Tác dụng ngoại ý của methotrexate trong điều trị bệnh lý tân sinh nguyên bào nuôi
Đặt vấn đề: Phác đồ chủ yếu hiện nay cho bệnh lý tân sinh nguyên bào nuôi nguy cơ thấp là đơn hóa trị
MTX/FA 8 ngày. Do cơ chế điều trị không đặc hiệu nên ngoài hiệu quả điều trị còn tiềm ẩn nguy cơ gặp phải
những tác dụng không mong muốn.
Mục tiêu: Xác định tần suất và các yếu tố liên quan đến tăng men gan ở bệnh nhân tân sinh nguyên bào
nuôi nguy cơ thấp điều trị MTX.
Bạn đang xem tài liệu "Tác dụng ngoại ý của methotrexate trong điều trị bệnh lý tân sinh nguyên bào nuôi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Tác dụng ngoại ý của methotrexate trong điều trị bệnh lý tân sinh nguyên bào nuôi
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 114 TÁC DỤNG NGOẠI Ý CỦA METHOTREXATE TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ TÂN SINH NGUYÊN BÀO NUÔI Nguyễn Thị Giang1, Võ Minh Tuấn1 TÓM TẮT Đặt vấn đề: Phác đồ chủ yếu hiện nay cho bệnh lý tân sinh nguyên bào nuôi nguy cơ thấp là đơn hóa trị MTX/FA 8 ngày. Do cơ chế điều trị không đặc hiệu nên ngoài hiệu quả điều trị còn tiềm ẩn nguy cơ gặp phải những tác dụng không mong muốn. Mục tiêu: Xác định tần suất và các yếu tố liên quan đến tăng men gan ở bệnh nhân tân sinh nguyên bào nuôi nguy cơ thấp điều trị MTX. Phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu, lấy mẫu toàn bộ 163 bệnh nhân tân sinh nguyên bào nuôi nguy cơ thấp được điều trị MTX/FA từ tháng 10/2019 đến tháng 06/2020 tại BVTD. Phân tích sống còn Kaplan-Meier để khảo sát tần suất tăng men theo thời gian. Xá17c định các yếu tố liên quan đến tăng men gan qua mô hình hồi quy Cox. Xây dựng Nomogram giúp tiên đoán nguy cơ trên đồ thị trực diện. Kết quả: Tần suất tăng men gan là 47/163 trường hợp tương đương 28,83%. Tăng men gan xảy ra nhiều nhất sau chu kì 1 với 16 trường hơp, tiếp theo là sau chu kì 2 với 14 trường hợp, sau chu kì 3 là 9 trường hợp, sau chu kì 4,5,6 lần lượt là 4,2,1,1 trường hợp. Không có trường hợp nào sau chu kì 8,9. Nhóm BN có AST trước hóa trị >25 UI/L có nguy cơ tăng men gan gấp 2.294 lần so với nhóm có AST trước hóa trị ≤25 UI/L. Xây dựng mô hình Nomogram dựa trên hồi quy Cox với 4 yếu tố đa biến gồm: tuổi, BMI, AST trước hóa trị, ALT trước hóa trị. Các tác dụng phụ khác ghi nhận được bao gồm loét miệng, tiêu chảy, nôn ói, rụng tóc với tỉ lệ lần lượt là 18,4%, 14,72%, 10,43%, 4,91%. Hầu hết đều ở mức nhẹ, không cần điều trị chuyên biệt. Kết luận: Tần suất tăng men gan chung là 28,83%, xảy ra trong vòng 3-4 chu kì đầu. AST trước hóa trị là yếu tố có liên quan tới tình trạng tăng men gan. Biểu đồ Nomogram sẽ giúp bác sĩ dễ dàng ước tính nguy cơ tăng men gan của bệnh nhân tân sinh nguyên bào nuôi điều trị MTX/FA. Từ khóa: tăng men gan, tân sinh nguyên bào nuôi ABSTRACT SIDE EFECT OF METHOTREXATE IN GESTATIONAL TROPHOBLASTIC NEOPLASIA TREATMENT Nguyen Thi Giang, Vo Minh Tuan * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 114 - 122 Background: Most cases of GTN in Tu Du hospital is treated with a course of methotrexate with folinic acid given in between dosages (MTX/FA protocol). MTX is able to effectively arrest the growth of cancer cells, however, fast growing normal tissues are also easily affected. Therefore, adverse effects of MTX are known to occurred frequently at these sites. Objective: Identify the incidence and related factors of elevated transaminases in low-risk gestational trophoblastic disease patients treated with methotrexate. Methods: Prospective cohort. We selected entire 163 patients with low-risk gestational trophoblastic disease, treated with methotrexate and folinic acid, from October 2019 to June 2020 at Tu Du hospital. Kaplan-Meier survival analysis is performed to determine the incidence of elevated transaminases over time. We apply Cox regression model in order to identify factors related to elevated transaminases and build a Nomogram to predict 1Bộ môn Phụ Sản Đại học Y Dược TP. HCM Tác giả liên lạc: GS.TS.BS. Võ Minh Tuấn ĐT: 0909727199 Email: [email protected] Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 115 the risk of elevated transaminases. Results: The incidence of elevated transaminases is 28.83%. Out of 47 cases of elevated transaminases, 16 cases occurred after 1 cycle of treatment, 14 cases occurred after 2 cycles and 9 cases appeared after 3 cycles, and after 4, 5, and 6 cycles, there were only 4, 2, 1 cases of elevated transaminases, respectively. There were no cases after treatment cycle eighth and ninth. In patients with pre-treatment AST >25 UI/L, the risk of elevated transaminases is 2.29 times higher than in patience with pre-treatment AST <25 UI/L. Based on Cox regression model, we built a Nomogram with 4 variables, including age, BMI, pre-treatment AST, and pre-treatment ALT. Other adverse reactions included oral ulcer, diarrhea, vomiting, and hair loss, which occurred at an incidence of 18.4%, 14.7%, 10.4%, and 4.9%, respectively. Most of these reactions were minor and did not require any specific treatment. Conclusions: The overall incidence of elevated transaminases is 28.83%, usually occurred within the first 3 to 4 treatment cycle. Pre-treatment AST is related to elevated transaminases. Nomogram is able to determine risk of elevated transaminase in patience with low-risk gestational trophoblastic disease, treated with methotrexate and folinic acid. Key words: elevated transaminases, GTN ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh nguyên bào nuôi là một nhóm các bệnh đặc trưng bởi sự tăng sinh bất thường của các nguyên bào nuôi, chia làm hai nhóm tăng sinh lành tính nguyên bào nuôi (GTD) và tân sinh nguyên bào nuôi (GTN)(1). Trong đó tân sinh nguyên bào nuôi bao gồm: ung thư nguyên bào nuôi, u nguyên bào nuôi nơi nhau bám, u nguyên bào nuôi dạng biểu mô, nốt không điển hình nơi nhau bám và thai trứng xâm lấn(2). Tỉ lệ bệnh nguyên bào nuôi thay đổi giữa các vùng khác nhau trên thế giới. Các quốc gia có tỉ lệ bệnh cao như Indonesia (10/1000 thai phụ), Mexico (4.6/1000) và Nhật Bản (2/1000), Bắc Mỹ và châu Âu chiếm tỉ lệ thấp hơn(3,4). Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ bệnh nguyên bào nuôi khá cao so với các nước trên thế giới. Theo số liệu nghiên cứu của Phạm Huy Hiền Hào (bệnh viện phụ sản trung ương), tỉ lệ tân sinh nguyên bào nuôi hậu thai trứng là 20,2%(5). Báo cáo của khoa Ung bướu phụ khoa-bệnh viện Từ Dũ cho thấy, tỉ lệ tân sinh nguyên bào nuôi hậu thai trứng là 18,64 % năm 2015, 29,72% năm 2016, 16,22% năm 2017 và 19,5% năm 2018. Hiện nay, bệnh viện Từ Dũ là nơi tập trung quản lý, điều trị và theo dõi hầu hết các bệnh nhân tân sinh nguyên bào nuôi của các tỉnh phía nam. Mỗi năm bệnh viện tiếp nhận mới gần 1000 bệnh nhân thai trứng và khoảng 200 bệnh nhân theo dõi và điều trị tân sinh nguyên bào nuôi. Đa phần các bệnh nhân này thuộc diện nghèo, dân trí thấp, tập trung ở vùng nông thôn(6,7). Phác đồ đang áp dụng tại bệnh viện Từ Dũ cho tân sinh nguyên bào nuôi nguy cơ thấp là đơn hóa trị MTX hay Dactinomycin D. Tuy nhiên do tình hình khách quan là sự khan hiếm Actinomycin D nên MTX/FA hiện là lựa chọn đầu tay và duy nhất trong phác đồ đơn hóa trị. Methotrexate (MTX) là 1 chất kháng chuyển hóa acid folic, nó gắn vào men dihydrofolate reductase không cho men này chuyển thành tetrahydrofolalic acid, dẫn đến ức chế tổng hợp DNA, RNA và protein(8). Do đó nó sẽ gây chết tế bào trong pha tổng hợp (pha S). Do cơ chế này, MTX giúp ngăn chặn hiệu quả sự tăng trưởng của các tế bào ung thư, tuy nhiên nó cũng tác dụng trên các tế bào lành tăng trưởng mạnh của cơ thể. Các tác dụng ngoại ý của MTX được ghi nhận bao gồm rối loạn chức năng gan, ức chế tủy xương, thể hiện qua giảm các dòng tế bào máu, viêm niêm mạc đường tiêu hóa, viêm phổi, nhiễm độc thận, viêm da, một số tác dụng ngoại ý có thể đe dọa tính mạng bệnh nhân như nhiễm độc gan, tổn thương phổi, ức chế tủy(9,10). Hiện nay, MTX/FA là thuốc đầu tay trong phác đồ điều trị bệnh lý tân sinh nguyên bào nuôi Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 116 nhóm nguy cơ thấp tại Từ Dũ(11). Tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu về tác dụng ngoại ý của MTX trong quá trình điều trị bệnh lý tân sinh nguyên bào nuôi tại bệnh viện Từ Dũ. Điều này rất quan trọng để giúp thầy thuốc tư vấn cho bệnh nhân trước khi bắt đầu hóa trị. Do đó chúng tôi thực hiện đề tài này với câu hỏi nghiên cứu là: “Tần suất xảy ra những tác dụng ngoại ý của MTX trong điều trị bệnh lý tân sinh nguyên bào nuôi là bao nhiêu?” Mục tiêu Xác định tần suất và các yếu tố liên quan đến tăng men gan ở bệnh nhân tân sinh nguyên bào nuôi nguy cơ thấp điều trị MTX. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Bệnh nhân tân sinh nguyên bào nuôi nguy cơ thấp được điều trị MTX/FA tại bệnh viện Từ Dũ từ tháng 10/2019 đến tháng 6/2020. Tiêu chuẩn nhận vào Bệnh nhân được chẩn đoán là tân sinh nguyên bào nuôi (TSNBN) nguy cơ thấp. Được chỉ định hóa trị phác đồ MTX/FA bởi bác sỹ Trưởng/Phó khoa hoặc bác sĩ có chứng nhận về sử dụng hóa chất trong điều trị các bệnh lý ác tính theo qui định của Bộ Y tế. Đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ Chẩn đoán hoặc nghi ngờ bệnh tâm thần. - Có bất thường chức năng gan thận trước đó. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu. Cỡ mẫu Công thức ước lượng một tỉ lệ với độ chính xác tuyệt đối : N= Z2(1-a/2) P(1-P)/ d2 d: độ chính xác tuyệt đối 5%. n: cỡ mẫu cần thiết tối thiểu đủ đảm bảo năng lực mẫu cho mục tiêu chính. Với tỉ lệ tăng men gan gặp trong nghiên cứu của Chalouhi GE (2009)(12), tỉ lệ tăng AST là 8,5%, lấy p 0,085. Do p d = p/2 = 0,043. Cỡ mẫu n = 162. Phương pháp thực hiện Lấy mẫu toàn bộ những ca tân sinh nguyên bào nuôi nguy cơ thấp được chỉ định điều trị MTX/FA thỏa tiêu chuẩn nhận vào. Bước 1: Xác nhận bệnh nhân tân sinh nguyên bào nuôi nguy cơ thấp được chỉ đinh điều trị MTX/FA Dựa trên danh sách bệnh nhân đang điều trị tại khoa, chúng tôi xác định được các bệnh nhân tân sinh nguyên bào nuôi nguy cơ thấp được chỉ định điều trị phác đồ MTX/FA. Bước 2: Mời bệnh nhân tham gia nghiên cứu Bệnh nhân được giải thích rõ về mục tiêu và phương pháp nghiên cứu, việc tham gia hoặc từ chối tham gia không ảnh hưởng tới quá trình điều trị của bệnh nhân, hoàn toàn tự nguyên đồng ý tham gia nghiên cứu thể hiện bằng văn bản. Bước 3: Phỏng vấn, thu thập số liệu Bệnh nhân được phỏng vấn theo bảng thu thập số liệu có sẵn. Các xét nghiệm cận lâm sàng được ghi nhận trong vòng 24 giờ kể từ khi có kết quả. Bước 4: Liên hệ những ca bỏ trị Những trường hợp không tái khám đúng hẹn được liên hệ qua điện thoại tối đa 3 lần. Nếu bệnh nhân không trở lại tái khám sẽ được xem là bỏ trị. Bước 5: Nhập, xử lí, phân tích số liệu Nhập và phân tích số liệu, viết báo cáo hoàn chỉnh. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu Nhập liệu bằng phần mềm EpiData 3.1, xử lý số liệu bằng phần mềm StataSE 13.0. Số liệu được mô tả dưới dạng tỉ lệ phần trăm, trung bình và trung vị cho từng biến số nghiên cứu. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 117 Phân tích sống còn theo phương pháp Kaplan-Meier. Các yếu tố liên quan đến tăng men gan được kiểm định bằng mô hình hồi quy Cox đơn biến, đa biến. Xây dựng mô hình Nomogram từ hồi quy Cox đa biến. Sử dụng khoảng tin cậy 95% và năng lực mẫu 90% trong các phân tích thống kê. Mô tả biến số thiết yếu Tăng men gan: AST hoặc ALT ≥1,25 lần GTBT(13). GTBT AST, ALT là 40 UI/L(14). Tăng men gan được xác nhận khi AST/ALT ≥50 UI/L. Thời gian sống còn: đơn vị là chu kì, là số chu kì mà xuất hiện tăng men gan sau chu kì đó hoặc khi kết thúc điều trị với nhóm không tăng men gan. Y đức Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược TP. HCM, số 475/ĐHYD-HĐĐĐ, ngày 11/10/2019. KẾT QUẢ Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Từ 10/2019 đến 06/2020 có 172 bệnh nhân tân sinh nguyên bào nuôi nguy cơ thấp được chẩn đoán và điều trị phác đồ MTX/FA. Có 163 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn và đồng ý tham gia nghiên cứu. Bảng 1: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Tần số Tỷ lệ Tuổi mẹ ≤40 >40 124 39 76,07 23,93 BMI (kg/m 2 ) ≤25 >25 151 12 92,64 7,36 HbsAg Âm tính Dương tính 153 10 93,87 6,13 AST trước HT (UI/L) ≤25 >25 130 33 79,75 20,25 Đặc điểm Tần số Tỷ lệ ALT trước HT (UI/L) ≤25 >25 129 34 79,14 20,86 Số lần sinh Chưa sinh lần nào 1 lần ≥2 lần 46 50 67 28,22 30,67 41,11 Sảy/bỏ thai Có Không 69 94 42,33 57,67 Tiền căn TT/BNBN Có Không 1 162 0,61 99,39 Nhóm máu O A B AB 68 31 53 11 41,72 19,02 32,52 6,75 Cắt TC Không Có 123 40 75,46 24,54 Hóa dự phòng trước đó Không Có 150 13 92,02 7,98 Trong nghiên cứu của chúng tôi, BMI trung bình của mẫu nghiên cứu là 21,24. Trong đó BMI cao nhất là 38,7, thấp nhất là 15,4. Về số lần sinh, 41,11% bệnh nhân đã sinh con 2 lần trở lên, số bệnh nhân chưa sinh lần nào chiếm tỉ lệ thấp nhất 28,22%. Về tiền căn sảy bỏ thai không có sự khác biệt nhiều. Trong nghiên cứu có 1 bệnh nhân có tiền căn thai trứng. Để xác định yếu tố có liên quan tới tăng men gan, chúng tôi chia giá trị AST làm 2 khoảng ≤25 UI/L và >25 UI/L. Đây là khoảng bách phân vị 75 trong nghiên cứu của chúng tôi. Có 33 trường hợp, tương đương 20,25% có giá trị AST trước hóa trị >25 UI/L. Tương tự, chúng tôi cũng chia ALT trước hóa trị làm 2 khoảng, ≤25 UI/L và >25 UI/L. Có 34 trường hợp (20,86%) có giá trị ALT trước hóa trị >25 UI/L. Về nhóm máu, trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ các nhóm máu theo thứ tự giảm dần là O, B, A, AB, cụ thể 41,72%, 19,02%, 32,52% và 6,75%. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 118 Về điều trị trước hóa trị, tất cả các bệnh nhân đều được hút nạo. 40 bệnh nhân tương đương 24,25%, được cắt tử cung, 13 trường hợp (7,98%) có hóa dự phòng trước điều trị. Bảng 2: Tần suất tăng men gan (n=163) Tần số Tỷ lệ 95% KTC Chỉ tăng AST 3 1,84 0,38-5,28 Chỉ tăng ALT 12 7,36 3,86-12,51 Tăng AST và ALT 32 19,63 13,83-26,57 Tăng AST hoặc ALT 47 28,83 22,02-36,44 Không tăng 116 71,17 63,56-77,98 Về tỉ lệ chung, trong số 163 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi, có 3 bệnh nhân chỉ tăng AST, chiếm 1,84%. 12 bệnh nhân (7,36%) chỉ tăng ALT, 32 bệnh nhân tăng cả 2 chỉ số AST và ALT (19,63%). Do khi tăng AST hay ALT đều có điều trị giống nhau nên chúng tôi xét tăng men gan là những bệnh nhân có tăng AST hoặc tăng ALT. Như vậy, có 47 ca tăng AST hoặc ALT, chiếm 28,83% (22,02-36,44%). Bảng 3: Tần suất tăng men gan theo thời gian Thời gian (chu kì) Tăng men gan (n= 47) Tần suất 95% KTC 1 16 9,82 6,13-15,52 2 14 18,65 13,42-25,28 3 9 24,96 18,88-32,57 4 4 29,96 22,82-38,87 5 2 34,48 25,86-44,98 6 1 40,44 27,94-55,92 7 1 52,53 31,51-76,59 8 0 52,53 31,51-76,59 9 0 52,53 31,51-76,59 Trong nghiên cứu của chúng tôi, tần suất tăng men gan xảy ra nhiều nhất trong vòng 3-4 chu kì đầu tiên, đặc biệt là sau chu kì 1 và chu kì 2. Cụ thể, 16 trường hợp tăng men gan sau chu kì 1, 14 trường hợp xảy ra tăng men gan ở chu kì 2, 9 trường hợp tăng men gan ở chu kì 3,chỉ 4 trường hợp tăng men gan xảy ra ở chu kì 4, 2 trường hợp xảy ra ở chu kì thứ 5, 1 trường hợp ở chu kì 6, 1 trường hợp ở chu kì 7. Như vậy có tới 39/47 trường hợp tăng men gan xảy ra trong vòng 3 chu kì đầu. 0 .0 0 0 .2 5 0 .5 0 0 .7 5 1 .0 0 0 2 4 6 8 10 chu ki Kaplan-Meier failure estimate Hình 1: Tần suất tăng men gan tích lũy theo thời gian Hình 1 cho thấy 50% các bệnh nhân BBTGBA trong nghiên cứu tái phát trong vòng 9 chu kì. Sau phân tích hồi quy Cox đơn biến 15 yếu tố, chúng tôi đưa 3 yếu tố có p <0,05 và 1 yếu tố (tuổi) có 0,05 <p <0,25 vào mô hình phân tích đa biến. Số liệu nghiên cứu chỉ ra nhóm có AST trước hóa trị >25 UI/L có nguy cơ tăng men gan cao gấp 2.294 lần so với nhóm có AST trước hóa trị ≤25 UI/L, p <0,05 (Bảng 4). Mô hình Nomogram Mô hình nomogram của chúng tôi gồm 4 yếu tố BMI, Tuổi, AST trước HT, ALT trước hóa trị được xây dựng trên nền tảng của mô hình Cox đa biến (Hình 2). Bảng 4: Phân tích đa biến mối liên quan giữa các yếu tố với tăng men gan. Yếu tố Thời gian nguy cơ (chu kì) Không tăng men gan N=163 Tăng men gan N= 47 HR (*) 95% KTC P (**) Tuổi ≤ 40 >40 417 115 91(73,38) 25(64,1) 33(26,62) 14(35,9) 1 1,031 0,53-1,99 0,927 BMI ≤ 25 >25 406 26 111(73,51) 5(41,67) 40(26,49) 7(58,33) 1 2,216 0,94 -5,25 0,071 Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 119 Yếu tố Thời gian nguy cơ (chu kì) Không tăng men gan N=163 Tăng men gan N= 47 HR (*) 95% KTC P (**) AST trước HT ≤25 >25 448 84 102(78,46) 14(42,42) 28(21,54) 19(57,58) 1 2,295 1,02-5,14 0,044 ALT trước HT ≤25 >25 438 94 101(78,29) 15(44,12) 28(21,.71) 19(55,88) 1 1,637 0,73-3,66 0,262 P (**): kiểm định hồi quy Cox đa biến, HR (*): hiệu chỉnh HR thô 40 25 25 25 Tuoi BMI AST truoc HT ALT truoc HT 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Score .6.7.8.9 .4.5.6.7.8 .2.3.4.5.6.7.8 .2.3.4.5.6.7 1 Chu ki 2 Chu ki 3 Chu ki 4 Chu ki 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 Total score Nomogram Hình 2: Mô hình nomogram Biểu đồ Nomogram giúp tiên lượng tỷ lệ tăng men gan trên thực hành lâm sàng. Biểu đồ có 2 phần: phần 1 là điểm (score) của từng yếu tố nguy cơ, phần 2 là điểm tổng cộng (total score) và xác suất sống chưa tái phát theo thời gian. Phần 1: Với mỗi gía trị của yếu tố nguy cơ sẽ cho tương ứng điểm trên thang score. Sau đó cộng điểm của các yếu tố nguy cơ sẽ được tổng điểm nguy cơ. Phần 2: Từ tổng điểm nguy cơ ở thang total score, chiếu lên thang thời gian ta sẽ tính được xác suất sống chưa tái phát tương ứng. Bảng 5: Tác dụng ngoại ý khác Bảng Tác dụng Tần số (n) Tỷ lệ Loét miệng 0. Không ảnh hưởng gì 1. Nhẹ 2. Trung bình 133 29 1 81,59 18,4 0,61 Tiêu chảy 0. Không tiêu chảy 139 85,28 Bảng Tác dụng Tần số (n) Tỷ lệ 1. Nhẹ 24 14,72 Rụng tóc 0. Không rụng tóc 1. Nhẹ 155 8 95,09 4,91 Buồn nôn/nôn 0. Không 1. Nhẹ 146 17 89,57 10,43 BÀN LUẬN Các đặc điểm về dịch tễ học của các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi tập trung chủ yếu trong độ tuổi sinh sản, ở các tỉnh thành ngoài TP. Hồ Chí Minh, nghề nghiệp chủ yếu là công nhân, nông dân và nội trợ, có tới gần 30% bệnh nhân có tình trạng kinh tế ở mức khó khăn. Các đặc điểm này cũng tương đồng với các nghiên cứu của các tác giả khác khi nghiên cứu về dân số bệnh lý nguyên bào nuôi tại bệnh viện Từ Dũ. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 120 Về tỉ lệ tăng men gan chung, có 47 ca tăng AST hoặc ALT, chiếm 28,83% (22,02-36,44%). Kết quả này tương đương với kết quả của kết quả nghiên cứu của Lê Sỹ Phương(14), 24,9%, do sự tương đồng về đặc điểm dịch tễ, nhân chủng học của đối tượng nghiên cứu. Tỉ lệ này thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Kang WD(9) báo cáo năm 2014 là 52,54%. Có thể do năng lực cỡ mẫu còn thiếu. Cỡ mẫu của Kang WD chỉ gồm 59 bệnh nhân được điều trị phác đồ MTX/FA. Tỉ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Chaloui GE (2009)(12) 8,5%. Có thể do sự khác biệt về dân số nghiên cứu. Nghiên cứu của Chaloui GE thực hiện tại Pháp, có quần thể dân số với các đặc điểm nhân chủng học khác với quần thể dân số của chúng tôi. Tuy nhiên khi so sánh với các nghiên cứu cũng cho thấy tỉ lệ tăng men gan còn rất nhiều thay đổi giữa các nghiên cứu. Khi khảo sát thời gian xuất hiện tăng men gan, chúng tôi nhận thấy rằng hầu hết tình trạng tăng men gan xảy ra trong vòng 3-4 chu kì đầu tiên của quá trình điều trị. Cụ thể, 16 trường hợp tăng men gan sau chu kì 1, 14 trường hợp xảy ra tăng men gan ở chu kì 2, 9 trường hợp tăng men gan ở chu kì 3,chỉ 4 trường hợp tăng men gan xảy ra ở chu kì 4, 2 trường hợp xảy ra ở chu kì thứ 5, 1 trường hợp ở chu kì 6, 1 trường hợp ở chu kì 7. Như vậy có tới 39/47 trường hợp tăng men gan xảy ra trong vòng 3 chu kì đầu. Như vậy có thể thấy rằng hầu hết tăng men gan xảy ra trong thời gian đầu, khi đã thích ứng được tỉ lệ tăng men gan xảy ra ít hơn ở những chu kì sau. Trong các nghiên cứu khác chúng tôi chưa ghi nhân giá trị này. Về yếu tố liên quan tới tình trạng tăng men gan, những bệnh nhân có AST trước hóa trị >25 UI/L có nguy cơ tăng AST/ALT gấp 2,294 lần so với nhóm có AST trước HT ≤25 UI/L, p <0,05. Như vậy, dường như những bệnh nhân có men gan trước điều trị thấp sẽ dung nạp tốt hơn với điều trị MTX/FA. Các nghiên cứu khác chúng tôi cũng chưa ghi nhận báo cáo về giá trị này. Chúng tôi xây dựng mô hình Nomogram để xác định nguy cơ tăng men gan cho từng bệnh nhân cụ thể ở một thời điểm cụn thể của quá trình điều trị. Ví dụ: Bệnh nhân tân sinh nguyên bào nuôi giai đoạn I, điểm nguy cơ thấp, được điều trị phác đồ MTX/FA, có BMI trước điều trị là 25,5, tuổi 28 AST trước điều trị là 26 UI/L, ALT trước điều trị là 21 UI/L, tổng điểm của bệnh nhân sẽ là 15 điểm. Chiếu lên tháng điểm toàn bộ, 82% bệnh nhân này sẽ không bị tăng men gan sau chu kì 1, 65% sẽ không bị tăng men gan ở chu kì thứ 2, và 53% bệnh nhân này sẽ không bị tăng men gan ở chu kì thứ 3 và 44% bệnh nhân sẽ không tăng men gan ở chu kì thứ 4 (Hình 3). 40 25 25 25 Tuoi BMI AST truoc HT ALT truoc HT 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Score .6.7.8.9 .4.5.6.7.8 .2.3.4.5.6.7.8 .2.3.4.5.6.7 1 Chu ki 2 Chu ki 3 Chu ki 4 Chu ki 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 Total score Nomogram Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 121 Hình 3: Ứng dụng mô hình nomogram Nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng với các nghiên cứu khác về những tác dụng không mong muốn khác mà bệnh nhân gặp phải khi điều trị MTX/FA. Các tác dụng thường gặp là loét miệng, tiêu chảy, nôn ói và rụng tóc. Hầu hết các tác dụng này ở mức độ nhẹ và trung bình, không ảnh hưởng tới quá trình điều trị của bệnh nhân. Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận hầu hết các tác dụng khó chịu này xảy ra sau chu kì thứ nhất và chu kì thứ 2 kể từ khi bắt đầu điều trị và có xu hướng giảm dần vào những chu kì sau. Bệnh nhân thường được hướng dẫn uống nhiều nước, tăng cường dinh dưỡng mà không cần điều trị đặc hiệu. Hạn chế đề tài Thử HCG mỗi 2 tuần khó so sánh chính xác với các tác giả trên thế giới vì họ thử HCG mổi tuần 1 lần. KẾT LUẬN Nghiên cứu trên 163 bệnh nhân tân sinh nguyên bào nuôi giai đoạn I, điểm nguy cơ thấp, được điều trị từ tháng 10/2019 tới tháng 6/2020, số liệu nghiên cứu chỉ ra: Tần suất tăng men gan là 28,83 (95% KTC: 22,02-36,44). Với thời gian theo dõi trung bình là 3,23 chu kì, số chu kì thấp nhất là 1, cao nhất là 9. Trong đó hầu hết tình trạng tăng men gan xảy ra trong vòng 3-4 chu kì đầu, đặc biệt là sau chu kì 1,2. Tăng men gan chủ yếu ở mức nhẹ và trung bình. Yếu tố liên quan tới tăng AST hoặc ALT có ý nghĩa thống kê là AST trước hóa trị. Những bệnh nhân có AST trước hóa trị >25 UI/L có nguy cơ tăng AST/ALT gấp 2,294 lần so với nhóm có AST trước HT ≤25 UI/L, p <0,05. Mô hình nomocox được xây dựng dựa trên mô hình hồi qui Cox đa biến gồm 4 yếu tố Tuổi, BMI, AST trước HT, ALT trước hóa trị giúp ứng dụng trên lâm sàng. Dựa vào biểu đồ này có thể dự đoán nguy cơ tăng men gan muốn tư vấn cho bệnh nhân tại một thời điểm cụ thể của quá trình điều trị. Các tác dụng ngoại ý khác thường gặp bao gồm loét miệng, tiêu chảy, nôn ói, rụng tóc với tỉ lệ lần lượt là 18,4%, 14,72%, 10,43%, 4,91%. Hầu hết đều ở mức nhẹ, không cần điều trị chuyên biệt. KIẾN NGHỊ Từ số liệu nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra: Phác đồ MTX/fa trong điều trị bệnh nhân là an toàn. Tác dụng phụ thường gặp nhất là tăng men gan thể hiện trên xét nghiệm cận lâm sàng, xảy ra nhiều nhất trong vòng 3-4 chu kì đầu, vì vậy nên đặc biệt lưu tâm ở giai đoạn này để phát hiện và xử trí kịp thời. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ đánh giá tác dụng ngoại ý trong ngắn hạn, ngay khi điều trị. Cần có nhiều nghiên cứu hơn để đánh giá về ảnh hưởng lâu dài của hóa trị MTX/FA trên bệnh nhân tân sinh nguyên bào nuôi nguy cơ thấp. Cần có thêm nghiên cứu để đánh giá lại tính chính xác về khả năng dự đoán nguy cơ tăng men gan của mô hình nomogram. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Goldstein DP, Berkowitz RS (1987). Management of complete molar pregnancy. J reprod Med, 32:634-639. 2. Ngan HYS, Seckl MJ, Berkowitz RS (2018). Update on the diagnosis and management of gestational trophoblastic disease. Int J Gynaecol Obstet, 143 (Suppl 2):79-85. 3. Braga A, Lin LH, Maesta I (2019). Gestational Trophoblastic Disease in Brazil. Rev Bras Ginecol Obstet, 41(4):211-212. 4. Yuk J, Baek JC, Park JE (2019). Incidence of gestational trophoblastic disease in South Korea: a longitudinal, population- based study. PeerJ, 7:e6490. 5. Phạm Huy Hiền Hào (2004). Vai trò của bhCG huyết thanh trong theo dõi sau nạo thai trứng, điều trị u nguyên bào nuôi và một số yếu tố liên quan đến tái phát. Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội. 6. Phan Nguyễn Nhật Lệ, Võ Minh Tuấn (2015). Hiệu quả của phác đồ MTX/FA trong điều trị tân sinh nguyên bào nuôi hậu thai trứng tại bệnh viện Từ Dũ. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 19:58-59. 7. Trần Nhật Huy, Võ Minh Tuấn (2014). Kết quả của hóa dự phòng ở bệnh nhân thai trứng nguy cơ cao tại bệnh viện Từ Dũ. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18:58-63. 8. EAO (1991). The pharmacology of methotrexate. Journal of the American Academy of Dermatology, 25:306-318. 9. Kang WD, Choi HS, Kim SM (2010). Weekly methotrexate (50 mg/m2)) without dose escalation as a primary regimen for low- risk gestational trophoblastic neoplasia. Gynecol Oncol, 117(3):477-80. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 122 10. Campbell JM, Bateman E, Stephenson M (2016). Methotrexate- induced toxicity pharmacogenetics: an umbrella review of systematic reviews and meta-analyses. Cancer Chemother Pharmacol, 78(1):27-39. 11. Bệnh viện Từ Dũ (2019). Bệnh nguyên bào nuôi, in Phác đồ điều trị Sản Phụ Khoa 2019, 4 Editor, pp.326-342. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. HCM. 12. Chalouhi GE, Golfier F, Soignon P (2009). Methotrexate for 2000 FIGO low-risk gestational trophoblastic neoplasia patients: efficacy and toxicity. Am J Obstet Gynecol, 200(6):643.e1-646.e1. 13. Nguyễn Chấn Hùng (2004). Bảng đánh giá độc tính hóa trị, in Ung bướu học nội khoa, pp.441-469. Nhà xuất bản Y học TP. Hồ Chí Minh. 14. Lê Sỹ Phương, Lê Minh Toàn, Phạm Đăng Khoa (2009). Đánh giá hiệu quả của phác đồ MTX/FA trong điều trị u nguyên bào nuôi nguy cơ thấp theo FIGO 2000 và các yếu tố tiên lượng kháng thuốc. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 13:53-62. Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021
File đính kèm:
tac_dung_ngoai_y_cua_methotrexate_trong_dieu_tri_benh_ly_tan.pdf

