Sự liên quan của dây thần kinh gian cốt sau với cơ ngửa trong đường mổ đầu trên xương quay phía sau khuỷu

Mục tiêu: Thần kinh gian cốt sau (TKGCS) dễ bị tổn thương trong đường mổ tiếp cận đầu trên xương quay

phía sau khuỷu. Mục đích nghiên cứu của chúng tôi là mô tả vị trí của TKGCS trong cơ ngửa so với các mốc giải

phẫu. Hiểu rõ vị trí của TKGCS trong cơ ngửa giúp giảm nguy cơ tổn thương thần kinh này.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 15 xác tươi (30 mẫu) người Việt Nam được phẫu tích và phân

tích. Chúng tôi xác định vị trí của điểm vào cơ ngửa và điểm ra khỏi cơ ngửa của TKGCS so với hai mốc là

MTLCN (mỏm trên lồi cầu ngoài) và đường thẳng MTLCN-LC Lister (mỏm trên lồi cầu ngoài - lồi củ Lister) ở

ba tư thế cẳng tay sấp, trung tính, ngửa. Số nhánh dây thần kinh chia trong cơ ngửa và chiều dài dây thần kinh

chạy trong cơ ngửa cũng được ghi nhận.

pdf 6 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Sự liên quan của dây thần kinh gian cốt sau với cơ ngửa trong đường mổ đầu trên xương quay phía sau khuỷu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sự liên quan của dây thần kinh gian cốt sau với cơ ngửa trong đường mổ đầu trên xương quay phía sau khuỷu

Sự liên quan của dây thần kinh gian cốt sau với cơ ngửa trong đường mổ đầu trên xương quay phía sau khuỷu
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 149 
SỰ LIÊN QUAN CỦA DÂY THẦN KINH GIAN CỐT SAU VỚI CƠ NGỬA 
TRONG ĐƯỜNG MỔ ĐẦU TRÊN XƯƠNG QUAY PHÍA SAU KHUỶU 
Trang Mạnh Khôi1, Vũ Văn Phúc1 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Thần kinh gian cốt sau (TKGCS) dễ bị tổn thương trong đường mổ tiếp cận đầu trên xương quay 
phía sau khuỷu. Mục đích nghiên cứu của chúng tôi là mô tả vị trí của TKGCS trong cơ ngửa so với các mốc giải 
phẫu. Hiểu rõ vị trí của TKGCS trong cơ ngửa giúp giảm nguy cơ tổn thương thần kinh này. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 15 xác tươi (30 mẫu) người Việt Nam được phẫu tích và phân 
tích. Chúng tôi xác định vị trí của điểm vào cơ ngửa và điểm ra khỏi cơ ngửa của TKGCS so với hai mốc là 
MTLCN (mỏm trên lồi cầu ngoài) và đường thẳng MTLCN-LC Lister (mỏm trên lồi cầu ngoài - lồi củ Lister) ở 
ba tư thế cẳng tay sấp, trung tính, ngửa. Số nhánh dây thần kinh chia trong cơ ngửa và chiều dài dây thần kinh 
chạy trong cơ ngửa cũng được ghi nhận. 
Kết quả: 15 xác tươi (30 mẫu) người Việt Nam được phẫu tích và phân tích. TKGCS chủ yếu không chia 
nhánh trong cơ ngửa. Chiều dài TKGCS chạy trong cơ ngửa trung bình 33,55±4,85 mm. Ở tư thế khuỷu tay gấp 
90 độ, điểm vào cơ ngửa của TKGCS cách MTLCN 42,78±5,95 mm và cách đường thẳng MTLCN-LC Lister 
12,6±2,99 mm ở tư thế cẳng tay sấp tối đa. Vị trí điểm ra khỏi cơ ngửa của TKGCS cách MTLCN 71,58±6,61 
mm và cách đường thẳng MTLCN-LC Lister 6,78±1,72 mm ở tư thế cẳng tay sấp tối đa. Ở tư thế khuỷu tay gấp 
90 độ cẳng tay sấp tối đa, vùng nguy hiểm của TKGCS cách đường thẳng nối MTLCN-LC Lister về phía bờ 
quay (ngoài) 2 cm và 1 cm về phía bờ trụ (trong). 
Kết luận: Các đường mổ sau khuỷu tiếp cận đầu trên xương quay có thể an toàn tránh được tổn thương 
TKGCS nếu dựa vào các mốc trong nghiên cứu của chúng tôi. 
Từ khóa: thần kinh gian cốt sau, cơ ngửa, vùng nguy hiểm 
ABSTRACT 
THE RELATIONSHIP OF THE POSTERIOR INTEROSSEOUS NERVE TO THE SUPINATOR MUSCLE 
IN THE DORSAL APPROACH TO THE PROXIMAL RADIUS 
Trang Manh Khoi, Vu Van Phuc 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 149 - 154 
Objectives: The posterior interosseous nerve (PIN) is vulnerable to injury in the proximal radius's dorsal 
approach. This study aims to describe the quantitative relationship of the PIN to the supinator muscle in the 
context of anatomic landmarks. Knowledge of superficial landmarks related to the PIN would hopefully minimize 
iatrogenic injury to the posterior interosseous nerve. 
Methods: 15 fresh cadavers (30 forearms) of Vietnamese were dissected and analyzed. In three posture of 
forearm (pronation, medial, supination), the oblique distances of the points that PIN entry and exit the supinator 
muscle to the lateral epicondyle of the humerus as well as their perpendicular distances to the lateral epicondyle-
Lister’s tubercle (LE-LT) reference line were measured and recorded. The number of PIN branches inside the 
supinator substance and PIN's length across the supinator muscle were also recorded. 
Results: 15 fresh cadavers (30 forearms) of Vietnamese were dissected and analyzed. The PIN hardly divided 
branches in the supinator muscle. The length of PIN cross the supinator muscle was 33.55±4.85 mm. In 90 
1Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: TS.BS. Trang Mạnh Khôi ĐT: 0903810910 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 150 
degree-flexor elbows, the distances of the points that PIN entry the supinator muscle to the lateral epicondyle was 
42.78±5.95 mm, and perpendicular distances to the lateral epicondyle-Lister’s tubercle were 12.6±2.99 mm in 
pronation. The distances of the points that PIN exit the supinator muscle to the lateral epicondyle were 
71.58±6.61 mm, and perpendicular distances to the lateral epicondyle-Lister’s tubercle were 6.78±1.72 mm in 
pronation. In 90 degree-flexor elbows and fully pronation, the PIN's entry point in the arcade of Froshe, a danger 
zone of 2 cm radial to the LE-LT reference line is present, and towards the exit point in the distal part of the 
supinator, a danger zone of 1 cm ulnar to the LE-LT reference line is similarly present. 
Conclusion: The dorsal approach to the proximal radius may allow a safe exposure without causing 
iatrogenic injury to the posterior interosseous nerve through the use of superficial anatomic landmarks and 
reference lines in combination with mean measurements from our study. 
Key word: the posterior interosseous nerve, the supinator muscle, danger zone 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Thần kinh gian cốt sau là nhánh tận cùng 
của nhánh sâu thần kinh quay, xuyên qua cơ 
ngửa ở vòm Frohse và chi phối các cơ vùng cẳng 
tay sau. Gãy cổ chỏm xương quay, trật chỏm 
quay hay gãy trật Monteggia thường gặp ở cả 
người lớn và trẻ em(1). Chỉ định phẫu thuật chỏm 
quay sử dụng đường mổ Boyd, hay đường mổ 
Thompson dùng để kết hợp xương đầu trên 
xương quay là những đường mổ sau có cắt cơ 
ngửa nên có nguy cơ tổn thương thần kinh gian 
cốt sau trong cơ ngửa, gây ra hiện tượng mất 
duỗi cổ tay và bàn tay(2). Do đó việc xác định 
vùng nguy hiểm của dây thần kinh gian cốt sau 
trong cơ ngửa trong đường mổ phía sau của 
phẫu thuật chỏm xương quay rất quan trọng. 
Hình 1: Thần kinh gian cốt sau xuyên qua cơ ngửa phía sau khuỷu 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
30 mẫu chi trên không biến dạng, dị tật của 
15 xác tươi người Việt Nam tại Bộ môn Giải 
phẫu Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ 6/2020 
đến 9/2020. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Mô tả hàng loạt ca. 
Các bước phẫu tích 
Tư thế: nằm ngửa, khuỷu gấp 900. Rạch da. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 151 
Trong rãnh nhị đầu ngoài (phía ngoài đầu 
dưới cơ cánh tay ở vùng khuỷu) tìm thần kinh 
quay. Bộc lộ vị trí thần kinh quay chia nhánh 
nông-nhánh sâu. 
Cắt cơ cánh tay quay và cơ duỗi cổ tay quay. 
Bộc lộ điểm vào cơ ngửa của thần kinh gian cốt 
sau (cung Frohse). 
Bộc lộ cơ ngửa. Bộc lộ điểm ra khỏi cơ ngửa 
của thần kinh gian cốt sau. 
Đánh dấu vị trí TKGCS vào cơ ngửa (cung 
Frohse) và ra khỏi cơ ngửa. 
Đánh dấu 2 vị trí: mỏm trên lồi cầu ngoài 
(MTLCN) và lồi củ Lister bằng đinh. Xác định 
đường thẳng nối mỏm trên lồi cầu ngoài - lồi củ 
Lister (MTLCN-LC Lister) bằng 1 cây đinh 
Kirschner 1,5 dài đi qua 2 đinh đã đánh dấu ở trên. 
Hình 2: Điểm vào và ra khỏi cơ ngửa của TKGCS và 
các mốc giải phẫu 
Ở mỗi tư thế sấp tối đa, trung tính, ngửa tối 
đa. Đo ở mỗi tư thế 4 khoảng cách: khoảng cách 
từ MTLCN đến điểm vào cơ ngửa của TKGCS, 
khoảng cách từ MTLCN đến điểm ra khỏi cơ 
ngửa của TKGCS, khoảng cách từ điểm vào cơ 
ngửa của TKGCS đến đường thẳng MTLCN-LC 
Lister, khoảng cách từ điểm ra khỏi cơ ngửa của 
TKGCS đến đường thẳng MTLCN-LC Lister. 
Hình 3: Các khoảng cách trong nghiên cứu 
Bảng 1: Các biến số trong nghiên cứu 
 MTLCN 
Đường thẳng nối 
MTLCN-LC Lister 
Điểm vào cơ ngửa S1, TT1, N1 S3, TT3, N3 
Điểm ra khỏi cơ ngửa S2, TT2, N2 S4, TT4, N4 
S: Tư thế sấp; TT: Tư thế trung tính; N: Tư thế ngửa 
Đo chiều dài dây thần kinh gian cốt sau giữa 
điểm vào và điểm ra khỏi cơ ngửa (CD). 
Rạch dọc cơ ngửa giữa điểm vào và ra khỏi 
cơ ngửa của thần kinh gian cốt sau. Tìm số 
lượng nhánh thần kinh gian cốt sau chia trong cơ 
ngửa (SLN). 
Xử lý số liệu 
bằng phần mềm SPSS 16,0. 
Tính trung bình và độ lệch chuẩn. Kiểm định 
sự khác biệt giữa hai trung bình bằng t-test. Sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p≤0,05. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 417/HĐĐĐ-ĐHYD, 
ngày 24/6/2020. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 152 
KẾT QUẢ 
Đặc điểm mẫu nghiên cứu 
Chúng tôi đã khảo sát 30 mẫu chi trên của 15 
xác có tuổi trung bình 72,87±9,49 và chiều dài cơ 
thể trung bình 156±8 cm, tỷ lệ nam: nữ là 3:2, 15 
mẫu tay phải và 15 mẫu tay trái tỷ lệ 1:1, Bằng 
phép kiểm t-test, các thông số đo đạc không có 
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm 
nam và nữ, trái và phải (p >0,05) nên chúng tôi 
gộp các số liệu 2 bên để mô tả. 
Một số đặc điểm giải phẫu của thần kinh 
gian cốt sau đoạn trong cơ ngửa. 
Mẫu nghiên cứu có 30 mẫu thần kinh gian 
cốt sau bắt nguồn từ nhánh sâu thần kinh quay 
chiếm tỉ lệ 100%. 
Mẫu nghiên cứu có 30 mẫu thần kinh gian 
cốt sau xuyên qua cơ ngửa chiếm tỉ lệ 100%. 
Bảng 2: Tỉ lệ số nhánh của dây thần kinh gian cốt sau 
trong cơ ngửa (n=30) 
Số nhánh thần kinh gian 
cốt sau trong cơ ngửa 
Tần số Tỉ lệ 
Tổng 
cộng 
0 14 46,7% 14 
1 10 33,3% 10 
2 4 13,3% 4 
3 2 6,7% 2 
Tổng cộng 30 100% 30 
Bảng 2 thống kê số nhánh dây thần kinh 
gian cốt sau chia trong cơ ngửa. Hầu như thần 
kinh gian cốt sau không chia nhánh trong cơ 
ngửa(46,7%). Cơ ngửa được chi phối bởi 
nhánh của thần kinh gian cốt sau chia trước 
khi vào cơ ngửa. 
Bảng 3: Chiều dài đoạn dây thần kinh gian cốt sau 
chạy trong cơ ngửa trong mẫu nghiên cứu (n=30) 
Chiều dài 
TKGCS trong 
cơ ngửa 
Trung bình 
(mm) 
Khoảng giá trị 
(mm) 
Độ lệch 
chuẩn (mm) 
Tổng cộng 33,55 25,37-43,99 4,83 
Bảng 3 thể hiện chiều dài dây thần kinh gian 
cốt sau đoạn xuyên qua cơ ngửa, trung bình 
33,55 mm. Mối tương quan giữa mỏm trên lồi 
cầu ngoài xương cánh tay với các mốc của dây 
thần kinh gian cốt sau đoạn trong cơ ngửa ở các 
tư thế cẳng tay. 
Bảng 4 thể hiện các biến số khoảng cách ở tư 
thế sấp tối đa. Khoảng cách từ MTLCN đến 
điểm vào cơ ngửa của TKGCS trung bình 
39,89±5,69 mm, khoảng cách từ MTLCN đến 
điểm ra khỏi cơ ngửa của TKGCS trung bình 
72,01±6,58 mm, khoảng cách từ điểm vào cơ 
ngửa của TKGCS đến đường thẳng MTLCN-LC 
Lister trung bình 12,18±2,58 mm, khoảng cách từ 
điểm ra khỏi cơ ngửa của TKGCS đến đường 
thẳng MTLCN-LC Lister trung bình trung bình 
6,90±1,65 mm. 
Bảng 4: Kết quả các biến số ở tư thế cẳng tay sấp tối 
đa (n=30) 
Trung bình 
(mm) 
Khoảng giá trị 
(mm) 
Độ lệch chuẩn 
(mm) 
S1 39,89 30,34-57,05 5,69 
S2 72,01 59,34-86,53 6,58 
S3 12,18 6,64-19,22 2,58 
S4 6,90 3,42 - 9,81 1,65 
Bảng 5: Kết quả các biến số ở tư thế cẳng tay ngửa 
tối đa (n=30) 
Trung bình 
(mm) 
Khoảng giá trị 
(mm) 
Độ lệch chuẩn 
(mm) 
N1 35,82 25,55- 55,60 6,79 
N2 70,67 57,94- 82,84 6,70 
N3 8,78 4,52- 13,82 2,34 
N4 11,64 6,08- 15,47 2,44 
Bảng 5 thể hiện các biến số khoảng cách ở tư 
thế ngửa tối đa. Khoảng cách từ MTLCN đến 
điểm vào cơ ngửa của TKGCS trung bình 
35,82±6,79 mm, khoảng cách từ MTLCN đến 
điểm ra khỏi cơ ngửa của TKGCS trung bình 
70,67±6,70 mm, khoảng cách từ điểm vào cơ 
ngửa của TKGCS đến đường thẳng MTLCN-LC 
Lister trung bình 8,78±2,34 mm, khoảng cách từ 
điểm ra khỏi cơ ngửa của TKGCS đến đường 
thẳng MTLCN-LC Lister trung bình trung bình 
11,64±2,44 mm. 
Bảng 6: Kết quả các biến số ở tư thế cẳng tay trung 
tính (n=30) 
Trung bình 
(mm) 
Khoảng giá trị 
(mm) 
Độ lệch chuẩn 
(mm) 
TT1 37,19 28,35-1,99 5,66 
TT2 70,98 56,37-85,97 7,28 
TT3 10,97 5,10-16,46 2,43 
TT4 9,95 5,00-13,93 2,35 
Bảng 6 thể hiện các biến số khoảng cách ở tư 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 153 
thế trung tính. Khoảng cách từ MTLCN đến 
điểm vào cơ ngửa của TKGCS trung bình 
37,19±5,66 mm, khoảng cách từ MTLCN đến 
điểm ra khỏi cơ ngửa của TKGCS trung bình 
70,98±7,28 mm, khoảng cách từ điểm vào cơ 
ngửa của TKGCS đến đường thẳng MTLCN-LC 
Lister trung bình 10,97±2,43 mm, khoảng cách từ 
điểm ra khỏi cơ ngửa của TKGCS đến đường 
thẳng MTLCN-LC Lister trung bình trung bình 
9,95±2,35 mm. 
BÀN LUẬN 
Nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng thần 
kinh gian cốt sau 100% bắt nguồn từ nhánh sâu 
thần kinh quay và 100% xuyên qua cơ ngửa. Đặc 
điểm này cũng tương đồng với nghiên cứu của 
tác giả Reyes LM(1), Vergara AE(2). Thần kinh 
gian cốt sau chủ yếu không chia nhánh trong cơ 
ngửa mà được chi phối bởi nhánh xuất phát từ 
thần kinh gian cốt sau trước khi thần kinh này 
vào cơ ngửa. Chiều dài dây thần kinh gian cốt 
sau chạy trong cơ ngửa là 33,55 mm. 
Vị trí điểm vào cơ ngửa hay còn gọi là vòm 
Frohse là vị trí hay bị chèn ép nhất của thần kinh 
gian cốt sau trên đường đi của nó(3,4,5). Chúng 
tôi xác định vị trí điểm này dựa vào 2 khoảng 
cách: khoảng cách từ MTLCN đến điểm vào cơ 
ngửa của TKGCS (S1, TT1, N1) và khoảng cách 
từ điểm vào cơ ngửa của TKGCS đến đường 
thẳng MTLCN-LC Lister (S3, TT3, N3). Ví dụ ở 
tư thế cẳng tay sấp tối đa, vị trí vòm Frohse cách 
MTLCN 39,89 mm và cách đường thẳng 
MTLCN-LC Lister 12,18 mm. Vergara AE(2) đo 
được khoảng cách từ vòm Frohse - MTLCN là 
38±4,8 mm (p=0,08), Gargi S(6) cũng đo được 
khoảng cách này là 40 mm (p=0,92). Kết quà này 
tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi. Biết 
được vị trí vòm Frohse giúp xác định chính xác 
vị trí chèn ép trong phẫu thuật giải ép thần kinh 
gian cốt sau. 
Ở các tư thế cẳng tay khác nhau, càng sấp 
cẳng tay thì khoảng cách từ điểm vào cơ ngửa 
của dây thần kinh gian cốt sau đến MTLCN và 
khoảng cách từ điểm vào cơ ngửa của dây thần 
kinh gian cốt sau đường thẳng nối MTLCN-LC 
Lister càng tăng. Hay điểm vào cơ ngửa càng ra 
trước khi sấp cẳng tay. Càng sấp cẳng tay thì 
khoảng cách từ điểm ra khỏi cơ ngửa của dây 
thần kinh gian cốt sau đến MTLCN và khoảng 
cách từ điểm ra khỏi cơ ngửa của dây thần kinh 
gian cốt sau đường thẳng nối MTLCN-LC Lister 
càng giảm. Hay điểm ra khỏi cơ ngửa càng ra 
trước khi sấp cẳng tay. Trong đường mổ phía 
sau khuỷu, càng sấp cẳng tay thì thần kinh gian 
cốt sau càng ra trước do đó tránh được tổn 
thương thần kinh gian cốt sau. 
Để xác định vùng nguy hiểm của TKGCS 
trong cơ ngửa chúng tôi sử dụng 2 khoảng cách: 
khoảng cách từ điểm vào/ra khỏi cơ ngửa của 
TKGCS đến đường thẳng nối MTLCN-LC Lister. 
Từ số đo này chúng tôi kẻ 2 đường thẳng song 
song với đường thẳng nối MTLCN-LC Lister, 
phần nằm giữa hai đường thẳng là vùng nguy 
hiểm của thần kinh gian cốt sau trong cơ ngửa. 
Các đường mổ phía sau khuỷu thường đặt tư 
thế khuỷu gấp 90 độ và cẳng tay sấp tối đa. Ở tư 
thế này, khoảng cách từ điểm vào cơ ngửa đến 
đường thẳng nối MTLCN-LC Lister là 12,18 mm 
(6,64-19,22 mm), do đó chúng tôi lựa chọn vùng 
nguy hiểm của dây thần kinh gian cốt sau trong 
cơ ngửa về phía bờ quay (ngoài) của đường 
thẳng nối MTLCN-LC Lister là 20 mm hay 2 cm. 
Kết quả này cũng tương đồng với tác giả Reyes 
LM(1) là 11,3 mm (5-20 mm)(p=0,07). Cũng ở tư 
thế này, khoảng cách từ điểm ra khỏi cơ ngửa 
đến đường thẳng nối MTLCN-LC Lister là 6,9 
mm (3,42-9,81 mm), do đó chúng tôi lựa chọn 
vùng nguy hiểm của dây thần kinh gian cốt sau 
trong cơ ngửa về phía bờ trụ (trong) của đường 
thẳng nối MTLCN-LC Lister là 10 mm hay 1cm. 
Tác giả Reyes LM đo được khoảng cách này là 
12,6 mm (6-18 mm) có sự khác biệt so với nghiên 
cứu chúng tôi do tác giả sử dụng xác Formal nên 
cẳng tay cố định không sấp tối đa được. 
Trong các đường mổ phía sau khuỷu, vùng 
nguy hiểm của thần kinh gian cốt sau cách 
đường thẳng nối MTLCN-LC Lister về phía bờ 
quay (ngoài) 2 cm và 1 cm về phía bờ trụ (trong). 
Trong đường mổ Thompson hoặc Boyd có cắt cơ 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 154 
ngửa, cắt cơ ngửa ngoài vùng nguy hiểm 2 cm 
về phía bờ quay (ngoài) và 1 cm về phía bờ trụ 
(trong) so với đường thẳng nối MTLCN-LC 
Lister giúp giảm nguy cơ tổn thương thần kinh 
gian cốt sau (Hình 4). 
Hình 4: Vùng nguy hiểm của thần kinh gian cốt sau 
trong cơ ngửa 
KẾT LUẬN 
Ở các đường mổ sau khuỷu, càng sấp cẳng 
tay càng tránh việc tổn thương thần kinh. Ở tư 
thế khuỷu tay gấp 90 độ cẳng tay sấp tối đa, 
vùng nguy hiểm của thần kinh gian cốt sau cách 
đường thẳng nối MTLCN-LC Lister về phía bờ 
quay (ngoài) 2 cm và 1 cm về phía bờ trụ (trong). 
Cắt cơ ngửa ngoài vùng nguy hiểm giúp giảm 
nguy cơ tổn thương thần kinh gian cốt sau. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Reyes LM, Kho PB and Wang EH (2017). The relationship of the 
posterior interosseous nerve to the supinator muscle in the 
dorsal approach to the proximal radius: A descriptive and 
quantitative anatomic study of Filipino cadavers. Acta Medica 
Philippina, 51(2):74-78. 
2. Vergara AE (2008). Anatomic aspects of the posterior 
interosseous nerve in the proximal approach to the radius. Acta 
Ortop Mex, 22(5):309-315. 
3. Anania P, Fiaschi P, Ceraudo M, Balestrino A, et al (2018). 
Posterior interosseous nerve entrapments: review of the 
literature. Is the entrapment distal to the arcade of Frohse a 
really rare condition? Acta Neurochir, 160(9):1857-1864. 
4. Cravens G, Kline DG (1990). Posterior interosseous nerve 
palsies. Neurosurgery, 27(3):397-402. 
5. Hashizume H, Nishida K, Nanba Y, Shigeyama Y, et al (1996). 
Non-traumatic paralysis of the posterior interosseous nerve. J 
Bone Joint Surg Br, 78(5):771-776. 
6. Gargi S, Lovesh S, Neha G, et al (2013). Topographical mapping 
of the posterior interosseous nerve in surgical approaches to 
theproximal third of the radius. Eur J Anat, 17(1):35-38. 
Ngày nhận bài báo: 30/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 13/01/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfsu_lien_quan_cua_day_than_kinh_gian_cot_sau_voi_co_ngua_tron.pdf