Sử dụng vạt ALT (đùi trước ngoài) cuống ngược dòng che phủ khuyết phần mềm 1/3 trên xương chày: nhân 02 trường hợp và nhìn lại y văn
Tạo hình che phủ các khuyết hổng vùng gối thường đặt ra một thách thức do sự hạn
chế việc huy động của phần mềm tại chỗ. Ngoài ra trên một khuyết hổng do chấn
thương thường được cắt lọc trong những lần phẫu thuật trước nên thường ảnh hưởng
đến các mạch máu tại chỗ do vậy nhiều khi sử dụng vạt vi phẫu thường khó khăn
và không phải lúc nào cũng thành công. Chúng tôi báo cáo 02 trường hợp sử dụng
vạt đùi trước ngoài (ALT) cuống ngược dòng để che phủ khuyết phần mềm gối và
1/3 trên xương chày tại bệnh viện Việt Đức, đông thời đưa ra một số nhận xét về kỹ
thuật, ưu nhược điểm của vạt và nhìn lại y văn.
Bạn đang xem tài liệu "Sử dụng vạt ALT (đùi trước ngoài) cuống ngược dòng che phủ khuyết phần mềm 1/3 trên xương chày: nhân 02 trường hợp và nhìn lại y văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sử dụng vạt ALT (đùi trước ngoài) cuống ngược dòng che phủ khuyết phần mềm 1/3 trên xương chày: nhân 02 trường hợp và nhìn lại y văn
TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016 310 Bùi Mai Anh Nguyễn Hoàng Cương Đào Văn Giang Vũ Trung Trực Nguyễn Hồng Hà Khoa Tạo hình, Hàm mặt,Thẩm mỹ Bệnh viện Việt Đức Bui Mai Anh Nguyen Hoang Cuong Dao Van Giang Vu Trung Truc Nguyen Hong Ha SỬ DỤNG VẠT ALT (ĐÙI TRƯỚC NGOÀI) CUỐNG NGƯỢC DÒNG CHE PHỦ KHUYẾT PHẦN MỀM 1/3 TRÊN XƯƠNG CHÀY: NHÂN 02 TRƯỜNG HỢP VÀ NHÌN LẠI Y VĂN REVERSE ALT FLAP FOR UPPER TIBIAL SOFT TISSUE RECONSTRUCTION: 02 CASES REPORT AND LITERATURE REVIEW TÓM TẮT Tạo hình che phủ các khuyết hổng vùng gối thường đặt ra một thách thức do sự hạn chế việc huy động của phần mềm tại chỗ. Ngoài ra trên một khuyết hổng do chấn thương thường được cắt lọc trong những lần phẫu thuật trước nên thường ảnh hưởng đến các mạch máu tại chỗ do vậy nhiều khi sử dụng vạt vi phẫu thường khó khăn và không phải lúc nào cũng thành công. Chúng tôi báo cáo 02 trường hợp sử dụng vạt đùi trước ngoài (ALT) cuống ngược dòng để che phủ khuyết phần mềm gối và 1/3 trên xương chày tại bệnh viện Việt Đức, đông thời đưa ra một số nhận xét về kỹ thuật, ưu nhược điểm của vạt và nhìn lại y văn. The reconstruction of defects around the knee often poses a challenge due to the limited availability of local soft tissues. Moreover, due to a paucity of recipient vessels in those who have trauma, free-flap reconstruction is often challenging and not always successful. In addition, the optimal donor site for large soft-tissue defects has not been clearly established. The anterolateral thigh (ALT) flap is easily accessible and has minor donor site morbidity. We report 02 cases using ALT flap to cover knee and upper of the tibia at the Vietnam-Germany Hospital, also giving some technical comments, advantages and disadvantages of reverse ALT flap and literature review. ABTRACT ĐẶT VẤN ĐỀ: Các khuyết hổng vùng gối và 1/3 trên xương chày vẫn thường là thách thức đối với các phẫu thuật viên tạo hình cũng như chấn thương. Việc sử dụng các vạt tại chỗ thường không cho kết quả tốt do độ dài cuống ngắn hoặc kích thước vạt da không đủ lớn. Ngoài ra trên một khuyết hổng do chấn thương thường được cắt lọc trong những lần phẫu thuật trước nên thường ảnh hưởng đến các mạch máu tại chỗ do vậy nhiều khi sử dụng vạt vi phẫu thường khó khăn và không phải lúc nào cũng thành công. Chính vì những lý do trên việc sử dụng vạt đùi trước ngoài (ALT) cuống ngược dòng là một trong Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu 311 những lựa chọn được các nhà tạo hình ưu tiên do kích thước vạt lớn, độ dài cuống linh hoạt. Các báo cáo về việc sử dụng vạt ALT cuống ngược dòng tuy không nhiều nhưng đã chứng minh được tính linh hoạt của vạt cho việc che phủ phần mềm khuyết hổng vùng gối và 1/3 trên xương chày. Do vậy, chúng tôi đã tiến hành phẫu thuật trên 02 bệnh nhân có khuyết phần mềm lộ xương 1/3 trên xương chày và đưa ra một số nhận xét và bàn luận. CA LÂM SÀNG 1: Bệnh nhân nam 35 tuổi, tai nạn giao thông gãy hở mâm chày bên phải, dập nát phần mềm. Bệnh nhân được mổ cắt lọc và đặt cố định ngoài khung vòng qua gối. Sau 1 tuần, phần mềm gối và 1/3 trên xương chày bị hoại tử và lộ đầu trên xương chày. Bệnh nhân được chuyển qua khoa Phẫu thuật tạo hình và chúng tôi đã tiến hành chuyển vạt ALT cuống ngược dòng che phủ đầu trên xương chày không có nối mạch máu đầu xa của vạt. Kích thước vạt 6 x 12 cm. 01 ngày sau phẫu thuật, vạt có biểu hiện ứ máu tĩnh mạch. Chúng tôi tiến hành cắt chỉ cuống mạch, đắp vạt bằng heparin tuy nhiên, vạt đã bị hoại tử toàn bộ do ứ tĩnh mạch vạt. Ca lâm sàng 1: Hình ảnh khuyết da lộ xương Ca lâm sàng 1: Vạt sau phẫu thuật 1 ngày và 7 ngày CA LÂM SÀNG 2: Bệnh nhân nam 13 tuổi, tai nạn xe máy – ô tô gãy hở lồi cầu đùi, dập nát phần mềm cẳng chân. Bệnh nhân được mổ cắt lọc và đặt cố định ngoài khung vòng qua gối. Sau 2 tuần, vùng da cẳng chân, gối bị hoại tử gây lộ 1/3 trên xương chày và chảy dịch khớp gối. Chúng tôi quyết định chuyển vạt ALT cuống ngược dòng che phủ vùng lộ xương, khớp. Kích thước vạt 7 x 14 cm. Vạt sau khi bóc đến vùng mạch nối quanh khớp gối được xoay 180 độ xuống vùng tổn khuyết. Vùng cho vạt được đóng trực tiếp. Tuy nhiên, chúng tôi tiến hành nối tĩnh mạch đầu xa của vạt với tĩnh mạch tùy hành của động mạch chày trước bằng kỹ thuật vi phẫu để tránh nguy cơ ứ máu tĩnh mạch vạt. Kết quả, vạt sống hoàn toàn, bệnh nhân ra viện sau 1 tuần. TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016 312 BÀN LUẬN Với các khuyết hổng vùng gối và 1/3 trên xương chày theo các kỹ thuật kinh điển thường sử dụng vạt cơ cuống liền để che phủ. Tuy nhiên, các vạt cơ cuống liền có nhiều nhược điểm như cuống vạt ngắn, góc xoay của cuống hạn chế và không có vạt da phủ trên cơ (1). Vạt ALT lần đầu tiên được mô tả bởi Song và cộng sự năm 1984 (2,4), sau đó vạt được sử dụng rất đa dạng với vạt tự do và vạt cuống liền trên thế giới. Tại Việt Nam, lần đầu tiên tác giả Nguyễn Tài Sơn đã báo cáo vạt ALT sử dụng dưới dạng vạt tự do che phủ khuyết vùng hàm mặt năm 2006. Dạng vạt ALT cuống liền che phủ vùng chi dưới được Trần Bảo Khánh và cộng sự báo năm 2009 (3). Vạt ALT cuống liền xuôi dòng được sử dụng nhiều cho các khuyết hổng vùng bụng, tầng sinh môn. Vạt ALT cuống ngược dòng được mô tả lần đầu từ năm 1990 bởi Zhang và cộng sự để che phủ khuyết hổng quanh gối (1), từ đó vạt được áp dụng khá phổ biến và các kỹ thuật cũng có nhiều thay đổi và cải tiến để tăng tính linh hoạt, sức sống của vạt. Vạt ALT cuống ngược dòng được cấp máu bởi vòng nối quanh gối của động mạch mũ đùi ngoài và động mạch gối trên. Điểm xoay của cuống nằm cách 3-10 cm bờ trên xương bánh chè. Ca lâm sàng 2: Khuyết hổng lộ 1/3 trên xương chày có chảy dịch khớp. Vạt ALT cuống ngược dòng được che phủ tổn khuyết Hình ảnh sơ đồ chuyển vạt ALT cuống ngược dòng Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu 313 Hai vạt của chúng tôi đều có kích thước chiều ngang nhỏ hơn 8cm nên vùng cho vạt đều đóng kín trực tiếp không cần ghép da, theo một số báo cáo thì kích thước của vạt cũng ảnh hưởng đến sức sống của vạt. Theo Hsuan-Keng Yeh và cộng sự thì vạt có diện tích lớn hơn 100cm2 thì có nguy cơ hoại tử một phần vạt cao hơn so với vạt có kích thước bé hơn (2). Tuy nhiên, 02 vạt của chúng tôi (7x14 cm; 6x12 cm) đều có kích thước nhỏ hơn 100 cm2 nhưng vẫn có 01 vạt hoại tử hoàn toàn. Do vậy, theo chúng tôi việc hoại tử vạt không do kích thước vạt mà phụ thuộc vào nhánh xuyên vạt, cuống vạt, ứ máu tĩnh mạch vat. Đồng quan điểm với chúng tôi, báo cáo của Cheng Hung-Lin và cộng sự nghiên cứu trên 18 vạt ALT cuống ngược dòng cũng thấy không có sự liên quan giữa kích thước vạt và nguy cơ hoại tử vạt (5). Về kỹ thuật bóc phần cuống vạt, qua 02 bệnh nhân chúng tôi nhận thấy do vòng nối quanh gối tương đối phức tạp và trên bệnh nhân có tổn thương gẫy hở dập nát quanh gối thì việc bóc cuống sẽ khó khăn hơn. Chúng tôi thấy rằng cuống vạt càng đi xuống vùng gối càng nhỏ lại do vậy, đối với trường hợp thứ hai chúng tôi không bóc trần cuống mạch mà để lại cơ quanh cuống để tránh làm tổn thương cuống. Kỹ thuật này cũng được nhắc đến ở báo cáo của Seng Feng-Jeng (1) và Hsuan- Keng Yeh (2). Vấn đề ứ máu tĩnh mạch vạt được rất nhiều báo cáo nhắc đến và cũng có các kỹ thuật khác nhau để xử trí vấn đề này. Trong báo cáo của Lê Hồng Phúc và cộng sự với 02 trường hợp (6) và báo cáo của Won-Ha (7) với 1 ca lâm sàng sử dụng cách kẹp cuống xuôi dòng trước khi cắt vạt để kiểm tra sức sống của vạt sau đó mới tiến hành cắt vạt và không nối tĩnh mạch đầu xa của vạt. Một số báo cáo khác trên seri bệnh nhân lớn hơn đã chỉ ra rằng tỷ lệ hoại tử vạt một phần hoặc toàn bộ có liên quan đến việc nối tĩnh mạch đầu xa của vạt. Theo Cheng Hung- Lin trên lô 18 vạt, có 4/18 vạt không nối tĩnh mạch đầu xa đều hoại tử đầu xa của vạt (5), còn theo Hsuan-Keng Yeh báo cáo trên 04 vạt không có nối tĩnh mạch đầu xa của vạt đều có ứ trệ tĩnh mạch vạt sau phẫu thuật và hoại tử một phần vạt (2). Với 02 ca lâm sàng của chúng tôi dù chưa đủ tính chất thống kê nhưng cúng tôi cũng nhận thấy: Với trường hợp đầu cho dù bệnh nhân đã được kẹp cuống kiểm tra, nhưng hiện tượng ứ máu tĩnh mạch vạt vẫn xảy ra sau phẫu thuật 1 ngày và vạt bị hoại tử toàn bộ. Với trường hợp thứ hai, mặc dù kích thước vạt lớn hơn, chấn thương phần mềm quanh gối nặng hơn nhưng chúng tôi chủ động nối tĩnh mạch đầu xa của vạt. Kết quả vạt sống toàn bộ không có biểu hiện của ứ máu tĩnh mạch. KẾT LUẬN Vạt ALT cuống ngược dòng là một vạt linh hoạt trong che phủ khuyết phần mềm quanh gối và 1/3 trên cẳng chân. Nơi cho vạt không bị ảnh hưởng chức năng. Tuy nhiên, việc sử dụng vạt hiệu quả hơn cần thiết kế vạt có kích thước nhỏ hơn so với vạt vi phẫu và có nối tĩnh mạch đầu xa của vạt để tránh hiện tượng ứ máu tĩnh mạch. Ca lâm sàng 2: Hình ảnh nối tĩnh mạch đầu xa của vạt bằng vi phẫu. Kết quả sau 2 tháng mổ chuyển vạt TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016 314 Tài liệu tham khảo 1. Parviz Lionel Sadigh, Cheng-Jung Wu, Hsiang-Shun Shih, Seng-Feng Jeng. Reverse Anterolateral Thigh Flap to Revise a Below-knee Amputation Stump at the Mid-tibial Level. Plast Reconstr Surg Glob Open 2013;1:e88. 2. Hsuan-Keng Yeh, Chung-Chen Hsu, Cheng-Hung Lin,Yen-Chang Hsiao, Yi-Chieh Chen, Yu-Te Lin, Chih-Hung Lin. Reverse-flow anterolateral thigh flap without antegrade venous reconstruction for knee soft- tissue reconstruction. Copyright ª 2015, Taiwan Surgical Association. Published by Elsevier Taiwan LLC. 3. Ngô Thái Hưng. Nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng vạt đùi trước ngoài trong điều trị khuyết hổng vùng cẳng –bàn chân. Luận án tiến sỹ viện nghiên cứu Y-Dược lâm sàng 108. 2015. 4. Yuan-Sheng Tzeng, Shun-Cheng Chang, Niann-Tzyy Dai, Shou-Cheng Deng, Chih-Hsing Wang, Tim-Mo Chen, and Shyi-Gen Chen. Versatile Application of Pedicled Anterolateral Thigh Flaps in Reconstruction. J Med Sci 2013;33(4):177-182. 5. Cheng-Hung Lin, Jonathan Zelken, Chung-Chen Hsu, Chih-Hung Lin, Fu-Chan Wei. The Distally Based, Venous Supercharged Anterolateral Thigh Flap. 2015 Wiley Periodicals, Inc. Microsurgery 00:000–000, 2015. 6. Lê Hồng Phúc, Trần Thiết Sơn, Lê Nghi Thành Nhân. Ứng dụng vạt đùi trước ngoài trong tạo hình che phủ các khuyết hổng phần mềm ở chi dưới. Luận văn thạc sỹ Đại học Y hà nội (2014). 7. Won Ha, Kyu Nam Kim, Chae Ri Park, Chi Sun Yoon. Application of Reverse Anterolateral Thigh Flapin Infected Knee Defect Reconstruction in a Pediatric Patient wit Developmental Disability. Journal of Reconstructive Microsurgery Open (2015).
File đính kèm:
su_dung_vat_alt_dui_truoc_ngoai_cuong_nguoc_dong_che_phu_khu.pdf

