Thai bám sẹo mổ lấy thai và nhau cài răng lược: vấn đề chẩn đoán
1. Mở đầu
Tần suất mổ lấy thai, thai bám sẹo mổ lấy thai và nhau cài răng lược
đang gia tăng song hành với nhau trong mấy thập niên qua. Ở Mỹ, tỷ lệ mổ
lấy thai đạt đến 32,8% vào năm 2012 [6]. Nguy cơ thai bám sẹo mổ lấy thai
được ước tính là 1: 800-2500 phụ nữ có sẹo mổ lấy thai [3]. Tần suất bệnh
lý nhau cài răng lược đã tăng từ 1/30 000 ca sinh vào những năm của thập
niên 1930 đến 1/2000-3000 ca sinh trong thập niên vừa qua
Bạn đang xem tài liệu "Thai bám sẹo mổ lấy thai và nhau cài răng lược: vấn đề chẩn đoán", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Thai bám sẹo mổ lấy thai và nhau cài răng lược: vấn đề chẩn đoán
HÀ TỐ NGUYÊN 12 Tậ p 15 , s ố 03 Th án g 09 -2 01 7 Hà Tố Nguyên Bệnh viện Từ Dũ THAI BÁM SẸO MỔ LẤY THAI VÀ NHAU CÀI RĂNG LƯỢC: VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN Tác giả liên hệ (Corresponding author): Hà Tố Nguyên, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 10/7/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 15/8/2017 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 31/8/2017 1. Mở đầu Tần suất mổ lấy thai, thai bám sẹo mổ lấy thai và nhau cài răng lược đang gia tăng song hành với nhau trong mấy thập niên qua. Ở Mỹ, tỷ lệ mổ lấy thai đạt đến 32,8% vào năm 2012 [6]. Nguy cơ thai bám sẹo mổ lấy thai được ước tính là 1: 800-2500 phụ nữ có sẹo mổ lấy thai [3]. Tần suất bệnh lý nhau cài răng lược đã tăng từ 1/30 000 ca sinh vào những năm của thập niên 1930 đến 1/2000-3000 ca sinh trong thập niên vừa qua [2]. Chúng ta đã biết hệ lụy của việc mổ lấy thai là ở các thai kì sau thai có nguy cơ làm tổ ở vị trí bất thường. Ở quí một là thai bám sẹo mổ lấy thai, một dạng của thai ngoài tử cung, là nguyên nhân hàng đầu của tử vong mẹ ở quí một. Nếu không xử trí, thai bám sẹo mổ lấy thai sẽ tiến triển thành thai có nhau tiền đạo, nhau cài răng lược ở quí hai và quí ba, là một dạng bệnh lý nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến tính mạng mẹ và con (mẹ mất máu nghiêm trọng, mất tử cung, con non tháng, suy hô hấp vì phải chấm dứt thai kì sớm). Do các biến chứng nghiêm trọng ở quí hai và ba nên các trường hợp thai bám sẹo mổ lấy thai nếu được phát hiện từ quí một sẽ được tư vấn ngừng thai. Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy, nhau cài răng lược nếu được chẩn đoán tiền sản, bác sĩ sản khoa sẽ có kế hoạch dự phòng chuẩn bị cho cuộc mổ tốt hơn, giảm nguy cơ mất máu cho mẹ và khả năng bảo tồn được tử cung cho thai phụ sẽ cao hơn. Do vậy, để giảm tần suất và mức độ nghiêm trọng của bệnh lý thai bám sẹo mổ lấy thai, nhau cài răng lược, ngoài các chiến lược để hạ thấp tỷ lệ mổ lấy thai thì vai trò của người làm công tác chẩn đoán hình ảnh cũng rất quan trọng. Việc chẩn đoán sớm và chính xác sẽ góp phần quan trọng giúp cải thiện tiên lượng nhóm bệnh lý này. 2. Thai bám sẹo mổ lấy thai Thai bám sẹo mổ lấy thai được chẩn đoán khi siêu âm ngã âm đạo có những dấu hiệu sau: TỔ N G Q U A N TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(03), 12 - 15, 2017 13 Tập 15, số 03 Tháng 09-2017 1. Buồng tử cung, kênh cổ tử cung trống. 2. Túi thai (+/- phôi thai) làm tổ thấp, ở vị trí sẹo mổ lấy thai. Túi thai có thể nằm hoàn toàn trong thành trước cơ tử cung, vùng sẹo mổ lấy thai hoặc túi thai nằm một phần trong lòng và một phần trong cơ tử cung vùng seọ mổ lấy thai. 3. Lớp cơ giữa túi thai và thành bang quang mỏng (1-3 mm) hoặc biến mất. 4. Doppler màu, hình ảnh rất giàu mạch máu quanh túi thai, vùng sẹo mổ cũ. Hình (a): Túi thai nằm hoàn toàn trong thành trước, cơ tử cung vùng sẹo mổ lấy thai thành trước còn lại rất mỏng. Hình (b): túi thai nằm một phần trong lòng tử cung, một phần trong cơ tử cung thành trước, cơ tử cung thành trước vùng sẹo mổ cũ mỏng so với thành sau nhưng mức độ mỏng ít hơn so với trường hợp (a). Hình (c): Thai bám sẹo mổ lấy thai ngừng tiến triển, túi thai bờ không đều, nhau có hình ảnh thoái hóa. Hình (d): Doppler màu có hình ảnh rất giàu mạch máu quanh túi thai (vòng tuần hoàn của lớp nguyên bào nuôi) và mạch máu tăng sinh vùng sẹo mổ lấy thai cũ. Do những nguy cơ nghiêm trọng ở quí 3 thai kì nên thai bám sẹo mổ lấy thai nếu được chẩn đoán ở quí một sẽ được chỉ định ngừng thai. Tuy nhiên có những trường hợp thai phụ mong giữ thai, vậy có yếu tố nào có thể nhận diện hay loại trừ các trường hợp thai bám sẹo mổ lấy thai sẽ tiến triển thành thể nhau cài răng lược thể nặng với nguy cơ mất tử cung? Tác giả Ilan E. Timor-Tritsch [1] đã mô tả dấu hiệu Cross-over sign (COS) phân độ nghiêm trọng của thai bám sẹo mổ lấy thai. Theo ông thì các trường hợp COS1 đều tiến triển thành nhau cài răng lược thể nặng (percreta). COS2- có tiên lượng tốt hơn so với COS2 và COS1. • COS 1: ≥2/3 túi thai nằm trên đường nội mạc về phía thành trước tử cung. • COS2 +: <2/3 túi thai nằm trên đường nội mạc tử cung • COS2 -: Túi thai nằm dưới đường nội mạc về phía thành sau tử cung 3. Nhau cài răng lược • Định nghĩa: nhau cài răng lược là hậu quả của sự khiếm khuyết màng rụng đáy và sự phát triển không hoàn chỉnh của lớp Nitabuch, gây ra hậu quả nhau xâm lấn bất thường vào thành tử cung (ACOG Committee Opinion) • Phân loại: o Accreta: Nhau chỉ bám vào cơ tử cung, chưa xâm lấn qua lớp màng rụng. Đây là thể nhẹ nhất và chiếm tỷ lệ nhiều nhất, # 80% o Increta: Nhau xâm lấn vào cơ tử cung, chiếm 15% nhau cài răng lược o Percreta: Nhau xâm lấn qua hết lớp cơ, đến thanh mạc và vào các cơ quan lân cận như bàng quang và vách chậu hai bên. Đây là thể nặng nhất và tỷ lệ thấp nhất, # 5% nhau cài răng lược. • Siêu âm chẩn đoán: Bất thường cấu trúc bánh nhau. Bánh nhau không đồng nhất, có các xoang mạch máu đa hình dạng (Lacunae) làm cho bánh nhau có hình ảnh “Moth Eatean”. Sự hiện diện của các Lacunae được cho là một dấu hiệu của nhau cài răng lược. Sinh lý bệnh học của dấu hiệu này vẫn chưa rõ, có thể do mô nhau bị thay đổi cấu trúc do tiếp xúc lâu dài với những dòng chảy có nhịp đập của các mạch máu. Hình ảnh các Lacunae rất thay đổi, có thể là những dòng chảy có vận tốc thấp hay Doppler màu Trên siêu âm Doppler màu, có hình ảnh giàu mạch máu ở đoạn dưới, vị trí tiếp xúc với thành bàng quang. Tuy nhiên dấu hiệu này cũng mang tính định tính nhiều vì hiện nay vẫn chưa có tiêu chuẩn định lượng rõ ràng như thế nào gọi là tăng sinh mạch máu so với bình thường. Ngoài ra, ở các trường hơp nhau bám thấp ở đoạn dưới tử cung dù không có cài răng lược thì cũng tăng sinh mạch máu nhiều hơn so với nhau bám trên đáy ở người có sẹo mổ lấy thai. Hình ảnh trực tiếp mô nhau xâm lấn vào thành bàng quang. Sự hiện diện của nhau ở thành bàng quang là một bằng chứng mạnh của nhau xâm lấn bất thường. Nhưng đây là một dấu hiệu hiếm gặp, thường ở thể percreta, nên dấu hiệu này có độ nhạy thấp và độ đặc hiệu cao Hình (a): Thành bàng quang bình thường. Hình (b); Thành bàng quang bị xâm lấn ít. Hình (c): thành bàng quang bị xâm lấn bởi nhiều chồi nhau và mạch máu tân sinh. Xâm lấn vách chậu hai bên Nhau có thể xâm lấn sang hai bên, vào vách chậu. MRI giúp chẩn đoán sự xâm lấn này. Trong một nghiên cứu của E. Pilloni và cộng sự [4], nếu có ít nhất hai trong các dấu hiệu sau thì độ nhạy của siêu âm trong chẩn đoán nhau bám chặt bệnh lý là 81,1% và độ đặc hiệu là 98,9%. • Vùng phản âm kém sau nhau mất hoặc không đều. •Khoảng giữa thành bàng quang và thanh mạc tử cung mỏng đi hoặc bị gián đoạn. • Bề dày cơ tử cung đoạn dưới vùng sẹo mổ lấy thai <1 mm. HÀ TỐ NGUYÊN 14 Tậ p 15 , s ố 03 Th án g 09 -2 01 7 TỔ N G Q U A N vận tốc rất cao; lan tỏa hay chỉ là những vùng khu trú với các dòng xoáy, alizing và không nhất thiết phải ở các vùng bị cài răng lược. Bất thường ở diện tiếp xúc nhau- tử cung. Mất khoảng trống bình thường sau nhau được xem là một dấu hiệu của nhau cài răng lược. Tuy nhiên việc nhận diện dấu hiệu này có tính chủ quan, tùy người siêu âm và vị trí nhau bám (mặt trước hay sau), nên có tỷ lệ dương giả cao. Hình (a): Đường phản âm kém bình thường sau nhau (lớp màng rụng đáy). Hình (b): Đường phản âm kém thoạt nhìn có thể nghĩ là lớp màng rụng hay lớp cơ tử cung bình thường sau nhau. Tuy nhiên khi phổ Doppler màu (Hình c) thì đây là các mạch máu mới hình thành do nhau cài răng lược, xâm lấn vào lớp cơ tử cung. Bề dày cơ tử cung đoạn dưới Cơ tử cung đoạn dưới mỏng hoặc biến mất do sự xâm lấn và thế chỗ của các chồi nhau và các mạch máu mới hình thành. Hình minh họa: So sánh đoạn cơ tử cung còn (vị trí đặt con trỏ đo) và đoạn dưới cơ tử cung hoàn toàn biến mất (mũi tên) Hình (a): Các Lacunae siêu âm 2D. Hình (b): Các lacunae khi phổ Doppler • Sự hiện diện của các Lacunae với dòng chảy có vận tốt cao (>15 cm/s) • Tăng sinh mạch máu khoảng giữa thành bàng quang và thanh mạc tử cung. • Mất vòng cung mạch máu chạy song song với bản đệm đáy và các mạch máu trong nhau không đồng đều. Vai trò của cộng hưởng từ (MRI) Mri được chỉ định khi SA không chắc chắn chẩn đoán hoặc các trường hợp siêu âm nghi cài răng lược thể nặng, cần đánh giá sự chính xác mức độ xâm lấn các cấu trúc lân cận và có kế hoạch cắt tử cung. Hình (a): các dãi tối trong nhau. Hình (b): Thành trước tử cung nhấp nhô, mất liên tục do sự xâm lấn của nhau. Hình (c): Bàng quang bị ấn lõm do nhau xâm lấn vào thành bàng quang. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(03), 12 - 15, 2017 15 Tập 15, số 03 Tháng 09-2017 4. Kết luận Thai bám sẹo mổ lấy thai là tiền thân của nhau cài răng lược ở nữa sau thai kì. Hai bệnh lý này đều có nguy cơ cao tử vong và bệnh tật cho cả mẹ và con. Siêu âm phân loại thai bám sẹo mổ lấy thai theo COS, có thể giúp các bác sĩ lâm sàng có thêm thông tin hữu ích để tư vấn chọn lựa một biện pháp xử trí phù hợp cho từng trường hợp. Việc chẩn đoán trước sinh bệnh lý nhau cài răng lược vẫn còn nhiều hạn chế, chưa có môt chuẩn mực rõ ràng trong các tiêu chuẩn chẩn đoán. Các dấu hiệu trên siêu âm còn mang tính chủ quan, định tính cũng như có sự trùng lắp giữa bình thường và bệnh lý. Tuy nhiên hiện nay siêu âm vẫn là một phương tiện chẩn đoán tốt và đầu tay nhóm bệnh lý này, giúp bác sĩ lâm sàng có kế hoạch xử trí tốt, cải thiện tiên lượng bệnh tật và tử vong cho cả mẹ và con. Tài liệu tham khảo 1. Cali G, Forlani F, Timor-Trisch I, Palacios-Jaraquemada J, Minneci G, D’Antonio F. Natural history of caesarean scar pregnancy on prenatal ultrasound: the cross-over sign. Ultrasound Obstet Gynecol. 2016. 2. Cali G, Giambanco L, Puccio G, Forlani F. Morbidly adherent placenta: evaluation of ultrasound diagnostic criteria and differentiation of placenta accreta from percreta. Ultrasound Obstet Gynecol 2013; 41: 406–412. 3. Jurkovic D. Cesarean scar pregnancy and placenta accreta. Ultrasound Obstet Gynecol 2014; 43: 361–362. 4. E. Pilloni, M. G. Alemanno, P. Gaglioti, A. Sciarrone, A. Garofalo, M. Biolcati, G. Botta, E. Viora And T. Todros: Accuracy of ultrasound in antenatal diagnosis of placental attachment disorders ultrasound Obstet Gyneco 2016;47: 302–307 5. Timor-Tritsch IE, Monteagudo A, Arslan AA, Santos R, Tsymbal T. The diagnosis, treatment and follow-up of cesarean scar pregnancy. Am J Obstet Gynecol 2012; 207: 44.e1–13. 6. Timor-Tritsch IE, Monteagudo A, Cali G, Palacios-Jaraquemada JM, Maymon R, Arslan AA, Patil N, Popiolek D, Mittal KR. Cesarean scar pregnancy and early placenta accreta share common histology. Ultrasound Obstet Gynecol 2014; 43: 383–95.
File đính kèm:
thai_bam_seo_mo_lay_thai_va_nhau_cai_rang_luoc_van_de_chan_d.pdf

