Suy giảm miễn dịch bẩm sinh thể khiếm khuyết bám dính bạch cầu type 1

Suy giảm miễn dịch bẩm sinh là một nhóm bệnh di truyền gây giảm đáp ứng miễn

dịch của cơ thể, dẫn đến nhiễm khuẩn tái diễn thậm chí nhiễm khuẩn nặng và tử

vong. Theo phân loại mới nhất của hiệp hội suy giảm miễn dịch bẩm sinh IUIS

2019, đã có trên 430 bệnh suy giảm miễn dịch bẩm sinh khác nhau. Một trong

những bệnh có thể gặp là khiếm khuyết bám dính bạch cầu gây ảnh hưởng đến quá

trình thực bào của bạch cầu (LAD - Leukocyte adhesion defect).

Bệnh do đột biến gen ITGB2 nằm trên nhiễm sắc thể 21q22.3 mã hóa cho CD18,

gây khiếm khuyết về biểu hiện màng của glycoprotein bám dính bạch cầu, làm

bạch cầu không có khả năng di chuyển tới ổ viêm để thực hiện chức năng thực

bào. Vì vậy, các ổ nhiễm khuẩn thường lâu liền, không tạo được mủ, chậm rụng

rốn. Bệnh nhân thường bị nhiễm khuẩn ở nhiều cơ quan, nhiễm khuẩn kéo dài,

nặng. Số lượng bạch cầu trung tính trong máu liên tục tăng rất cao, giảm hoặc mất

hoàn toàn sự biểu hiện CD18 ở màng tế bào bạch cầu. Nếu được chẩn đoán sớm,

bệnh nhân sẽ được điều trị kháng sinh dự phòng và ghép tế bào gốc tạo máu sớm

sẽ có tiên lượng tốt.

pdf 9 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Suy giảm miễn dịch bẩm sinh thể khiếm khuyết bám dính bạch cầu type 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Suy giảm miễn dịch bẩm sinh thể khiếm khuyết bám dính bạch cầu type 1

Suy giảm miễn dịch bẩm sinh thể khiếm khuyết bám dính bạch cầu type 1
 Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 21-29 
21 
 Research Paper 
Leukocyte Adhesion Deficiency (LAD) Type 1 
Nguyen Thi Van Anh*, Le Thi Minh Huong, Nguyen Ngoc Quynh Le, Thuc Thanh 
Huyen, Le Quynh Chi, Nguyen Van Khiem 
Vietnam National Children’s Hospital, No 18/879 La Thanh, Dong Da, Hanoi, Vietnam 
Received 29 November 2020 
Accepted 31 December 2020 
Abstract 
Primary immunodeficiency is a group of genetic diseases that cause a decrease in 
the body's immune response, leading to recurrent infections, even severe infections 
and death. According to the classification of the International Union of 
Immunological Societies (IUIS) in 2019, there are more than 430 different primary 
immunodeficiency diseases. Leukocyte adhesion defect affects seriously the 
phagocytic function of leukocytes. 
The disease is caused by a mutation of the ITGB2 gene located on chromosome 
21q22.3 that encodes CD18, causing defects in the membrane expression of the 
leukocyte-binding glycoprotein; the neutrophils cannot extravasate and fight 
against bacteria in tissues. 
As a result, the ulcer is very difficult to cure, unable to produce pus, delayed 
umbilical cord loss, recurrent infection of many organs. The white blood cells are 
always very high, persistent increase, absent or reduced CD18 expression in the 
leukocyte membrane. If diagnosed early, patients will receive prophylactic 
antibiotics and hematopoietic stem cell transplant and good prognosis. 
Keywords: Leukocyte Adhesion Deficiency, decrease CD18in the leukocyte, 
extremely elevated of neutrophils. 
* 
_______ 
* Corresponding author. 
 E-mail address: [email protected] 
 https://doi.org/10.47973/jprp.v4i6.279 
N.T.V. Anh et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 21-29 
22 
Suy giảm miễn dịch bẩm sinh thể khiếm khuyết 
bám dính bạch cầu type 1 
Nguyễn Thị Vân Anh*, Lê Thị Minh Hương, Nguyễn Ngọc Quỳnh Lê, Thục Thanh 
Huyền, Lê Quỳnh Chi, Nguyễn Văn Khiêm 
Bệnh viện Nhi Trung ương, Số 18/879 La Thành, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam 
Nhận ngày 29 tháng 11 năm 2020 
Chấp nhận đăng ngày 31 tháng 12 năm 2020 
Tóm tắt 
Suy giảm miễn dịch bẩm sinh là một nhóm bệnh di truyền gây giảm đáp ứng miễn 
dịch của cơ thể, dẫn đến nhiễm khuẩn tái diễn thậm chí nhiễm khuẩn nặng và tử 
vong. Theo phân loại mới nhất của hiệp hội suy giảm miễn dịch bẩm sinh IUIS 
2019, đã có trên 430 bệnh suy giảm miễn dịch bẩm sinh khác nhau. Một trong 
những bệnh có thể gặp là khiếm khuyết bám dính bạch cầu gây ảnh hưởng đến quá 
trình thực bào của bạch cầu (LAD - Leukocyte adhesion defect). 
Bệnh do đột biến gen ITGB2 nằm trên nhiễm sắc thể 21q22.3 mã hóa cho CD18, 
gây khiếm khuyết về biểu hiện màng của glycoprotein bám dính bạch cầu, làm 
bạch cầu không có khả năng di chuyển tới ổ viêm để thực hiện chức năng thực 
bào. Vì vậy, các ổ nhiễm khuẩn thường lâu liền, không tạo được mủ, chậm rụng 
rốn. Bệnh nhân thường bị nhiễm khuẩn ở nhiều cơ quan, nhiễm khuẩn kéo dài, 
nặng. Số lượng bạch cầu trung tính trong máu liên tục tăng rất cao, giảm hoặc mất 
hoàn toàn sự biểu hiện CD18 ở màng tế bào bạch cầu. Nếu được chẩn đoán sớm, 
bệnh nhân sẽ được điều trị kháng sinh dự phòng và ghép tế bào gốc tạo máu sớm 
sẽ có tiên lượng tốt. 
Từ khóa: Khiếm khuyết bám dính bạch cầu, giảm CD 18 trên bạch cầu, bạch cầu 
thường xuyên tăng rất cao 
1. Đặt vấn đề 
Khiếm khuyết bám dính bạch cầu 
(Leukocyte adhesion defect - LAD) là một 
bệnh suy giảm miễn dịch tiên phát hiếm 
gặp, gây giảm nặng khả năng thực bào của 
bạch cầu [1]. 
* Tác giả liên hệ. 
 E-mail address: [email protected] 
 https://doi.org/10.47973/jprp.v4i6.279 
Trong đó, bệnh khiếm khuyết bám dính 
bạch cầu type I là hay gặp nhất với tỷ lệ 
mắc bệnh 1/1.000.000 dân [2]. Biểu hiện 
lâm sàng của LAD I nổi bật so với các bệnh 
suy giảm miễn dịch bẩm sinh khác là chậm 
rụng rốn, nhiễm khuẩn tái diễn nhiều cơ 
quan với số lượng bạch cầu tăng rất cao, dai 
dẳng, với các ổ nhiễm khuẩn không tạo mủ. 
Bệnh thường diễn biến nặng dẫn đến tử 
N.T.V. Anh et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 21-29 
23 
vong trong vài năm đầu đời. Nếu được chẩn 
đoán sớm, bệnh nhân sẽ được điều trị hỗ trợ 
kháng sinh, chống nhiễm khuẩn và ghép tế 
bào gốc tạo máu với tiên lượng sống tốt. 
Ở Việt Nam, bệnh còn ít được biết tới và 
các xét nghiệm chẩn đoán còn hạn chế nên 
rất ít bệnh nhân được phát hiện, hoặc được 
phát hiện rất muộn. Một số bệnh nhân phải 
trải qua nhiều lần xét nghiệm tuỷ đồ do số 
lượng bạch cầu tăng cao bất thường mà 
không được đánh giá về tình trạng miễn 
dịch. 
2. Tổng quan 
2.1. Khái niệm 
Khiếm khuyết bám dính bạch cầu type I 
là một bệnh suy giảm miễn dịch tiên phát 
hiếm gặp. Bệnh do đột biến gen gây mất 
khả năng bám dính của bạch cầu với nội mô 
thành mạch ảnh hưởng tới sự di chuyển của 
bạch cầu trung tính vào khoảng ngoại mạch. 
Vì vậy, bạch cầu trung tính không di chuyển 
được đến vị trí nhiễm trùng, dẫn đến tình 
trạng giảm bạch cầu trung tính tại tổ chức 
trong khi lại tăng rất cao trong máu. Đến 
nay, bốn dạng thiếu hụt độ bám bạch cầu 
khác nhau đã được báo cáo và đặt tên theo 
thứ tự thời gian khám phá ra bệnh: LAD 
type I, II, III, IV [3]. 
Bệnh nhân LAD I thường xuyên nhiễm 
khuẩn, nhiễm khuẩn nặng ở nhiều cơ quan, 
chậm rụng rốn, vết loét lâu liền và không 
tạo mủ. Bệnh nhân cũng có nhiều biến 
chứng viêm như viêm lợi, ruột... Tuy nhiên, 
bệnh nhân LAD I có hình thể ngoài bình 
thường, bộ mặt và xương bình thường nên 
khó nhận biết hơn LAD II, II, IV. 
2.2. Cơ chế bệnh sinh 
2.2.1. Thác bám dính bạch cầu 
Bình thường để bảo vệ cơ thể, các tế bào 
thực bào mà chủ yếu là bạch cầu bạch cầu 
trung tính tuần hoàn trong dòng máu, chờ 
đợi các tín hiệu cảnh báo tới để có thể 
nhanh chóng bảo vệ cơ thể. Khi một kháng 
nguyên xâm nhập, nội mạc mạch máu tương 
tác với các tế bào thực bào và xảy ra quá 
trình thực bào thoát mạch ra ổ viêm, hình 
thành phản ứng viêm và tiêu diệt kháng 
nguyên đó [4]. 
Quá trình thoát mạch diễn ra qua 3 giai 
đoạn: 
Giai đoạn 1: giai đoạn lăn: các tế bào nội 
mạc mạch máu sản xuất ra các selectin, gắn 
trên bề mặt tế bào (P-selectin hoặc E-
selectin). Các Protein này sẽ gắn với phối tử 
Sialyl-Lewis X (một carbonhydrate gắn trên 
bề mặt tế bào thực bào), làm cho tế bào thực 
bào di chuyển chậm lại và lăn dọc theo 
thành mạch. 
Giai đoạn 2: giai đoạn bám dính: thành 
phần Integrin trên bề mặt tế bào thực bào 
được hoạt hoá, gắn với phân tử kết dính trên 
tế bào nội mạc mạch máu (ICAM), 
Giai đoạn 3: giai đoạn thoát mạch: các tế 
bào thực bào biến đổi để chui qua các điểm 
tiếp giáp giữa các tế bào nội mạch mạch để 
vào mô viêm. 
Khi còn các tín hiệu viêm cuả các 
cytokin, các tế bào thực bào lại tiếp tục 
được kêu gọi, di chuyển tới và thoát mạch 
để tập trung vào ổ viêm và tiêu diệt căn 
nguyên gây bệnh, đặc biệt vi khuẩn và nấm. 
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, các tế bào 
thực bào chết đi và tạo thành mủ. 
2.2.2. Bất thường trong bệnh khiếm khuyết 
bám dính bạch cầu type I 
Bệnh nhân mắc LAD I có khiếm khuyết 
về biểu hiện màng của glycoprotein bám 
dính bạch cầu của dưới nhóm integrin. Các 
integrins không liên kết với nhau, các thụ 
thể bề mặt tế bào dị thể, bao gồm một tiểu 
đơn vị (CD11a, CD11b hoặc CD11c) và 
chuỗi b chung (CD18), giúp biểu hiện bề 
mặt của chuỗi CD11. Những protein này tạo 
N.T.V. Anh et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 21-29 
24 
điều kiện cho sự bám dính của bạch cầu với 
nội mô. Bệnh nhân mắc LAD I bị khiếm 
khuyết tế bào đa hình hạt nhân, cũng như 
thiếu hụt hoạt động tế bào diệt tự nhiên 
(NK) và tế bào lympho T gây độc (CTL). 
Sự vắng mặt của Complement Receptor 3 
(CR3) dẫn đến mất khả năng thực bào qua 
trung gian bổ thể và mất khả năng tiêu diệt 
vi khuẩn. 
Đa số bệnh nhân có bạch cầu đa nhân 
trung tính tăng cao dai dẳng (thường> 15x 
10^9/L) ngay cả khi không có nhiễm trùng 
do giảm khả năng bạch cầu trung tính thoát 
khỏi lòng mạch. 
Mức độ nặng của các triệu chứng nhiễm 
trùng và tiên lượng sống phụ thuộc vào 
lượng b2 integrins (CD18) thể hiện trên bề 
mặt tế bào bạch cầu. 
2.3. Cơ sở di truyền học 
Khiếm khuyết bám dính bạch cầu type I 
là do đột biến lặn của gen ITGB2 nằm trên 
nhiễm sắc thể 21q22.3 mã hóa cho CD18. 
Các đột biến khác nhau đã được công bố: 
cắt, thay thế, dịch chuyển khung, dẫn đến 
thiếu hoàn toàn protein hoặc giảm kích 
thước protein CD18. Đến nay, khoảng 86 
đột biến allelic khác nhau đã được xác định 
trên gen ITGB2. 
Có nhiều đột biến gen ITGB2 ở đoạn 
gen từ exon 5 tới exon 9, mã hóa chuỗi 
protein có 241 acid amin có tính bảo tồn 
cao. Vùng này chứa các vị trí liên hệ giữa 
các tiểu đơn vị a và b và có vai trò thiết yếu 
trong việc tổng hợp các tiền chất của tiểu 
đơn vị. 
Hình 1. Các giai đoạn thoát mạch của bạch cầu trung tính (Website  
2.4. Biểu hiện lâm sàng 
- Biến chứng rốn 
Các biến chứng ở rốn (chậm rụng rốn 
sau khi sinh hoặc viêm rốn) là một trong các 
biểu hiện rất thường gặp và quan trọng giúp 
nhận biết bệnh nhân LAD I. Tỷ lệ bệnh 
nhân có biến chứng rốn ở nhóm bệnh nhân 
LAD I nặng (có số lượng CD18 <2%) cao 
N.T.V. Anh et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 21-29 
25 
hơn một cách rõ rệt so với bệnh nhân LAD 
trung bình hoặc nhẹ [5]. 
- Nhiễm trùng trong LAD I 
Bệnh nhân LAD I thường có nhiễm 
trùng tái phát chủ yếu khu trú ở da, lợi và 
viêm phổi. Trẻ thường biểu hiện nặng và rất 
sớm sau sinh. 
Nhiễm trùng thường gặp nhất là viêm 
phổi, nhiễm khuẩn huyết, viêm tai giữa và 
viêm quanh răng. Viêm màng não nặng đôi 
khi cũng gặp và có thể là biểu hiện lâm sàng 
sớm nhất. Nhiễm khuẩn ngoài da, đặc biệt 
nhiễm trùng quanh hậu môn cũng là nhiễm 
trùng thường gặp và gợi ý cho nhóm suy 
giảm chức năng thực bào. Ngoài ra có thể 
nhiễm khuẩn tiêu hoá, bệnh ruột viêm [5]. 
Các căn nguyên gây bệnh thường là Phế 
cầu, Trực khuẩn mủ xanh và Klebsiella sp, 
đôi khi do nấm. Điểm đặc biệt là tại các vị 
trí nhiễm trùng thường không thấy hoặc rất 
ít trường hợp có thể tạo mủ và các vết loét 
lâu lành. Nguyên nhân do bạch cầu không di 
chuyển đến các vị trí nhiễm trùng, do đó 
không thể hình thành mủ. Những vết loét 
không lành thường ở vùng quanh hậu môn 
và rốn hoặc có thể ở các vị trí bất thường 
như vòm miệng, thậm chí áp xe não [4][6]. 
- Phản ứng viêm: ngoài nhiễm trùng, bệnh 
nhân LAD I còn có các phản ứng viêm tại 
chỗ loét hoặc viêm niêm mạc. 
Các nghiên cứu gần đây cho thấy có 
phản ứng IL-17 và IL-23 quá mức tại vị trí 
nhiễm trùng ở bệnh nhân LAD I mà không 
có mặt bạch cầu trung tính. Nhiễm trùng da 
tái phát, viêm và loét không lành sẽ dẫn đến 
xuất hiện các tổn thương với hình thái như 
viêm da mủ hoại thư. 
Viêm quanh răng, loét miệng và rụng 
răng vĩnh viễn là biểu hiện thường thấy ở 
bệnh nhân LAD I. Những bệnh nhân sống 
sót tới lớn thường rụng rất nhiều răng vĩnh 
viễn. Đó là do bạch cầu trung tính có vai trò 
quan trọng trong đảm bảo sức khỏe răng 
miệng. Khi không có bạch cầu hoạt động tại 
ổ viêm, hệ vi sinh vật cộng sinh phát triển 
một cách bất thường. Một nghiên cứu gần 
đây cho thấy hệ vi sinh vật dưới lợi của 
bệnh nhân LAD khác với hệ vi sinh trong 
các bệnh viêm lợi ở người có hệ miễn dịch 
bình thường. Vi khuẩn thường gây viêm lợi 
là: Parvimonas micra, porphyromonas 
endodontalis, Eubacterium brachy và 
Treponema và cả Trực khuẩn mủ xanh [7]. 
Các tình trạng viêm khác như viêm đại 
tràng cũng đã được mô tả ở những bệnh 
nhân mắc LAD I. 
2.5. Xét nghiệm 
Điểm đặc trưng trong bệnh LAD I là 
bạch cầu tăng rất cao. Trong đợt nhiễm 
khuẩn, bạch cầu thường tăng rất cao (từ 5 
tới 20 lần giá trị bình thường, đôi khi lên tới 
100 x 10^9/L). Khi đã hết nhiễm khuẩn, 
bạch cầu trung tính thường vẫn cao hơn so 
với bình thường. 
Xét nghiệm tế bào học dòng chảy 
(Flow cytometry) phát hiện những tế bào có 
dấu ấn CD11b / CD18 bề mặt sau khi được 
kích thích. Tuy nhiên, xét nghiệm này 
không phải lúc nào cũng tương quan với đột 
biến gen và đôi khi có thể bình thường ở 
bệnh nhân mắc LAD I. Đánh giá kết hợp 
cho CD18 và CD11a đã được đề xuất để 
khắc phục [8]. 
Số lượng CD18 có mối liên quan chặt 
chẽ tới tiên lượng bệnh nhân. Nghiên cứu 
tổng kết kết quả bệnh nhân LAD 1 trên toàn 
thế giới năm 2018 cho thấy, tỷ lệ thời gian 
sống còn trên 10 năm của bệnh nhân có số 
lượng CD18 > 10% cao hơn so với nhóm 
bệnh nhân có số lượng CD18 < 10%, đặc 
biệt cao hơn rõ rệt nhóm CD18 từ 2-4% [5]. 
Xét nghiệm mô bệnh học tại ổ viêm 
cho thấy không có bạch cầu trung tính tại ổ 
viêm. 
 Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 21-29 
26 
Hình 2. Flow Cytometry cho CD18 trong máu ngoại vi: bạch cầu trung tính được kiểm soát 
bằng biểu hiện SSC / FSC và CD18. (A) chứng là người khỏe mạnh: biểu hiện CD18 bình thường, 
(B) bệnh nhân LAD: không có CD18 [9] 
Hình 3. Đường Kaplan-Meier Kaplan-Meier ước tính thời gian sống sót của bệnh nhân LAD I 
không được ghép tế bào gốc tạo máu [5] 
Phân tích gen tìm thấy đột biến gen 
ITGB2 giúp chẩn đoán xác định, tư vấn di 
truyền và chẩn đoán trước sinh 
2.6. Chẩn đoán 
2.6.1. Chẩn đoán xác định 
Tiêu chuẩn chẩn đoán cho tới nay vẫn 
được dùng theo tiêu chuẩn chẩn đoán của 
hiệp hội Suy giảm miễn dịch Mỹ và Châu 
Âu năm 1999 [10]. 
Chẩn đoán xác định 
N.T.V. Anh et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 21-29 
27 
Bệnh nhân nam hoặc nữa có số lượng CD18 trên bạch cầu trung tính giảm (dưới 5% 
bình thường) và ít nhất 1 trong hai tiêu chuẩn sau: 
 Đột biến gen the beta-2 integrin 
 Không có mARN beta-2 integrin trên lạch cầu 
Chẩn đoán nhiều khả năng 
Bệnh nhân nam hoặc nữa có số lượng CD18 trên bạch cầu trung tính giảm (dưới 5% 
bình thường) và tất cả các tiêu chuẩn sau: 
 Nhiễm trùng vi khuẩn hoặc nấm tái diễn hoặc dai dẳng 
 Bạch cầu tăng cao (Bạch cầu trên 25x 10^9/L) 
 Chậm rụng rốn và/hoặc chậm liền vết thương 
Chẩn đoán có thể 
Trẻ nhũ nhi có bạch cầu tăng cao trên 25x 10^9/L và một trong các tiêu chuẩn sau: 
 Nhiễm vi khuẩn tái diễn 
 Nhiễm trùng sâu 
 Không có mủ ở vị trí nhiễm trùng 
2.6.2. Chẩn đoán trước sinh 
Có thể thực hiện chẩn đoán trước sinh 
bằng phương pháp phân tích gen của thai 
nhi hoặc đếm tế bào dòng chảy CD18 trên 
máu của thai nhi (ở những cơ sở không có 
phân tích gen). 
2.7. Điều trị và tiên lượng 
2.7.1. LAD I thể nhẹ và trung bình 
Nhiễm khuẩn ở bệnh nhân LAD I thể 
nhẹ và trung bình thường đáp ứng với điều 
trị bằng kháng sinh trong đợt nhiễm trùng. 
Một số bệnh nhân cần điều trị kháng sinh dự 
phòng nhiễm khuẩn. 
Chăm sóc răng miệng sạch rất quan 
trọng để kiểm soát các vấn đề răng miệng. 
Tất cả các loại vaccine, bao gồm cả các 
vaccine sống giảm độc lực đều có thể được 
chỉ định ở bệnh nhân LAD I nhẹ và trung 
bình. 
Globulin miễn dịch tiêm tĩnh mạch đã 
được sử dụng ở một số bệnh nhân làm giảm 
tần suất nhiễm trùng và nhiễm trùng nặng. 
Thuốc sinh học: một số tổn thương viêm 
nhiễm ở bệnh nhân mắc LAD I được điều trị 
hiệu quả bằng kháng thể đơn dòng kháng 
cytokin mới như ustekinumab (nhắm vào 
tiểu đơn vị p40 của cả Interleukin (IL)-12 và 
khoá IL-23 – hai Interleukin quan trọng 
trong các phản ứng viêm. 
Yếu tố kích thích Bạch cầu (G-CSF) ít 
có ý nghĩa trong điều trị LAD nói chung do 
có thể kích thích tăng số lượng bạch cầu 
trung tính nhưng không cải thiện được chức 
năng bạch cầu. Tuy nhiên, có những nghiên 
cứu đã cho thấy hiệu quả điều trị nhiễm 
khuẩn nặng bằng truyền bạch cầu hạt và yếu 
tố kích thích Bạch cầu (G-CSF) trên bệnh 
nhân viêm da hoại thư mủ [11]. 
2.7.2. LAD I thể nặng 
Ghép tế bào gốc tạo máu là chỉ định 
bắt buộc cho những bệnh nhân LAD I thể 
nặng. Đối với nhóm bệnh nhân này, nếu 
không được ghép tế bào gốc tạo máu, đa số 
sẽ tử vong trước 2 tuổi. Tuy nhiên, tỷ lệ tử 
vong liên quan tới quá trình ghép tế bào gốc 
cho bệnh nhân LAD I khá cao là 19% chung 
cho các loại ghép. 
Tỷ lệ tử vong thấp nhất là ghép phù 
hợp HLA từ anh chị em, sau đó tới ghép 
nửa thuận hợp. Những bệnh nhân được ghép 
sớm trước khi có các nhiễm khuẩn nặng có 
tiên lượng rất tốt [12][13]. 
N.T.V. Anh et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 21-29 
28 
Liệu pháp gen cho LAD I đã được 
nghiên cứu và cho kết quả rất hứa hẹn trên 
các mô hình động vật. 
3. Kết luận 
Khiếm khuyết bám dính bạch cầu type I 
là một bệnh suy giảm miễn dịch bẩm sinh 
nặng, hiếm gặp. Tuy nhiên bệnh có những 
biểu hiện lâm sàng khá đặc trưng là nhiễm 
trùng không làm mủ, chậm rụng rốn và số 
lượng bạch cầu trung tính tăng rất cao dai 
dẳng. Vì vậy, nếu các dấu hiệu lâm sàng 
được chú ý phát hiện sớm, trẻ sẽ được chẩn 
đoán và điều trị kịp thời, tránh các biến 
chứng do nhiễm khuẩn nặng và tránh được 
tử vong. 
Tài liệu tham khảo 
[1] Tangye SG, Al-Herz W, Bousfiha A et al. 
Human Inborn Errors of Immunity: 2019 
Update on the Classification from the 
International Union of Immunological 
Societies Expert Committee. J Clin 
Immunol 2020;40(1):24-64. https://doi.org/ 
10.1007/s10875-019-00737-x. 
[2] Cox DP, Weathers DR. Leukocyte adhesion 
deficiency type 1: an important 
consideration in the clinical differential 
diagnosis of prepubertal periodontitis. A 
case report and review of the literature. 
Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral 
Radiol Endod 2008;105(1):86-90. 
[3] Etzioni A, Alon R. Cell adhesion and 
leukocyte adhesion defects. Primary 
immunodeficiency diseases: a molecular 
and genetic approach, Oxford: Oxford 
University Press 2013:723-741. 
https://doi.org/ 
10.1093/med/9780195389838.003.0053 
[4] Ley K, Laudanna C, Cybulsky MI et al. 
Getting to the site of inflammation: the 
leukocyte adhesion cascade updated. 
Nature Reviews Immunology 2007;7: 678-
689. 
[5] Novoa EA, Kasbekar S, Thrasher AJ et al. 
Leukocyte adhesion deficiency-I: A 
comprehensive review of all published 
cases. J Allergy Clin Immunol Pract 
2018;6(4):1418-1420 e1410. 
https://doi.org/10.1016/j.jaip.2017.12.008. 
[6] Kumar A, Gupta A, Rawat A et al. Brain 
Abscess in a Child with Leukocyte 
Adhesion Defect: An Unusual Association. 
J Clin Immunol 2016;36(7):624-626. 
https://doi.org/10.1007/s10875-016-0315-0 
[7] Silva LM, Brenchley L, Moutsopoulos NM. 
Primary immunodeficiencies reveal the 
essential role of tissue neutrophils in 
periodontitis. Immunological Reviews 
2019;287(1):226-235. 
https://doi.org/10.1111/imr.12724. 
[8] Kanegane H, Hoshino A, Okano T et al. 
Flow cytometry-based diagnosis of primary 
immunodeficiency diseases. Allergol Int 
2018;67(1):43-54. 
https://doi.org/10.1016/j.alit.2017.06.003. 
[9] Das J, Sharma A, Jindal A et al. Leukocyte 
adhesion defect: Where do we stand circa 
2019? Genes & Diseases 2020;7:107-114. 
https://doi.org/10.1016/j.gendis.2019.07.01
2. 
[10] Conley ME, Notarangelo LD, Etzioni A. 
Diagnostic Criteria for Primary 
Immunodeficiencies. Clinical Immunology 
1999;93:190–197. 
https://doi.org/10.1006/clim.1999.4799. 
[11] Mellouli F, Ksouri H, Barbouche R et al. 
Successful treatment of fusarium solani 
ecthyma gangrenosum in a patient affected 
by leukocyte adhesion deficiency type 1 
with granulocytes transfusions. BMC 
Dermatol 2010;10(1): 10-15. 
https://doi.org/10.1186/1471-5945-10-10. 
[12] Qasim W, Cavazzana-Calvo M, Davies EG 
et al. Allogeneic hematopoietic stem-cell 
transplantation for leukocyte adhesion 
deficiency. Pediatrics 2009;123:836. 
https://doi.org/10.1542/peds.2008-1191. 
[13] Al-Ghonaium A. Stem cell transplantation 
for primary immunodeficiencies: King 
Faisal Specialist Hospital experience from 
N.T.V. Anh et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 21-29 
29 
1993 to 2006. Bone Marrow Transplant 
2008;42 Suppl 41:S53. https://doi.org/1 
0.1038/bmt.2008.115 

File đính kèm:

  • pdfsuy_giam_mien_dich_bam_sinh_the_khiem_khuyet_bam_dinh_bach_c.pdf