng Hadlock (30.3%). Vì vậy việc chọn bảng tham khảo nào trong tình hình Việt Nam là một cân nhắc từ nhà quản lý và nên có những đánh giá thực tế khi sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả trong tầm soát thai nhỏ. SẢ N K H O A – S Ơ S IN H EFW AC EFW/AC Độ nhạy Độ đặc hiệu Độ nhạy Độ đặc hiệu Độ nhạy Độ đặc hiệu Hadlock 42.8 73.5 23 91 51.7 72.5 IG21 28.5 88 23 91 37.5 83.2 Sàng lọc dương 28.4%(Had), 13.6%(IG21) 10.6%(Had), 10%(IG21) 30.3%(Had), 19.3%(IG21) TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 37 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(04), 35 - 39, 2019 Tập 16, số 04 Tháng 06-2019 hay chu vi vòng bụng rất nhỏ, bất thường Doppler động mạch tử cung, động mạch rốn hoặc bất thường chỉ số não nhau (CPR), tốc độ tăng trưởng không phù hợp. 4. Theo dõi thai chậm tăng trưởng - Phân loại để có kế hoạch đúng Để giúp cho việc theo dõi và xử trí thai chậm tăng trưởng điều đầu tiên cần đặt ra là thai chậm tăng trưởng loại nào và đang ở giai đoạn nào. 4.1. Thai chậm tăng trưởng sớm hay muộn? Đồng tuần Delphi như trình bày ở trên đã chỉ ra rằng phải phân biệt rõ 2 loại bệnh lý này trước khi lập kế hoạch theo dõi. Đây là 2 bệnh lý khác nhau và có diễn tiến rất đặc trưng. 4.2. Theo dõi thai chậm tăng trưởng sớm – xử trí theo giai đoạn Đây là loại TCTT chiếm khoảng 1-2% trong thai kì tuy nhiên nó là một vấn đề khó khăn cho các nhà sản khoa vì việc theo dõi cũng như quản lý rất khó khăn. Mặc dù việc tầm soát và chẩn đoán khá đơn giản (chủ yếu dựa trên cân nặng ước tính và dấu hiệu Doppler) do triệu chứng trên siêu âm biểu hiện rất rõ ràng và diễn tiến như sau: 3. Chẩn đoán thai nhỏ hay chậm tăng trưởng - Đồng thuận Delphi Với một thai nhi có cân nặng ước tính và vòng bụng ở mức nghi ngờ (chung quanh bách phân vị 10) việc định nghĩa đúng thai là nhỏ hoặc chậm tăng trưởng là điều rất quan trọng trong chăm sóc tiền sản vì có nhiều khác biệt: - Thai nhỏ so với tuổi thai do di truyền: mặc dù nguyên nhân thường không rõ nhưng đây là những trường hợp không có nhiều nguy cơ và thường có kết cục tốt, hiếm gặp thai lưu. - Thai chậm tăng trưởng: thường do nguyên nhân suy bánh nhau, có kết cục thường xấu hay gặp thai lưu (30% thai lưu sau 37 tuần được cho là do chậm tăng trưởng)(8). Đồng thuận Delphi năm 2016 được công bố trên tạp chí siêu âm sản phụ khoa thế giới (UOG) dựa trên sự đồng thuận của 45 chuyên gia về thai chậm tăng trưởng đã giúp nhận định rõ hơn về vấn đề trên(9). Họ đưa ra các nhận định như sau: Đồng thuận này cho ta 1 nhận định rõ hơn về thai chậm tăng trưởng với 1 số điểm lưu ý sau: - Tuổi thai để phân biệt TCTT sớm và muộn là 32 tuần - Các yếu tố cộng thêm để phân biệt thai chậm tăng trưởng với thai nhỏ là: cân nặng ước tính Thai chậm tăng trưởng sớm (=32 tuần) • AC/EFW < BPV thứ 3 hoặc mất/đảo ngược sóng tâm trương ĐMR • Hoặc + AC/EFW < BPV thứ 10 kèm với + ĐMTC PI > BPV thứ 95 và/hoặc + ĐMR PI > BPV thứ 95 • AC/EFW < BPV thứ 3 • Hoặc có 2/3 tiêu chuẩn sau: + AC/EFW < BPV thứ10 + AC/EFW giảm hơn 2 tứ phân vị CPR BPV thứ 95 ü ĐMTC PI > BPV thứ 95 và/hoặc ü ĐMR PI > BPV thứ 95 ü AC/EFW giảm hơn 2 tứ phân vị CPR BPV thứ 95 Đồng thuận này cho ta 1 nhận định rõ hơn về thai chậm tăng trưởng với 1 số điểm lưu ý sau: - Tuổi thai để phân biệt TCTT sớm và muộn là 32 tuần - Các yếu tố cộng thêm để phân biệt thai chậm tăng trưởng với thai nhỏ là: cân nặng ước tính hay chu vi vòng bụng rất nhỏ, bất thường Doppler động mạch tử cung, động mạch rốn hoặc bất thường chỉ số não nhau (CPR), tốc độ tăng trưởng không phù hợp. 4. Theo dõi thai chậm tăng trưởng – Phân loại để có kế hoạch đúng Để giúp cho việc theo dõi và xử trí thai chậm tăng trưởng điều đầu tiên cần đặt ra là thai chậm tăng trưởng loại nào và đang ở giai đoạn nào. 4.1. Thai chậm tăng trưởng sớm hay muộn? Thai chậm tăng trưởng sớm (=32 tuần) • 1-2% • Vấn đề : xử trí • Bệnh lý bánh nhau: nghiêm trọng (thường kết hợp với TSG) • Thiếu oxy ++ • Khả nặng chịu đựng với tính trạng thiếu oxy à bệnh sử vài tuần • Tỉ lệ tử vong cao • 3-5% • Vấn đề: chẩn đoán • Bệnh lý bánh nhau: nhẹ • Thiếu oxy +/- • Kém chịu đựng với thiếu oxy à bệnh sử tự nhiên ngắn • Tỉ lệ tử vong thấp (nhưng là nguyên nhân phổ biến của thai lưu trễ) ü ĐMTC PI > BPV thứ 95 và/hoặc ü ĐMR PI > BPV thứ 95 ü AC/EFW giảm hơn 2 tứ phân vị CPR BPV thứ 95 Đồng thuận này cho ta 1 nhận định rõ hơn về thai chậm tăng trưởng với 1 số điểm lưu ý sau: - Tuổi thai để phân biệt TCTT sớm và muộn là 32 tuần - Các yếu tố cộng thêm để phân biệt thai chậm tăng trưởng với thai nhỏ là: cân nặng ước tính hay chu vi vòng bụng rất nhỏ, bất thường Doppler động mạch tử cung, động mạch rốn hoặc bất thường chỉ số não nhau (CPR), tốc độ tăng trưởng không phù hợp. 4. Theo dõi thai chậm tăng trưởng – Phân loại để có kế hoạch đúng Để giúp cho việc theo dõi và xử trí thai chậm tăng trưởng điều đầu tiên cần đặt ra là thai chậm tăng trưởng loại nào và đang ở giai đoạn nào. 4.1. Thai chậm tă rưởng sớm hay muộn? Thai chậm tăng trưởng sớm (=32 tuần) • 1-2% • Vấn đề : xử trí • Bệnh lý bánh nhau: nghiêm trọng (thường kết hợp với TSG) • Thiếu oxy ++ • Khả nặng chịu đựng với tính trạng thiếu oxy à bệnh sử vài tuần • Tỉ lệ tử vo cao • 3-5% • Vấn đề: chẩn đoán • Bệnh lý bánh nhau: nhẹ • Thiếu oxy +/- • Kém chịu đựng với thiếu oxy à bệnh sử tự nhiên ngắn • Tỉ lệ tử vong thấp (nhưng là nguyên nhân phổ biến của thai lưu trễ) Thai chậm tăng trưởng sớm (=32 tuần) • 1-2% • Vấn đề : xử trí • Bệnh lý bánh nhau: nghiêm trọng (thường kết hợp với TSG) • Thiếu oxy ++ • Khả nặng chịu đựng với tính trạng thiếu oxy → bệnh sử vài tuần • Tỉ lệ tử vong cao • 3-5% • Vấn đề: chẩn đoán • Bệnh lý bánh nhau: nhẹ • Thiếu oxy +/- • Kém chịu đựng với thiếu oxy → bệnh sử tự nhiên ngắn • Tỉ lệ tử vong thấp (nhưng là nguyên nhân phổ biến của thai lưu trễ) NGUYỄN ĐÌNH VŨ 38 Tậ p 16 , s ố 04 Th án g 06 -2 01 9 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Các dấu hiệu Doppler thường xuất hiện sớm và diễn tiến theo trình tự như trên: đầu tiên là các bất thường động mạch tử cung, động mạch rốn-não giữa sau đó đến các bất thường của Doppler tĩnh mạch (ống tĩnh mạch) và cuối cùng là bất thường trên CTG. Sau nghiên cứu TRUFFLE, việc quản lý TCTT sớm có vẻ rõ ràng hơn và một số chuyên gia đưa ra cách phân loại theo giai đoạn cũng như cách xử trí đối với từng giai đoạn như sau(10): Việc xử trí thai chậm tăng trưởng sớm đòi hỏi phải phối hợp nhiều phương thức cũng như nhiều loại Doppler để theo dõi trong đó: - Doppler ống tĩnh mạch đóng vai trò quan trọng trong xác định thời điểm chấm dứt thai kì. - CTG điện toán là một phương tiện không thể thiếu để phối hợp cùng Doppler ống tĩnh mạch. Độ Bệnh lý tương ứng Tiêu chuẩn (chỉ cần 1) Lặp lại Tuổi thai CDTK/ cách sanh I Bánh nhau nhỏ - suy tuần hoàn nhau nhẹ EFW < bách phân vị 3 CPR < bách phân vị 5 PI ĐMR > bách phân vị 95 PI ĐMNTG <bách phân vị 5 PI ĐMTC >bách phân vị 95 Mỗi tuần 37 tuần/ KPCD II Suy tuần hoàn nhau nặng Mất sóng tâm trương ĐMR Dòng phụt ngược ĐMC 2 lần/tuần 34 tuần/ Mổ sanh III Nghi ngờ toan hóa ít Đảo ngược sóng tâm trương ĐMR PI OTM > bách phân vị 95 1-2 ngày 30 tuần/ Mổ sanh IV Nghi ngờ toan hóa Đảo ngược sóng a OTM STV cCTG <3ms Nhịp giảm muộn/CTG 12 giờ 26 tuần/Mổ sanh - Khi mà tỉ lệ tử vong của thai chậm tăng trưởng sớm đã giảm thì Doppler cung động mạch chủ cung cấp thêm 1 mốc trong cân nhắc chấm dứt thai kì vì đây là loại Doppler giúp tiên lượng tổn thương não và các biến chứng thần kinh ở trẻ(11). Với những cách phân loại và xử trí trên việc quản lý thai chậm tăng trưởng sớm có vẻ rõ ràng. Tuy nhiên ở những giai đoạn 3, 4 việc điều trị vẫn là thách thức đối với các nhà sản khoa – nhi khoa khi mà thời điểm chấm dứt thai kì nằm ở tuần tuổi thai thứ 26 hoặc 30. 5. Theo dõi thai chậm tăng trưởng muộn - không dễ dàng nhận diện Khác với chậm tăng trưởng sớm, đây là một loại bệnh lý bánh nhau xuất hiện muộn và biểu hiện rất mờ nhạt về cả trên sinh trắc thai lẫn Doppler. Bệnh chiếm tỉ lệ #5% biểu hiện ít trầm trọng hơn, thai nhi ít bị thiếu oxy và tử vong chu sinh nhưng đây là một loại bệnh lý được cho là nguyên nhân của #30% thai lưu không dị tật(8). Biểu hiện Doppler của TCTT muộn rất mờ nhạt và thường không có bất thường của Doppler động mạch rốn. Dấu hiệu có thể gợi ý của loại TCTT này là chỉ số CPR giảm nhẹ kèm với cân nặng thai nhi giảm theo thời gian. Việc điều trị bệnh lý này không khó vì chấm dứt thai kì ở tuổi thai gần trưởng thành sẽ không gây khó khăn cho chăm sóc sơ sinh. Vì vậy vấn đề của chăm sóc tiền sản là tìm ra được những thai nhi có những nguy cơ này. Để nhằm tăng độ nhạy của việc tìm ra những thai có nguy cơ này TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 39 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(04), 35 - 39, 2019 Tập 16, số 04 Tháng 06-2019 một số nghiên cứu đã đưa ra các phương cách như sau: - Tầm soát tiền sản giật muộn → 12% (12) TCTT muộn có kèm tiền sản giật và đây là yếu tố làm nặng thêm bệnh lý. - Chỉ số CPR giúp tăng độ nhạy trong tìm ra bệnh lý này → các tổng quan cho thấy CPR giúp tiên lượng kết cục xấu trên cả thai nhỏ và thai đủ cân so với tuổi thai (13). - Doppler động mạch tử cung có vai trò trong tiên lượng kết cục xấu ở 3 tháng cuối cũng như tiên lượng thai lưu (13). - Các chất sinh hóa như: sFlt-1 và PLGF cũng giúp tìm ra những trường hợp thai nhỏ có nguy cơ (14). - Các nghiên cứu về huyết động học của mẹ (phân suất tống máu, kháng trở ngoại vi) cũng là 1 trong những yếu tố tiên lượng. 6. Kết luận Thai chậm tăng trưởng là một bệnh lý quan trong ảnh hưởng nặng nề đến thai nhi. Siêu âm là công cụ tốt trong đánh giá và theo dõi nhưng cần lưu ý 1 số vấn đề: Bảng tăng trưởng sử dụng phù hợp, kết hợp các yếu tố tăng trưởng khác (tốc độ tăng trưởng). Siêu âm nên đóng góp 1 phần trong nhận diện và phân loại sẽ giúp quản lý và theo dõi tốt các loại TCTT. Bên cạnh các loại Doppler thường sử dụng (ĐMTC, ĐMR, ĐMNG), Doppler ống tĩnh mạch và eo động mạch chủ sẽ đóng vai trò quan trọng trong theo dõi TCTT sớm. TCTT muộn là một loại bệnh lý khó nhận diện và cần có nhiều đánh giá để nhằm phân loại nguy cơ của loại TCTT này. Các nghiên cứu về vấn đề này sắp tới sẽ đưa ra hướng xử trí rõ ràng hơn. Tài liệu tham khảo 1. Villar J, Cheikh Ismail L, Victora CG, Ohuma EO, Bertino E, Altman DG, et al. International standards for newborn weight, length, and head circumference by gestational age and sex: the Newborn Cross-Sectional Study of the INTERGROWTH-21st Project. Lancet. 2014;384(9946):857-68. 2. Gardosi J, Clausson B, Francis A. The value of customised centiles in assessing perinatal mortality risk associated with parity and maternal size. BJOG : an international journal of obstetrics and gynaecology. 2009;116(10):1356-63. 3. McCowan LME, Thompson JMD, Cronin RS, Li M, Stacey T, Stone PR, et al. Going to sleep in the supine position is a modifiable risk factor for late pregnancy stillbirth; Findings from the New Zealand multicentre stillbirth case-control study. PloS one. 2017;12(6):e0179396. 4. Lindqvist PG, Molin J. Does antenatal identification of small-for- gestational age fetuses significantly improve their outcome? Ultrasound in obstetrics & gynecology : the official journal of the International Society of Ultrasound in Obstetrics and Gynecology. 2005;25(3):258-64. 5. Visser GHA, Bilardo CM, Derks JB, Ferrazzi E, Fratelli N, Frusca T, et al. Fetal monitoring indications for delivery and 2-year outcome in 310 infants with fetal growth restriction delivered before 32 weeks' gestation in the TRUFFLE study. 2017;50(3):347-52. 6. Stirnemann J, Villar J, Salomon LJ, Ohuma E, Ruyan P, Altman DG, et al. International estimated fetal weight standards of the INTERGROWTH- 21(st) Project. Ultrasound in obstetrics & gynecology : the official journal of the International Society of Ultrasound in Obstetrics and Gynecology. 2017;49(4):478-86. 7. Stirnemann JJ, Fries N, Bessis R, Fontanges M, Mangione R, Salomon LJ. Implementing the INTERGROWTH-21(st) fetal growth standards in France: a 'flash study' of the College Francais d'Echographie Foetale (CFEF). Ultrasound in obstetrics & gynecology : the official journal of the International Society of Ultrasound in Obstetrics and Gynecology. 2017;49(4):487-92. 8. S MK, Gardosi J. Perinatal mortality and fetal growth restriction. Best practice & research Clinical obstetrics & gynaecology. 2004;18(3):397-410. 9. Gordijn SJ, Beune IM, Thilaganathan B, Papageorghiou A, Baschat AA, Baker PN, et al. Consensus definition of fetal growth restriction: a Delphi procedure. Ultrasound in obstetrics & gynecology : the official journal of the International Society of Ultrasound in Obstetrics and Gynecology. 2016;48(3):333-9. 10. Figueras F, Gratacos E. Update on the diagnosis and classification of fetal growth restriction and proposal of a stage-based management protocol. Fetal diagnosis and therapy. 2014;36(2):86-98. 11. Cruz-Martinez R, Tenorio V, Padilla N, Crispi F, Figueras F, Gratacos E. Risk of ultrasound-detected neonatal brain abnormalities in intrauterine growth-restricted fetuses born between 28 and 34 weeks' gestation: relationship with gestational age at birth and fetal Doppler parameters. Ultrasound in obstetrics & gynecology : the official journal of the International Society of Ultrasound in Obstetrics and Gynecology. 2015;46(4):452-9. 12. Figueras F, Caradeux J, Crispi F, Eixarch E, Peguero A, Gratacos E. Diagnosis and surveillance of late-onset fetal growth restriction. American journal of obstetrics and gynecology. 2018;218(2s):S790-S802.e1. 13. Khalil A, Morales-Rosello J, Townsend R, Morlando M, Papageorghiou A, Bhide A, et al. Value of third-trimester cerebroplacental ratio and uterine artery Doppler indices as predictors of stillbirth and perinatal loss. Ultrasound in obstetrics & gynecology : the official journal of the International Society of Ultrasound in Obstetrics and Gynecology. 2016;47(1):74-80. 14. Gaccioli F, Sovio U, Cook E, Hund M, Charnock-Jones DS, Smith GCS. Screening for fetal growth restriction using ultrasound and the sFLT1/PlGF ratio in nulliparous women: a prospective cohort study. The Lancet Child & adolescent health. 2018;2(8):569-81.
File đính kèm:
thai_cham_tang_truong_nhung_van_de_luu_y_trong_chan_doan_va.pdf

