Suy thận cấp tính sau sửa chữa phình động mạch chủ bụng vỡ

Hồi cứu các trường hợp sống 24 giờ sau sửa

chữa vỡ PĐMCB tại Bệnh viện Chợ Rẫy thời

gian từ ngày 1/1/2015 đến 31/12/2019. 65/85

trường hợp sống 24 giờ sau sửa chữa vỡ PĐMCB.

Chủ yếu người trên 60 tuổi, hay gặp nhất độ tuổi

60 – 69 (47,7%). Nam gấp 3 lần nữ (49/16). Phẫu

thuật mở chủ yếu 87,7%. Sốc có huyết áp dưới 80

mmHg chỉ 6 trường hợp. Phần lớn kẹp ĐMC

dưới động mạch thận (73,7 %), trên động mạch

thận 15 trường hợp. Suy thận cấp khi nhập viện

15 trường hợp, chủ yếu mức nhẹ (1 điểm). Sau

sửa chữa, 38,5% (25/65) trường hợp suy thận,

14/25 trường hợp suy trung bình đến nặng (≥ 2

điểm), lọc máu 16 trường hợp. Các yếu tố vị trí

kẹp ĐMC Creatinin, Hb khi nhập viện gây tổn

thương thận (p< 0,05).="" vị="" trí="" kẹp="" đmc="" tác="">

mạnh nhất và thuận chiều. Suy thận sau sữa chữa

vỡ PĐMCB chiếm tỷ lệ cao hơn báo cáo bằng tỷ

lệ lọc máu. Kẹp trên động mạch thận, Creatinin

và Hb trước phẫu thuật là các yếu tố chủ đạo gây

tổn thương thận

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Suy thận cấp tính sau sửa chữa phình động mạch chủ bụng vỡ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Suy thận cấp tính sau sửa chữa phình động mạch chủ bụng vỡ

Suy thận cấp tính sau sửa chữa phình động mạch chủ bụng vỡ
SUY THẬN CẤP TÍNH SAU SỬA CHỮA PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ BỤNG VỠ 
 135 
SUY THẬN CẤP TÍNH SAU SỬA CHỮA PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ 
BỤNG VỠ 
Hán Văn Hòa*, Nguyễn Duy Tân**, Đặng Quang Huy*** 
TÓM TẮT 
Hồi cứu các trường hợp sống 24 giờ sau sửa 
chữa vỡ PĐMCB tại Bệnh viện Chợ Rẫy thời 
gian từ ngày 1/1/2015 đến 31/12/2019. 65/85 
trường hợp sống 24 giờ sau sửa chữa vỡ PĐMCB. 
Chủ yếu người trên 60 tuổi, hay gặp nhất độ tuổi 
60 – 69 (47,7%). Nam gấp 3 lần nữ (49/16). Phẫu 
thuật mở chủ yếu 87,7%. Sốc có huyết áp dưới 80 
mmHg chỉ 6 trường hợp. Phần lớn kẹp ĐMC 
dưới động mạch thận (73,7 %), trên động mạch 
thận 15 trường hợp. Suy thận cấp khi nhập viện 
15 trường hợp, chủ yếu mức nhẹ (1 điểm). Sau 
sửa chữa, 38,5% (25/65) trường hợp suy thận, 
14/25 trường hợp suy trung bình đến nặng (≥ 2 
điểm), lọc máu 16 trường hợp. Các yếu tố vị trí 
kẹp ĐMC Creatinin, Hb khi nhập viện gây tổn 
thương thận (p< 0,05). Vị trí kẹp ĐMC tác động 
mạnh nhất và thuận chiều. Suy thận sau sữa chữa 
vỡ PĐMCB chiếm tỷ lệ cao hơn báo cáo bằng tỷ 
lệ lọc máu. Kẹp trên động mạch thận, Creatinin 
và Hb trước phẫu thuật là các yếu tố chủ đạo gây 
tổn thương thận. 
Từ khóa: Phình động mạch chủ bụng vỡ, 
suy thận sau vỡ phình động mạch chủ, tổn 
thương thận. 
SUMMARY 
To retrospective the 24-hour cases after 
RAAAr at Cho Ray Hospital from January 1, 
2015 to December 31, 2019. 65/85 cases survived 
24 hours after RAAAr. Most people over 60 years 
old, most commonly aged 60-69 years (47.7%). 
Male 3 times female (49/16). Major open surgery 
was 87.7%. Shock with blood pressure below 80 
mmHg in only 6 cases. The majority of aortic 
artery clamps under the renal artery (73.7%), on 
the renal artery 15 cases. Acute kidney failure 
when hospital admission 15 cases, mostly mild (1 
point). After repair, 38.5% (25/65) cases of 
kidney failure, 14/25 cases of moderate to severe 
failure (≥ 2 points), dialysis 16 cases. Factors 
location aortic clamp, Creatinin and Hb hospital 
admission are causes kidney failure (p <0.05). 
The position of aortic clamp is strongest and 
positive. Acute kidney failure after RAAAr is 
higher than reported by dialysis rate. Factors 
location aortic clamp, Creatinin and Hb hospital 
admission are causes kidney failure. 
Key words: Abdominal aortic aneurysm 
rupture, kidney failure after aortic aneurysm 
rupture, kidney damage. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Suy thận cấp tính là tình trạng tổn thương 
đột ngột cấu trúc và suy yếu chức năng thận. Các 
tác nhân có thể trước thận, tại thận và sau thận 
hoặc tình trạng nhiễm trùng huyết, thiếu máu cục 
bộ và nhiễm độc thậnCác tác nhân này có thể 
tồn tại cùng lúc làm phức tạp việc nhận biết và 
điều trị.1 
Đối với phình động mạch chủ bụng 
(PĐMCB) vỡ, tình trạng giảm huyết áp đột ngột, 
hạ kali máu kéo dài, bệnh thận cấp và mạn tính 
trước đó cùng với rủi ro liên quan đến kẹp động 
mạch chủ trên động mạch thận hay tải lượng 
thuốc cản quang trong can thiệp nội mạch làm 
cho nguy cơ tổn thương thận và rối loạn đa cơ 
quan tăng lên. 
Tuy nhiên, cách báo cáo tỷ lệ và mức độ 
tổn thương thận sau khi sửa chữa PĐMCB chưa 
đồng thuận. Đối tượng các nghiên cứu hầu hết 
bao gồm cả phình chưa vỡ và vỡ. Tiêu chuẩn báo 
* Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ 
** Bệnh viện Chợ Rẫy 
*** Bệnh viện Tim Hà Nội. 
Người chịu trách nhiệm khoa học: Hán Văn Hòa 
Ngày nhận bài: 02/08/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 04/09/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 PGS.TS. Nguyễn Hữu Ước 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 136 
cáo của Hiệp hội Phẫu thuật Mạch máu (Society 
for Vascular Surgery - SVS) và Hiệp hội Phẫu 
thuật Tim mạch Quốc tế (International Society for 
CardioVascular Surgery - ISCVS) xác định ba độ 
tổn thương thận: ‘độ I, không lọc máu; độ II, lọc 
máu tạm thời; 'độ III,' lọc máu vĩnh viễn hoặc kết 
cục gây tử vong. Một số sử dụng các phân loại 
RIFLE (‘Risk,’ ‘Injury,’ ‘Failure,’ ‘Loss,’ and 
‘End-stage’- Rủi ro, Chấn thương, Thất bại, Mất 
mát, Mất , Phân loại giai đoạn cuối). Trong các 
nghiên cứu vỡ PĐMCB, liệu pháp điều trị thay 
thế thận thường được sử dụng làm điểm cuối dựa 
trên các tiêu chuẩn báo cáo SVS/ISCVS. Tuy 
nhiên, tổn thương thận là một hội chứng lâm sàng 
rộng bao gồm nhiều hơn yêu cầu về điều trị thay 
thế thận. Với nhiều điểm cuối khác nhau khiến 
việc nhận định và phân tích trở nên khó khăn, 
thách thức. Twine et al [1] đề xuất bảng điểm 
phân loại ARISe (Aneurysm Renal Injury Score) 
dựa trên phân loại RIFLE nhưng được điều chỉnh 
theo hướng sửa chữa phình động mạch vỡ 
Theo đó, chúng tôi sử dụng phân loại ARISe 
nhằm đánh giá tỷ lệ, mức độ và phân tích yếu tố 
nguy cơ gây suy thận cấp sau sửa chữa vỡ PĐMCB. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Hồi cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy thời gian từ 
01/01/2015 đến 31/12/2019 tất cả các trường hợp 
sống sau phẫu thuật 24 giờ với chẩn đoán ra viện 
PĐMCB vỡ. Sử dụng bảng điểm Aneurysm Renal 
Injury Score (ARISe) của Twine et al [1]. 
Suy thận khi lượng Creatinin > 1.7 mg/dl 
[7]. Từ đó, điểm ARISe được xác định như sau: 
1 điểm: Creatinin sau mổ 1,8 - 2.3 mg/dl 
2 điểm: Creatinin sau mổ từ 2.4 – 3 mg/dl 
3 điểm: Creatinin > 3,1 mg/dl. 
4 điểm: lọc máu tạm thời. 
5 điểm: lọc máu chu kỳ. 
Bảng điểm tổn thương thận trong PĐMCB [1] 
Điểm Định nghĩa 
1 Tăng trong huyết thanh creatinine> 26 mmol / L nhưng <50% tăng từ mức cơ sở hoặc 
lượng nước tiểu <0,5 mL /kg / giờ trong 6 giờ trong vòng 7 ngày. 
2 Tăng trong huyết thanh ban đầu creatinine 50 - 99% trong 7 ngày. 
3 Tăng creatinine huyết thanh cơ bản 100% trong 7 ngày. 
4 Yêu cầu thay thế thận tạm thời trị liệu 
5 Liệu pháp thay thế thận vĩnh viễn 
Thuốc vận mạch liều thấp (noradrenalin <2 
mg / phút hoặc dopamine <500 mg / phút), hoặc 
liều cao (bất kỳ adrenalin, noradrenalin> 2 mg / 
phút, hoặc dopamine> 500 mg / phút) [5]. 
Sử dụng kiểm định Paired Sample T Tets 
đánh giá sự thay đổi creatinin trước và sau sửa 
chữa. Kiểm định Independent Sample t Tets đánh 
giá sự khác biệt trung bình. Hệ số tương quan 
Pearson. Phân tích hồi quy đa biến với mức ý 
nghĩa P <0,05 độ tin cậy 95%. Thống kê với phần 
mềm SPSS 20.0 
III. KẾT QUẢ 
Nghiên cứu trên 85 trường hợp được chẩn 
đoán ra viện là vỡ PĐMCB nhưng chỉ 65 
trường hợp sống sót 24 giờ sau sửa chữa. Trong 
số này, chúng tôi ghi nhận tuổi trung bình 65,8 
(40 - 90), độ tuổi hay gặp nhất là 60 – 69 
(47,7%), tiếp đó là nhóm tuổi 70 – 79 (24,6%). 
Trên 80 tuổi có 5 trường hợp, trong đó có 1 
trường hợp 90 tuổi. Nam giới nhiều hơn 3 lần 
nữ (49/16). 
SUY THẬN CẤP TÍNH SAU SỬA CHỮA PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ BỤNG VỠ 
 137 
Chủ yếu phẫu thuật mở với 87,7% và 8 
trường hợp được đặt stent graff. Thời gian phẫu 
thuật trung bình 4,8 giờ, phần lớn khoảng 5 giờ. 
Nhanh nhất 2 giờ (can thiệp nội mạch), lâu nhất 8,5 
giờ (có tai biến tổn thương tá tràng). 
Sốc trước mổ có 17/65 trường hợp, 6 
trường hợp huyết áp dưới 80 mmHg. Ngoài ra, có 
tới 23 trường hợp có huyết áp tâm thu trên 140 
mmHg khi nhập viện. Sử dụng thuốc vận mạch 
trong mổ 21 trường hợp, trong đó 5 trường hợp 
liều cao. Cấp cứu ngừng tuần hoàn trong mổ 3 
trường hợp và đều tử vong tại viện. 12 trường 
hợp tử vong đều bị tổn thương thận. 
Trong 57 trường hợp phẫu thuật mở, kẹp 
ĐMC dưới động mạch thận là chủ yếu (73,7 %) 
và 15 trường hợp kẹp trên động mạch thân tạng. 8 
trường hợp can thiệp nội mạch đều dưới động 
mạch thận. 
Mức độ tổn thương thận 
Phát hiện trên CTscanner 13 trường hợp tổn 
thương thận như: nang thận, nhồi máu, teo thận, 
vôi hóa động mạch thận. 2 trường hợp teo thận 
đều teo 1 bên. 
Khi nhập viện, 15 trường hợp tổn thương 
thận. Trong đó, nhẹ (1 điểm) 10 trường hợp, 
trung bình và nặng (≥ 2 điểm) 5 trường hợp. Sau 
sửa chữa, 25/65 trường hợp tổn thương thận, nhẹ 
11 trường hợp, trung bình và nặng 14 trường hợp. 
16 trường hợp lọc máu tạm thời, 1 trường hợp có 
chỉ định lọc vĩnh viễn. 
Phân tích yếu tố gây suy thận 
Phân tích tương quan với Creatinin sau sữa 
chữa các yếu tố: tuổi, giới, huyết áp tâm thu khi 
nhập viện, tình trạng sốc, lượng creatinin, lượng 
Hb khi nhập viện, CT scanner thuốc, vị trí kẹp 
ĐMC, tình trạng sử dụng thuốc vận mạch, 
phương pháp và thời gian sửa chữa. Chỉ 5 yếu tố: 
Creatinin cao, Hb thấp khi nhập viện, kẹp ĐMC 
trên thận và thời gian sửa chữa kéo dài tác động 
có ý nghĩa đến lượng Creatinin sau phẫu thuật 
(p< 0,05). Phân tích hồi quy đa biến 5 yêu tố trên, 
cho kết quả ở bảng sau: 
Bảng 1. Các yếu tố gây tổn thương thận sau sữa chữa 
Yếu tố 
Sig. 
(kiểm định t) 
Hệ số hồi quy 
chuẩn hóa (β) 
R2 
hiệu chỉnh 
Sig. 
(kiểm định F) 
Kẹp trên thận 0,001 0,38 
Suy thận vào viện 0,001 0,36 
Hb thấp 0,033 -0,24 
Vận mạch cao 0,138 0,17 
Mổ kéo dài 0,493 0,08 
0,4 < 0,001 
Mô hình phân tích đa biến đạt yêu cầu phần dư phân phối chuẩn với 2 biểu đồ Histogram và P – P 
Plot dưới đây. 
Biểu đồ phân phối chuẩn Creatinin sau sửa chữa 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 138 
Chỉ có 3 yếu tố có tác động ý nghĩa đến suy thận sau sửa chữa. Trong đó, kẹp ĐMC trên ĐM 
thận và lượng Creatinin trước sửa chữa tác động mạnh nhất và thuận chiều. Hb tác động yếu hơn và 
ngược chiều với sự tăng Creatinin sau sửa chữa. Tình trạng sử dụng thuốc vận mạch liều cao và thời 
gian sửa chữa kéo dài không tác động đến suy thận. 
Phương trình hồi quy: Y= 0,74 + 0,9*X1 + 0,4*X2 – 0,1*X3 + e 
Với: X1: Vị trí kẹp ĐMC 
 X2: Creatinin nhập viện 
 X3: Lượng Hb khi nhập viện 
Bảng 2. Sự tác động của Creatinin và vị trí kẹp ĐMC với Creatinin sau sửa chữa 
Các đặc điểm n Creatinin trung bình p 
Trước phẫu thuật 65 1,5 
Creatinin 
Sau phẫu thuật 65 1,8 
0,008 
Trên ĐM thận 15 2,6 
Vị trí kẹp ĐMC 
Dưới ĐM thận 42 1,6 
0,003 
Có sự gia tăng có ý nghĩa Creatinin trung bình từ 1,5 mg/dl (trước) lên 1,8 mg/dl (sau sửa chữa). 
Với mức độ tin cậy CI 95%, p = 0,008. 
Những trường hợp sống 24 giờ sau phẫu thuật, kẹp ĐMC trên thận làm gia tăng Creatinin, trung 
bình từ 1,6 mg/dl (dưới ĐM thận) lên 2,6 mg/dl (trên ĐM thận). Khác biệt có ý nghĩa thống kê với độ 
tin cậy CI 95%, p= 0,003. 
Có tương quan tuyến tính nghịch mức độ trung bình giữa lượng Hb với Creatinin sau mổ với hệ 
số tương quan r = - 0,4, p= 0,012 (CI 95%). 
Suy thận ảnh hưởng đến thời gian nằm viện và tử vong 
Bảng 3. Tương quan Creatinin và ngày nằm ICU, ngày điều trị 
N= 65 Ngày điều trị Ngày ICU 
Hệ số Pearson 0,32 0,39 
Creatinin 
P (Sig.) 0,01 0,001 
Hệ số Pearson 0,68 1 
Ngày ICU 
P (Sig.) <0,001 
Có tương quan thuận khá chặt giữa tăng Creatinin sau sửa chữa đến ngày nằm ICU (r = 0,32) và 
ngày điều trị (r = 0,39). Ngày nằm ICU có tương quan chặt và thuận với ngày nằm viện (r = 0,68). 
IV. BÀN LUẬN 
 Tổn thương thận trong vỡ phình động 
mạch chủ bụng 
PĐMCB vỡ hầu hết ở người cao tuổi, tăng 
huyết áp. Người bệnh đến được bệnh viện thường 
không biểu hiện sốc hoặc sốc mức nhẹ, thậm chí 
cao huyết áp (huyết áp tâm thu >150 mmHg). 
Thêm vào đó, tình trạng mất máu cấp, những tổn 
thương sẵn có như nang thận, vôi hóa động mạch 
thận, suy thận mạn hoặc nhồi máu thận càng làm 
cho nguy cơ tổn thương thận sau phẫu thuật gia 
tăng. 
Tổn thương thận được đánh giá sau sửa 
chữa 24 giờ để đảm bảo đánh giá chính xác chức 
SUY THẬN CẤP TÍNH SAU SỬA CHỮA PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ BỤNG VỠ 
 139 
năng thận và ghi nhận chỉ số creatinin cao nhất 
trong 7 ngày. Sẽ tối ưu nếu mức lọc cầu thận 
hoặc mức lọc ước tính được sử dụng. Xong 
thực tế chúng không được thực hiện ở giai đoạn 
cấp cứu trước sửa chữa vì công thức tính phức 
tạp, không theo dõi được lượng nước tiểu, đồng 
thời chúng không được khuyến cáo sử dụng 
trong bệnh cấp tính khi creatinin không có khả 
năng ổn định [2], [7]. 
 Tổn thương thận sau phẫu thuật vỡ 
PĐMCB trong các nghiên cứu là phổ biến, 
thường chiếm từ 50 – 74% [1], [4], [5]. Trong đó, 
tổn thương nặng (ARISe > 3 điểm hoặc phân loại 
“failure” trong tiêu chí RIFLE) chiếm 24 - 36% 
[1], [7]. Tương tự, nghiên cứu của chúng tôi cho 
thấy tổn thương thận chiếm 38,5% (25/65). Trong 
đó, tổn thương trung bình đến nặng (> 2 điểm) có 
14/25 trường hợp. Tỷ lệ lọc máu 24,6% (16/25), 
tương tự trong các nghiên cứu khác, chủ yếu ở 
mức 25% [5], [7]. Chỉ định lọc máu trong cấp cứu 
dựa vào nhiều yếu tố: thiểu hoặc vô niệu không 
đáp ứng điều trị, Kali máu cao >=6.5 mmol/l 
hoặc > 6 kèm theo biến đổi điện tim, pH máu 
32 mmol/l hoặc creatinine máu 
>500mmol/l, rối loạn Na + máu > 150 mmol/l 
hoặc < 115 mmol/l. 
Tác động của các yếu tố đến Creatinin sau 
phẫu thuật 
 Tương tự các nghiên cứu khác, yếu tố 
tuổi, giới, CT scanner trước phẫu thuật không gây 
ảnh hưởng tổn thương thận [1]. Phân tích hồi quy 
đa biến chúng tôi thấy: vị trí kẹp ĐMC, Creatinin 
và Hb khi nhập viện là 3 yếu tố có tác động đến 
Creatinin sau phẫu thuật (p < 0,05). Kẹp ĐMC 
trên ĐM thận tác động mạnh nhất sau đó là lượng 
Creatinin cao trước sửa chữa. Cả 2 yếu tố này tác 
động thuận chiều. Hb tác động ngược chiều. Các 
nghiên cứu khác cũng khẳng định điều đó [1], [5], 
[6], [7]. Khi thận đã tổn thương thì thường tiến 
triển nặng hơn sau phẫu thuật rõ rệt. Kẹp ĐMC 
trên ĐM thận, nhất là thời gian phẫu thuật gây 
thiếu máu thận thậm chí nhồi máu dẫn đến 
Creatinin sau đó tăng theo một cách có ý nghĩa 
nhiều ở mức 2 và 3 điểm. 
 Nhiều nghiên cứu đã chứng minh tỷ lệ suy 
thận khi can thiệp nội mạch thấp hơn phẫu thuật 
mở, mặc dù đã tăng tải lượng thuốc cản quang 
[1], [5], [6], [7]. Điều này bác bỏ ý kiến trước đây 
về can thiệp nội mạch gây tổn thương thận do tải 
lượng thuốc cản quang. Do số liệu can thiệp nội 
mạch của tôi quá ít nên không đánh giá chính xác. 
 Tổn thương thận liên quan đến tình trạng 
mất máu, mức độ hỗ trợ (thở máy, thuốc vận 
mạch) [6]. Do đó, khuyến cáo đưa ra là nên 
truyền máu, dung dịch thay thế máu hơn là dịch 
đẳng trương gây loãng máu và rối loạn quá trình 
đông máu. 
 Nhiều quan điểm cho rằng kết quả lâu dài 
sau khi hồi phục thận là lành tính [2], [3]. Chỉ có 
1,5% bệnh nhân được xuất viện với điều trị thay 
thế thận, 3% số đó cần lọc vĩnh viễn, 2/3 số bệnh 
nhân xuất viện bị tổn thương thận phẫu thuật vỡ 
PĐMCB đã phục hồi hoàn toàn chức năng thận 
sau 1 năm [5]. Kết quả của chúng tôi, mặc dù 
Creatinin làm tăng thời giam điều trị tại ICU và 
nằm viện xong, hầu hết suy thận ổn định, chỉ lọc 
máu tạm thời, 1 trường hợp lọc máu vĩnh viễn. 
V. KẾT LUẬN 
Tổn thương thận là phổ biết ở bệnh nhân 
vỡ PĐMCB, vị trí kẹp ĐMC creatinin và 
lượng thấp Hb là những yểu tố thúc đẩy tổn 
thương thận. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1] Ambler G. et al. (2015), "Incidence and 
outcomes of severe renal impairment following 
ruptured abdominal aortic aneurysm repair", 
European Journal of Vascular and Endovascular 
Surgery. 50 (4), pp. 443-449. 
2] Ambler G. K. et al. (2015), "Incidence 
and Outcomes of Severe Renal Impairment 
Following Ruptured Abdominal Aortic Aneurysm 
Repair", Eur J Vasc Endovasc Surg. 50 (4), pp. 
443-449. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 140 
3] Chawla L. S. et al. (2014), "Acute 
kidney injury and chronic kidney disease as 
interconnected syndromes", New England 
Journal of Medicine. 371 (1), pp. 58-66. 
4] Investigators I. T. (2014), 
"Endovascular or open repair strategy for 
ruptured abdominal aortic aneurysm: 30 day 
outcomes from IMPROVE randomised trial", 
Bmj. 348. 
5] Jalalzadeh H. et al. (2017), "Long-term 
survival after acute kidney injury following 
ruptured abdominal aortic aneurysm repair", 
Journal of vascular surgery. 66 (6), pp. 1712-
1718. e1712. 
6] Kopolovic I. et al. (2013), "Risk factors 
and outcomes associated with acute kidney injury 
following ruptured abdominal aortic aneurysm", 
BMC nephrology. 14 (1), pp. 99. 
7] van Beek S. C. et al. (2014), "Acute 
kidney injury defined according to the 
‘Risk,’‘Injury,’‘Failure,’‘Loss,’and ‘End-
stage’(RIFLE) criteria after repair for a ruptured 
abdominal aortic aneurysm", J Vasc Surg. 60 (5), 
pp. 1159-1167. e1151. 

File đính kèm:

  • pdfsuy_than_cap_tinh_sau_sua_chua_phinh_dong_mach_chu_bung_vo.pdf