Tắc mạch ối - Một tai biến sản khoa đặc biệt nguy hiểm

Tắc mạch ối là tình trạng nước ối và các thành phần của nó đi vào trong tuần hoàn mẹ gây

tắc mạch, choáng nặng và rối loạn đông máu. Biến chứng này khá hiếm gặp nhưng nặng nề

với tỷ lệ tử vong cao. Một số yếu tố được xem làm tăng nguy cơ tắc mạch ối, mặc dù cơ chế

bệnh sinh chưa thật sự sáng tỏ. Triệu chứng lâm sàng diễn ra cấp tính liên quan đến rối loạn

tuần hoàn và hô hấp. Chẩn đoán sớm là cần thiết và nguyên tắc xử trí là hỗ trợ nhằm đảm

bảo thông khí tối đa với duy trì oxy nồng độ cao, hỗ trợ tuần hoàn tích cực, và xử trí rối loạn

đông máu.

pdf 4 trang phuongnguyen 440
Bạn đang xem tài liệu "Tắc mạch ối - Một tai biến sản khoa đặc biệt nguy hiểm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tắc mạch ối - Một tai biến sản khoa đặc biệt nguy hiểm

Tắc mạch ối - Một tai biến sản khoa đặc biệt nguy hiểm
50 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
TẮC MẠCH ỐI - MỘT TAI BIẾN SẢN KHOA 
ĐẶC BIỆT NGUY HIỂM
 Nguyễn Đức Vy
Định nghĩa
Tắc mạch ối (Amniotic Fluid Embolism: 
AFE) có thể định nghĩa khái quát là một cấp 
cứu rất hiếm gặp nhưng lại rất nguy hiểm 
cho cả hai sinh mạng (sản phụ và thai nhi) 
trong sản khoa trong đó nguyên nhân là do 
nước ối và các thành phần có trong nước ối 
như: tế bào thai nhi, bọt khí, chất gây tóc 
hoặc cả các mảnh tổ chức khác của thai, 
phân su.đã làm tắc mạch xảy ra do máu 
trong lòng mạch bị các thành phần của nước 
ối vít tắc lại. Có hai diễn biến lớn xảy ra là 
choáng nặng và rối loạn đông máu.
Những nghiên cứu gần đây nhất (2005 - 
2008 Abenhaim - USA và Đăng kiểm Anh 
Tuffnell 2005) và hiện tại cho thấy tắc mạch 
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 50-53, 2012
Tóm tắt
Tắc mạch ối là tình trạng nước ối và các thành phần của nó đi vào trong tuần hoàn mẹ gây 
tắc mạch, choáng nặng và rối loạn đông máu. Biến chứng này khá hiếm gặp nhưng nặng nề 
với tỷ lệ tử vong cao. Một số yếu tố được xem làm tăng nguy cơ tắc mạch ối, mặc dù cơ chế 
bệnh sinh chưa thật sự sáng tỏ. Triệu chứng lâm sàng diễn ra cấp tính liên quan đến rối loạn 
tuần hoàn và hô hấp. Chẩn đoán sớm là cần thiết và nguyên tắc xử trí là hỗ trợ nhằm đảm 
bảo thông khí tối đa với duy trì oxy nồng độ cao, hỗ trợ tuần hoàn tích cực, và xử trí rối loạn 
đông máu. 
Abstract: 
Amniotic fluid embolism – an extremely dangerous obstetric complication
Amniotic fluid embolism is a condition in which amniotic fluid and its components invasive 
into the maternal circulation system causing embolism, severe shock and coagulopathy. This 
complication is quite rare but severe with high mortality. A number of factors considered 
increases the risk of amniotic fluid embolism, although the exact pathogenesis is really 
still unclear. Clinical symptoms related to acute circulatory and respiratory tract disorders. 
Early diagnosis is essential and the treatment principle is to support management to ensure 
maximum ventilation with oxygen to maintain a high concentration of circulating active 
support, and treating coagulation disorders.
TTND-GS.TS
Nguyễn Đức Vy l 51
ối là một biến chứng sản khoa nguy hiểm tử 
vong cao, không thể đoán trước và không 
thể dự phòng. Tuy nhiên các nhà sản khoa 
cần hết sức cảnh giác, có biện pháp điều trị 
tích cực nghĩa là phải nâng cao nhận thức về 
tắc mạch ối, chuẩn bị và sẵn sàng các phương 
tiện, thuốc cấp cứu, yếu tố VIIa hoạt hóa 
(huyết học), thông khí, cầu nối tim - phổi 
khi cầnđể có thể mang lại hy vọng sống 
sót cao hơn cho cả thai nhi và sản phụ (mặc 
dù rất khó).
Các vấn đề có liên quan, dễ dẫn đến tắc 
mạch ối hơn ở nhiều quan điểm cho rằng:
Các bà mẹ nhiều tuổi, đẻ nhiều lần, 
chuyển dạ nhanh một cách bất thường, thai 
to, việc sử dụng các thuốc tăng co tử cung 
gây vỡ ối đột ngột (do đó có thể xảy ra trong 
nạo, phá thai to), việc truyền dịch vào buồng 
ối, chấn thương ổ bụng và kể cả sau đẻ cũng 
xảy ra.
Tần suất:
Theo các số liệu thống kê có tần suất mắc 
bệnh là:
- Morgan 1979 là từ 1/8000 đến 1/80.000 
ca đẻ chết 86%.
- Đăng kiểm Mỹ (clatk 1995) có 61% chết, 
85% di chuyển vĩnh viễn.
- Mỹ (Gilbert 1999) là 1/21.000, chết 26%.
- Đăng kiểm Anh (Tufnell 2005) chết 37%; 
7% ảnh hưởng vĩnh viễn.
Theo Abenhaim và cs (2008) với nghiên 
cứu 3.000.000 trường hợp đẻ tại Mỹ (từ 1999 
đến 2003) có tần suất tắc mạch ối 7,7/100.000 
(1/13.000) và tỷ lệ chết 22%.
Tại các nước phát triển tắc mạch ối chiếm 
một tỷ lệ cao hơn trong các tử vong mẹ: 
(theo báo cáo của Eyal Schiff-Israel).
- Tại Anh quốc có 60 ca (từ 2000-2002) 
bằng 8%.
- Tại Mỹ có 7,5% tử vong mẹ.
- Tại Úc (Australia) 10% tử vong mẹ.
- Liên hệ lại với y học cổ truyền về bệnh 
học:
- Theo Steiner và Lushbaugh 1941 có 42 
báo cáo giải phẫu bệnh học ở những ca bà 
mẹ chết trong 3 tháng cuối của thai sản thì có:
- 9 ca (21%) đã tìm thấy trong mạch phổi 
có các thành phần của nước ối là:
+ Chất nhầy
+ Tế bào biểu bì
+ Tế bào ái toan vô định hình
Theo giải phẫu bệnh học cổ điển từ đó 
xác định là tắc mạch ối (theo cổ điển).
Sinh bệnh học:
Như trên đã nêu, có nhiều tranh cãi:
1. Tắc mạch ối theo cổ điển (nêu trên)?
2. Tắc mạch ối là một phản ứng phản vệ?
Các dữ liệu có được ở lâm sàng và các 
nghiên cứu hiện nay cho rằng: bản chất 
của hội chứng này là một quá trình “sốc 
phản vệ” hơn là đơn thuần chỉ có tắc 
mạch. Bởi lẽ, khi nước ối đột ngột xâm 
nhập vào tuần hoàn máu gây tắc mạch và 
đông máu rải rác trong lòng mạch tiếp 
đó (CIVD) dẫn đến rối loạn đông máu và 
gây chảy máu nặng nề đưa đến một sốc 
sản khoa do đau đớn và mất máu cấp tính 
đồng thời với sốc phản vệ là các protein 
lạ ở nước ối tràn vào nên đã gây tử vong 
rất nhanh do bà mẹ.
Có thể nước ối và các tế bào của thai nhi 
đó là các kháng nguyên từ thai nhi gây ra 
phản ứng phản vệ của cơ thể mẹ. Từ đó 
xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng. Vấn đề 
này vẫn đang tiếp tục nghiên cứu với trọng 
tâm là sự phân rã nhân các tế bào khổng lồ 
để giải phóng ra các histamine và các men 
trytasegây hoạt hóa một chuỗi phản ứng 
phức tạp khác.
Mặt khác, các nghiên cứu cũng chỉ ra: 
không nên hiểu máy móc và khẳng định 
chẩn đoán (theo cổ điển) là thấy xuất hiện 
các thành phần tế bào thai, biểu bì, lá nuôi 
52 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
trong máu mẹ (máu lấy từ động mạch phổi) 
đã kết luận tắc mạch ối, vì người ta thấy cả 
ở các sản phụ không có bệnh lý này cũng 
thường xuyên thấy có tế bào thai kể trên. Đó 
chỉ mới là một nghi vấn còn phải kết hợp 
với lâm sàng của triệu chứng tuần hoàn, hô 
hấp mới có thể khẳng định chẩn đoán (đây 
là điều y pháp cần lưu ý).
Các dấu hiệu lâm sàng:
Quá trình bệnh cảnh thường xuất hiện 
hai giai đoạn nhưng gắn liền nhau và rất 
cấp tính.
Giai đoạn 1: có sự co thắt của động 
mạch phổi gây tăng áp lực động mạch 
phổi và tâm thất phải cấp tính đưa đến 
giảm ô xy máu nhanh chóng gây nên vỡ 
các mao mạch ở cơ tim, ở phổi, làm suy 
tim trái và hội chứng suy thở cấp. Riêng 
giai đoạn này đã chỉ có khoảng 50% sống 
sót qua giai đoạn 1 (chỉ trong khoảng 60 
phút).
Giai đoạn 2: là giai đoạn chảy máu 
đồng loạt và có đông máu rải rác trong 
lòng mạch (CIVD).
Trên giường bệnh thấy rõ: sản phụ xuất 
hiện rất nhanh là thở cấp; có thể ho lên; 
huyết áp tụt nhanh, trong đó huyết áp tâm 
trương: tím tái da, môi, đầu ngón chi, có thể 
ngừng tim luôn, có thể kèm theo luôn OAP 
(phù phổi cấp).
Cần phải loại trừ các chẩn đoán phân 
biệt như:
Tắc mạch do huyết khối, tắc mạch khí, 
sốc nhiễm khuẩn.
Nhồi máu cơ tim cấp tính, sốc phản vệ do 
nguyên nhân khác
Hội chứng rau bong non, phản ứng của 
gây tê tại chỗ.
Hội chứng tắc mạch ối với bệnh cảnh 
lâm sàng:
+ Điển hình là xảy ra trong chuyển dạ đẻ.
+ Có thể sau đẻ muộn, do chọc ối, phá thai.
+ Sang chấn vùng bụng, vỡ tử cung.
+ Truyền dịch vào buồng ối.
+ Dấu hiệu cổ điển: đột quỵ đột ngột, hạ 
huyết áp đột ngột, suy tuần hoàn và tử vong 
(không lý giải) và các xét nghiệm có thành 
phần nước ối trong động mạch phổi – tế bào 
biểu mô thai có kháng thể chống nhầy, nhớt 
trong huyết thanh phổi bà mẹ.
Tỷ lệ thường gặp:
Tụt huyết áp > 80% các ca bệnh (13% 
trước đẻ - Clark 1995).
Giảm oxy máu > 80% và có co giật ( 30% 
trước đẻ - Đăng kiểm Clark 1995).
- Sốt
- Rét run
- Đau đầu
- Buồn nôn, nôn
- Tim thai suy (loạn nhịp tim thai 17%).
- Thường gặp ở thai trai hơn (Clark 1995).
Điều trị:
Với khả năng tiến bộ của kỹ thuật chẩn 
đoán, xử trí đúng đặc biệt là vấn đề hồi sức 
cấp cứu thì các nghiên cứu của các nước 
phát triển cho thấy có thể sống được từ 
80-85% các trường hợp tắc ối (mặc dù theo 
quan niệm cũ): “người bệnh sống sót có thể 
không phải là tắc mạch ối”.
“Phác đồ” chung có thể là:
- Đảm bảo thông khí tối đa với duy trì 
oxy nồng độ cao.
- Hỗ trợ tuần hoàn tích cực, chủ động.
- Xử trí tốt tình trạng đông máu (phải loại 
bỏ được các nguyên nhân suy tuần hoàn khác).
Cụ thể là:
Điểm cơ bản phải tăng cường tối đa 
vận mạch để điều trị tụt huyết áp dai dẳng 
với Dopamin; Phenylephrin; Epinephrine; 
Norpinephrine; Digoxin (trợ cơ tim).
Phải làm được siêu âm tim để chẩn đoán và 
điều trị qua thành ngực (Echocardiography 
hay thực quản) đây là cách hữu hiệu cho 
chẩn đoán và điều trị.
- Dùng các gốc tự do Cryo để giải quyết 
các máu cục và Fibronectin cho việc điều trị 
đông máu rải rác trong lòng mạch và chảy 
máu (CIDV).
Nguyễn Đức Vy l 53
- Xử trí tích cực vấn đề đờ tử cung (thắt 
động mạch tử cung).
- Tăng cường yếu tố VIIa hoạt hóa cho 
chảy máu nặng; truyền khối tiểu cầu.
Chú ý
- Phải khẩn trương lấy thai ra (nếu thai 
sống) vì có tới 65% tắc mạch ối xảy ra trước 
đẻ (mổ lấy thai).
- Điều trị, theo dõi đề phòng các thương 
tổn cho sơ sinh do bị giảm oxy máu. Trong 
đó có hỗ trợ hô hấp cho bà mẹ.
Sau cùng là các kỹ thuật trợ giúp hiện đại 
ở các trung tâm lớn:
- Bắc cầu tim - phổi.
- Oxy qua màng ECMO (Etracorporel 
circulation membrall oxygenation- Màng 
trao đổi oxy ngoài cơ thể- “phổi máy”).
- Đặt bóng nội động mạch chủ.
- Liệu pháp tích cực chống sốc phản vệ.
- Lọc máu (huyết tương) hoặc thay thế 
huyết thanh.
Kết luận:
Đây là những kiến thức cơ bản mà 
người làm công tác giám định pháp y (của 
ngành y tế) cần biết để từ đó khi có trưng 
cầu giải quyết các vấn đề tử vong hoặc di 
chứng nặng nề của bệnh cảnh Tắc mạch ối 
chúng ta sẽ biết vận dụng vào giải quyết – 
cũng như các bác sĩ, hộ sinh của ngành sản 
phụ khoa cũng cần phải biết để xử trí, tiên 
lượng và tư vấn cho thân nhân gia đình của 
thai phụ được biết và có sự thông cảm tự 
ổn định hơn và hiểu rằng đây là một bệnh 
cảnh rất hiếm và ít gặp, tỷ lệ là 1/10.000 ca 
đẻ nhưng lại là một bệnh lý chỉ xảy ra khi 
chuyển dạ đẻ một cách bất thường là chính 
và không dự phòng trước được cho đến nay 
trên toàn cầu vẫn chưa có giải pháp về dự 
phòng còn bà mẹ nếu may mắn cứu được 
thì sống với di chứng không hiểu biết do 
trạng thái tổn thương hệ thống thần kinh 
trung ương.

File đính kèm:

  • pdftac_mach_oi_mot_tai_bien_san_khoa_dac_biet_nguy_hiem.pdf