Sử dụng sóng cao tần trong điều trị giãn tĩnh mạch nông chi dưới

Suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới là bệnh lý khá thường gặp, chiếm khoảng 40,5% người trên 50 tuổi, nữ giới nhiều gấp 4,25 lần so với nam giới [Error! Reference source not found.]. Tổn thương có thể gặp ở tĩnh mạch nông, tĩnh xuyên, tĩnh mạch sâu hoặc ở cả 3 hệ tĩnh mạch của chi dưới [0]. Riêng về bệnh lý tĩnh mạch nông, một cách tổng quát, ta có thể phân thành 3 nhóm sau: nhóm suy tĩnh mạch mạn tính, nhóm giãn tĩnh mạch, nhóm viêm tắc tĩnh mạch. Điều trị suy tĩnh mạch chi dưới nói chung và suy – giãn tĩnh mạch nông nói riêng được phân làm 2 mảng chính: nội khoa và ngoại khoa. Điều trị ngoại khoa chủ yếu vẫn là phẫu thuật. Từ các thập niên 80 – 90 của thế kỉ 20, các phương pháp can thiệp nội mạch trong điều trị suy – giãn tĩnh mạch nông chi dưới lần lượt được thực hiện và đã mở ra một bước tiến mới trong điều trị bệnh lý suy tĩnh mạch chi dưới [0, 0, 0, 0, 16]

pdf 10 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Sử dụng sóng cao tần trong điều trị giãn tĩnh mạch nông chi dưới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sử dụng sóng cao tần trong điều trị giãn tĩnh mạch nông chi dưới

Sử dụng sóng cao tần trong điều trị giãn tĩnh mạch nông chi dưới
SỬ DỤNG SÓNG CAO TẦN TRONG ĐIỀU TRỊ GIÃN TĨNH MẠCH NÔNG CHI DƯỚI 
 31
SỬ DỤNG SÓNG CAO TẦN TRONG ĐIỀU TRỊ GIÃN TĨNH MẠCH 
NÔNG CHI DƯỚI 
Nguyễn Văn Việt Thành* Nguyễn Hoài Nam* 
Từ khoá: suy tĩnh mạch (vein insufficiency), 
giãn tĩnh mạch (varicose vein), xơ hóa tĩnh mạch 
bằng sóng cao tần (radio frequency ablation - RFA) 
I. MỞ ĐẦU 
Suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới là bệnh lý 
khá thường gặp, chiếm khoảng 40,5% người trên 
50 tuổi, nữ giới nhiều gấp 4,25 lần so với nam 
giới [Error! Reference source not found.]. Tổn 
thương có thể gặp ở tĩnh mạch nông, tĩnh xuyên, 
tĩnh mạch sâu hoặc ở cả 3 hệ tĩnh mạch của chi 
dưới [0]. Riêng về bệnh lý tĩnh mạch nông, một 
cách tổng quát, ta có thể phân thành 3 nhóm sau: 
nhóm suy tĩnh mạch mạn tính, nhóm giãn tĩnh 
mạch, nhóm viêm tắc tĩnh mạch. Điều trị suy tĩnh 
mạch chi dưới nói chung và suy – giãn tĩnh mạch 
nông nói riêng được phân làm 2 mảng chính: nội 
khoa và ngoại khoa. Điều trị ngoại khoa chủ yếu 
vẫn là phẫu thuật. Từ các thập niên 80 – 90 của 
thế kỉ 20, các phương pháp can thiệp nội mạch 
trong điều trị suy – giãn tĩnh mạch nông chi dưới 
lần lượt được thực hiện và đã mở ra một bước 
tiến mới trong điều trị bệnh lý suy tĩnh mạch chi 
dưới [0, 0, 0, 0, 16] . 
II. ĐỊNH NGHĨA 
Suy tĩnh mạch là tình trạng tổn thương của 
hệ thống van ở tĩnh mạch chi dưới dẫn đến sự 
trào ngược của dòng máu hướng tâm. Tổn thương 
có thể gặp ở cả 3 hệ tĩnh mạch nông, sâu và 
xuyên [0, 0, 0, 0]. 
Giãn tĩnh mạch được định nghĩa như là 
một đoạn tĩnh mạch giãn to, dài ra, có thể thấy 
nằm ngoằn ngoèo ngay dưới da [0, 0, 0, 0]. Giãn 
tĩnh mạch được phân thành nguyên phát và thứ 
phát. Giãn tĩnh mạch nguyên phát là tình trạng 
giãn nở của một đoạn tĩnh mạch dẫn đến hậu quả 
mất đi chức năng cản máu chảy ngược về của các 
van tĩnh mạch. Ngược lại, giãn tĩnh mạch thứ 
phát là hậu quả của sự suy van gây nên tình trạng 
ứ trệ và giãn nở của một đoạn tĩnh mạch [0]. 
III. LỊCH SỬ 
Năm 1891, D'Arsonval lần đầu tiên mô tả 
liệu pháp ứng dụng sóng cao tần trong y học. Ban 
đầu, liệu pháp ứng dụng sóng cao tần chỉ được 
triển khai trong lãnh vực thần kinh vào khoảng 
thập niên 90. Sau đó, phương pháp này dần phát 
triển hơn cùng với sự phát triển của y học và khoa 
học kỹ thuật. Từ đó, người ta bắt đầu nghiên cứu, 
ứng dụng nó nhiều hơn trong y học. Năm 1999, 
liệu pháp dùng sóng cao tần trong y học (hay còn 
gọi là RFA) được chính thức giới thiệu lần đầu 
tiên trên thế giới tại một hội thảo ở New zealand. 
Bước đầu, nó chỉ được dùng như một liệu pháp 
phụ hỗ trợ cho phẫu thuật. Về sau, liệu pháp này 
đã được sử dụng rộng rãi hơn và từng bước trở 
thành một liệu pháp điều trị quan trọng như: cắt, 
đốt các tế bào ung thư, tiêu hủy hoặc hàn kín các 
mạch máu, dây thần kinh bị hư hại trong cơ thể2 
Phương pháp can thiệp nội tĩnh mạch bằng 
nhiệt cao tần trong điều trị suy – giãn tĩnh mạch 
nông chi dưới được công bố vào năm 1998 tại 
châu Âu. Nguyên lý của phương pháp này là tác 
dụng nhiệt trực tiếp lên thành tĩnh mạch để làm 
teo và xơ hoá tĩnh mạch giãn. Đến năm 1999, 
FDA cấp phép công nhận RFA là một kỹ thuật 
điều trị trong bệnh lý suy tĩnh mạch và được sử 
dụng tại Hoa Kỳ. Cho đến nay, kỹ thuật này đã 
*Bộ môn Ngoại lồng ngực tim mạch - ĐH Y Dược TP. HCM 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS Nguyễn Hoài Nam 
Ngày nhận bài: 01/02/2019 - Ngày Cho Phép Đăng: 23/03/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 28 - THÁNG 3/2020 
 32
được sử dụng tại nhiều nước trên thế giới, kể cả 
các nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái 
Lan, Philippin, Singapore. Nhiều nghiên cứu tại 
nhiều trung tâm thực hiện cho thấy đây là một 
phương pháp có hiệu quả cao, an toàn và thẩm 
mỹ, so với điều trị bằng phẫu thuật kinh điển. 
Cuối 2009 đầu năm 2010, bệnh viện Đại Học Y 
Dược Thành phố Hồ Chí Minh bước đầu triển 
khai và ứng dụng thành công kỹ thuật sử dụng 
sóng cao tần trong điều trị suy tĩnh mạch mạn 
tính chi dưới. [0, 0, 14, 16]. 
IV. CHẨN ĐOÁN [0, 0, 13, 15] 
Triệu chứng cơ năng: 
 Bệnh nhân thường không có triệu chứng 
hay triệu chứng nhẹ trong trường hợp giãn tĩnh 
mạch trong da, giãn tĩnh mạch dạng lưới hay giãn 
nhẹ thân tĩnh mạch. Vấn đề than phiền chủ yếu là 
thẫm mỹ. 
 Cảm giác đau, nặng chân nhất là về chiều, 
tê, nóng rát, ngứa. 
 Phù chân nhẹ, thường là ở vùng cổ chân, 
nặng dần về chiều, sau một ngày làm việc, giảm 
khi nằm kê chân cao, tiếp xúc với lạnh hoặc mang 
vớ thun băng ép. 
Một số triệu chứng khác có thể liên quan đến 
suy tĩnh mạch mạn tính như vọp bẻ vào ban đêm, 
cảm giác mỏi chân, chân không “ngơi nghỉ”. 
Triệu chứng thực thể: 
Các dạng giãn tĩnh mạch nông chi dưới 
 Giãn các tĩnh 
mạch trong da 
 Giãn tĩnh mạch 
dạng lưới 
 Giãn thân tĩnh 
mạch hiển lớn 
 Giãn thân tĩnh 
mạch hiển bé 
Hình 1: Các dạng giãn tĩnh mạch nông chi dưới 
Khám lâm sàng 
Tư thế bệnh nhân khi khám: đứng trên bục 
cao và nằm ngửa, người khám chú ý quan sát: 
- Sự hiện diện của các nhánh tĩnh mạch 
giãn và nhận diện về mặt giải phẫu học. Các tĩnh 
mạch này thuộc đường đi của tĩnh mạch hiển lớn, 
hiển bé, các nhánh phụ, các nhánh thông nối, các 
nhánh bàng hệ 
- Dấu hiệu phù chân, một bên hay hai bên, 
đối xứng hay không. Vị trì phù ở bàn chân, cẳng 
SỬ DỤNG SÓNG CAO TẦN TRONG ĐIỀU TRỊ GIÃN TĨNH MẠCH NÔNG CHI DƯỚI 
 33
chân hoặc ở đùi. Trong trường hợp phù kín đáo, 
có thể dùng thước dây để đo và so sánh hai chân. 
- Các thay đổi ở da do biến dưỡng như rối 
loạn sắc tố da, viêm da hạ bì, chàm hóa, teo da, 
loét 
Trong thăm khám, nhiều nghiệm pháp 
chuyên biệt được sử dụng giúp ích cho chẩn đoán 
và điều trị. Việc thực hiện và lý giải kết quả của 
các nghiệm pháp này rõ ràng không đơn giản và 
mất nhiều thời gian. Người khám có thể áp dụng 
một số nghiệm pháp sau để phát hiện sự mất chức 
năng của các van tĩnh mạch nông: 
Nghiệm pháp gõ sóng (nghiệm pháp Schwartz): 
Nghiệm pháp này nhằm xác định tình trạng 
suy van tĩnh mạch hiển. Bệnh nhân đứng, người 
khám dùng đầu ngón tay của 2 bàn tay đặt trên 
đoạn tĩnh mạch hiển giãn. Khoảng cách 2 bàn 
tay khoảng 10 cm. Ngón trên gõ vào đoạn tĩnh 
mạch giãn, ngón dưới sẽ cảm nhận được xung 
động của dòng phụt ngược từ trên truyền tới. 
Khi đó, nghiệm pháp (+), nghĩa là có suy van 
tĩnh mạch hiển. 
Hình 2: Nghiệm pháp gõ sóng (nghiệm pháp Schwartz) 
Nghiệm pháp ho: 
Nghiệm pháp này nhằm xác định suy van tĩnh mạch hiển – đùi. Bệnh nhân ở tư thế đứng, người 
khám để ngón tay ngay tại điểm tĩnh mạch hiển lớn đổ vào tĩnh mạch đùi, có thể sử dụng máy siêu âm 
Doppler bỏ túi, đặt đầu dò tại điểm trên. Cho bệnh nhân ho gây tăng áp lực đột ngột trong bụng, gây 
chèn ép tĩnh mạch chủ dưới tạo ra dòng phụt ngược. Nghiệm pháp (+) khi người khám cảm nhận được 
dòng phụt ngược dội vào tay hay nghe được âm thanh phụt ngược trên máy siêu âm Doppler bỏ túi. 
Hình 3: Nghiệm pháp ho 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 28 - THÁNG 3/2020 
 34
Nghiệm pháp Trendelenburg: 
Nghiệm pháp này nhằm xác định suy van tĩnh mạch hiển và suy van tĩnh mạch xuyên. Bệnh 
nhân nằm ngửa, nâng cao chân để máu trong tĩnh mạch hiển lớn dồn hết vào tĩnh mạch sâu, đặt garô 
(chỉ ép tĩnh mạch) ở sát nếp bẹn. Sau đó, cho bệnh nhân đứng dậy quan sát. Khi chưa mở garô, nếu các 
quai tĩnh mạch giãn xuất hiện lại trong vài giây (dưới 30 giây) từ dưới lên thì chứng tỏ có suy van tĩnh 
mạch xuyên. Khi mở garô, nếu van tĩnh mạch hiển lớn bị suy thì các quai tĩnh mạch giãn xuất hiện trở 
lại từ trên xuống trong vòng 30 giây (nghiệm pháp dương tính). Nghiệm pháp âm tính khi tĩnh mạch 
giãn trở lại từ dưới lên với thời gian trên 30 giây. 
Hình 4: Nghiệm pháp Trendelenburg 
Cận lâm sàng: 
Siêu âm Doppler màu: cho chúng ta các 
thông tin liên quan đến chức năng van của tĩnh 
mạch hiển, các nhánh xuyên, tĩnh mạch sâu. 
Đây là phương pháp chẩn đoán hình ảnh không 
xâm lấn, kết quả chính xác và có thể thực hiện 
nhiều lần. 
Đo dung tích tĩnh mạch khi vận động (hay 
test kích thích bơm của khối cơ cẳng chân): đánh 
giá chức năng bơm của khối cơ và khớp cũng như 
chức năng của các van hệ sâu và nông. 
Chụp tĩnh mạch giãn cản quang: đánh 
giá mối quan hệ giữa các tĩnh mạch giãn với hệ 
thống sâu và các tĩnh mạch hiển. Ngoài ra, còn 
cho thấy vị trí, chức năng van của các nhánh 
xuyên, nơi đổ vào tĩnh mạch sâu của tĩnh mạch 
hiển lớn và bé. 
Phân loại: 
Bảng phân loại CEAP 
CEAP là tập hợp các chữ đầu của các yếu 
tố trong phân loại viết theo tiếng Anh: Clinical 
severity (độ nặng lâm sàng), Etiology (căn 
nguyên), Anatomy (giải phẫu), Pathophysiology 
(sinh lý bệnh). 
Phân loại theo lâm sàng 
C0:không thấy hoặc sờ được có tĩnh mạch giãn 
C1: có giãn mao mạch hay giãn tĩnh mạch 
dạng lưới, có kích thước nhỏ hơn 3 mm 
C2: giãn thân tĩnh mạch, có kích thước lớn 
hơn 3 mm 
C3: phù 
C4: loạn dưỡng da (thay đổi sắc tố da, viêm 
da, xơ mỡ da) 
C5: loạn dưỡng da và có sẹo loét 
SỬ DỤNG SÓNG CAO TẦN TRONG ĐIỀU TRỊ GIÃN TĨNH MẠCH NÔNG CHI DƯỚI 
 35
C6: loạn dưỡng và loét da 
Kết hợp thêm: 
A: không triệu chứng 
S: triệu chứng 
Phân loại theo căn nguyên 
Ec: bẩm sinh 
Ep: nguyên phát 
Es: thứ phát (hậu huyết khối) 
En: không xác định được nguyên nhân 
Phân loại theo giải phẫu 
As: tĩnh mạch nông 
Ad: tĩnh mạch sâu 
Ap: tĩnh mạch xuyên 
An: không xác định được 
Phân loại theo sinh lý bệnh 
Pr: trào ngược 
Po: tắc nghẽn 
Pr+o: trào ngược và tắc nghẽn 
Pn: không xác định được 
Lợi điểm của bảng phân loại CEAP là có 
thể xác định được nguyên nhân, vị trí giải phẫu, 
sinh bệnh học, từ đó có thể tiên lượng và đánh giá 
được kết quả điều trị. Tuy nhiên, bất lợi là khá 
phức tạp, và không xác định được mức độ trầm 
trọng của bệnh. 
Bảng phân loại Porter 
 Giai đoạn 1: Không triệu chứng 
 Giai đoạn 2: Suy tĩnh mạch nhẹ, phù ở 
mắt cá chân, giãn tĩnh mạch 
 Giai đoạn 3: Suy tĩnh mạch trung bình, 
viêm da, phù, xơ mỡ da, giãn tĩnh mạch 
 Giai đoạn 4: Suy tĩnh mạch nặng, phù rõ, 
tổn thương loạn dưỡng da, loét 
Lợi điểm của bảng phân loại này là đơn 
giản, dễ đánh giá, xếp loại, thấy được mức độ 
nặng của bệnh. Tuy nhiên, bảng này không giúp 
phân loại chi tiết về lâm sàng, giải phẫu, sinh 
bệnh học giống như phân loại CEAP. 
V. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG 
Tiến triển [13, 15]: 
Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh sẽ 
tiến triển nặng dần. Theo diễn tiến lâm sàng, bệnh 
được chia thành 2 giai đoạn: 
 Thời kỳ còn bù: Bệnh nhân có cảm giác 
tức, nặng và mỏi ở chi dưới khi đứng lâu, có thể 
xuất hiện phù nề nhẹ ở cẳng – bàn chân vào cuối 
ngày làm việc, nghỉ ngơi thì hết phù nề. Các tĩnh 
mạch nông ở chân giãn chưa nhiều, lúc giãn lúc 
không. Khi gần mất bù, các triệu chứng của thời 
kỳ còn bù phát triển nặng lên. Khi đi lại, xuất 
hiện cảm giác đau tức nhiều ở cẳng chân. Triệu 
chứng phù thường xuyên hơn, thường vẫn còn 
ngay cả khi bệnh nhân nghỉ ngơi. Các quai tĩnh 
mạch nông giãn to thường xuyên. 
 Thời kỳ mất bù: thường xuyên có cảm 
giác tê chân, ngứa da vùng tổn thương, đau nhiều 
ở chân khi đi bộ. Triệu chứng phù nề không mất 
đi khi nghỉ ngơi. Các tổn thương da do loạn 
dưỡng xuất như: viêm da, xơ cứng da, loét... 
Biến chứng [0, 0, 0]: 
 Huyết khối: huyết khối hình thành ở tĩnh 
mạch bị giãn do tình trạng ứ trệ. Huyết khối có thể 
trôi vào hệ sâu và xa hơn nữa có thể gây biến chứng 
thuyên tắc phổi đe doạ tính mạng người bệnh. 
 Xuất huyết do vỡ tĩnh mạch giãn thường 
là do chấn thương, có thể chấn thương nhẹ, vào 
vùng tĩnh mạch giãn, hiếm khi vỡ tự nhiên. Chảy 
máu có thể nguy hiểm nếu vỡ các thân tĩnh mạch 
nông chính. 
 Xơ mỡ da: là quá trình xơ hóa dần dần da 
và lớp mỡ dưới da do suy tĩnh mạch. Bệnh 
nguyên của xơ mỡ da chưa rõ. Nhiều cơ chế đã 
được đề cập như tăng áp lực tĩnh mạch, sự bắt giữ 
các bạch cầu gây phóng thích các men tiêu 
protein, sự lắng đọng fibrin quanh mao 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 28 - THÁNG 3/2020 
 36
mạchQuá trình xơ mỡ da thường được xác định 
tương đối rõ và khu trú ở vùng thấp của cẳng 
chân và vùng mắt cá. Da trở nên chai cứng lại và 
bóng. Lớp mỡ dưới da trở nên dày và cứng. Lớp 
hạ bì chai lại và dính với các lớp bên dưới. Sang 
thương này khi ấn thấy mềm. Có thể thấy giãn 
tĩnh mạch tại vùng bị xơ hóa và da ở phía trên 
tĩnh mạch có thể không bị tăng sắc tố ngay cả khi 
những vùng da xung quanh sẫm màu. Trong giai 
đoạn cấp, da có thể tương đối bình thường và 
bệnh nhân có thể than đau, nóng, rát bỏng ở vùng 
thấp của cẳng chân. 
 Teo da trắng: là một thay đổi điển hình ở 
bệnh nhân suy tĩnh mạch. Thường gặp ở phụ nữ 
hơn, nằm ở mắt cá trong và mu bàn chân. Tên 
được gọi như vây là do màu sắc và hình thái của 
da. Sang thương đặc trưng bởi những vùng giới 
hạn rõ ở thượng bì, tăng sắc tố và nhợt nhạt do 
thiếu những mao mạch làm mất màu hồng bình 
thường trên da. Khi không có mao mạch nuôi 
dưỡng, da bị thiếu máu cục bộ. Do đó mô da rất 
yếu và dễ bị chấn thương. Đôi khi, sang thương 
được bao quanh bởi những vùng tăng sắc tố và rải 
rác có hình ảnh sao mạch (mao mạch giãn và kéo 
dài). Loét kết hợp khá thường gặp (1/3 trường 
hợp) tại vùng teo da trắng. Loét thường nhiều ổ, 
kích thước nhỏ, rất đau và chậm lành. Teo da 
trắng cũng có thể là một sẹo loét chân do tĩnh 
mạch đã lành. 
 Chàm: Viêm da chàm hóa thường phát 
triển trong quá trình suy tĩnh mạch. Những bất 
thường về mao mạch do ứ máu tĩnh mạch có thể 
kèm theo những sang thương chàm hóa có giới 
hạn rõ hoặc lan tỏa. Hiện tượng này, có thể do 
tăng áp lực tĩnh mạch, bắt giữ và hoạt hóa bạch 
cầu gây ra viêm. Bề mặt da thường khô và láng. 
Sang thương này rất ngứa và thường kèm theo 
viêm thần kinh da thứ phát. 
 Loét chân: được xem là biến chứng da 
cuối cùng và nặng nề nhất của suy tĩnh mạch. 
Loét chân do tĩnh mạch thường khu trú ở vùng 
thấp của cẳng chân đến phía trên mắt cá trong, rất 
hiếm khi xảy ra ở mu bàn chân hoặc ngón chân. 
Khởi đầu loét có thể âm thầm hoặc đột ngột sau 
chấn thương, xuất huyết do vỡ tĩnh mạch giãn, 
nhiễm trùng da. 
VI. ĐIỀU TRỊ BẰNG PHƯƠNG PHÁP 
SỬ DỤNG SÓNG CAO TẦN 
Cơ chế tác dụng: Đây là phương pháp hủy 
mô bằng nhiệt, gây ra bởi sự ma sát của các ion 
trong mô dưới tác động của dòng điện xoay chiều 
có tần số nằm trong khoảng sóng âm thanh (200 - 
1.200MHz). Dòng điện được truyền từ máy vào 
mô cơ thể qua một điện cực dạng kim (needle 
electrode), dòng sóng radio được truyền vào đầu 
kim và sinh nhiệt. Nhiệt do ma sát làm khô mô 
xung quanh dẫn đến làm mất nước trong tế bào và 
hoại tử đông phần mô cần hủy [18]. 
A: Mức độ lan rộng của tác dụng nhiệt B: Biến đổi tĩnh mạch trên giải phẫu bệnh 
Hình 5: Cơ chế tác dụng của sóng cao tần 
SỬ DỤNG SÓNG CAO TẦN TRONG ĐIỀU TRỊ GIÃN TĨNH MẠCH NÔNG CHI DƯỚI 
 37
Chỉ định và chống chỉ định điều trị laser 
nội tĩnh mạch 
Chỉ định 
Những bệnh nhân giãn tĩnh mạch nông chi 
dưới thỏa các yêu cầu sau [14, 17, 20, 21]: 
 Giãn tĩnh mạch hiển và có dòng trào 
ngược trên siêu âm doppler 
 5mm ≤ đường kính thân tĩnh mạch hiển 
≤ 12mm 
Chống chỉ định 
Những bệnh nhân giãn tĩnh mạch nông 
nhưng lại kèm theo các vấn đề sau [0, 14, 17, 
20, 21]: 
 Huyết khối tĩnh mạch sâu 
 Huyết khối tĩnh mạch hiển đoạn gần quai 
 Dị dạng động – tĩnh mạch 
 Giãn nhánh tĩnh mạch nông nhưng tĩnh 
mạch hiển không suy – giãn 
 Tĩnh mạch hiển giãn ngoằn ngoèo không 
thể luồn guide wire 
 Bệnh nhân có thai và đang cho con bú 
Chuẩn bị bệnh nhân trước thủ thuật 
Những bệnh nhân có chỉ định điều trị can 
thiệp nội tĩnh mạch đều được chuẩn bị như một 
cuộc mổ, bao gồm: 
 Một số các xét nghiệm tiền phẫu 
 Giải thích rõ cho bệnh nhân và người nhà, 
cho kí cam kết 
 Làm vệ sinh chân cần can thiệp 
 Vẽ bản đồ tĩnh mạch dưới siêu âm bằng 
mực không tan trong nước, xác định các yếu tố 
sau: vị trí và đường kính quai tĩnh mạch hiển, 
đánh dấu vị trí cách quai 2cm, đường kính thân 
tĩnh mạch, dòng trào ngược, vị trí đâm kim 
 Kháng sinh trước mổ: trước lúc thực hiện 
thủ thuật 30 phút 
 Lập đường truyền tĩnh mạch 
Kỹ thuật thực hiện 
Dụng cụ 
 Máy siêu âm mạch máu 
 Máy đốt nhiệt bằng sóng cao tần 
Bộ dụng cụ can thiệp mạch máu. 
Hình 6: Máy đốt nhiệt bằng sóng cao tần 
Tư thế bệnh nhân [14, 17, 20, 21] 
 Đối với can thiệp tĩnh mạch hiển lớn: 
Bệnh nhân được cho nằm ngửa, chân được điều 
trị hơi giạng và xoay ngoài, gối hơi gấp để bộc lộ 
vùng mặt trong đùi 
 Đối với can thiệp tĩnh mạch hiển bé: Bệnh 
nhân được cho nằm sấp, hai chân duỗi thẳng, bộc 
lộ mặt sau cẳng chân và vùng khoeo. 
Vô cảm 
 Tê tủy sống 
 Tê tại chỗ 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 28 - THÁNG 3/2020 
 38
Kỹ thuật tiến hành 
 Bệnh nhân được chuẩn bị như một cuộc 
phẫu thuật: sát trùng toàn bộ chiều dài chân bằng 
betadine, trải khăn vô trùng 
 Bác sĩ rửa tay, mặc áo và mang găng 
vô trùng 
 Đâm kim vào tĩnh mạch hiển dưới siêu âm 
định vị hoặc bộc lộ tĩnh mạch hiển bằng phương 
pháp Müller. 
 Dùng phương pháp Seldinger để luồn dây 
điện cực đến đúng vị trí đã đánh dấu (cách quai 1 
– 2cm). Sợi dây điện cực cố định bằng 1 khóa. 
Kiểm tra dây điện cực trong lòng tĩnh mạch ở 
đúng vị trí bằng siêu âm. 
 Tiêm dung dịch đệm (natriclorua 0,9%) 
xung quanh thân tĩnh mạch hiển dưới siêu âm từ 
xa về gần. Việc tiêm dung dịch đệm xung quanh 
tĩnh mạch có ba tác dụng. Tác dụng thứ nhất là 
giảm đau. Tác dụng thứ hai là ép tĩnh mạch nhỏ 
lại làm tăng hiệu quả tác dụng. Tác dụng thứ ba là 
tạo một môi trường nước bảo vệ xung quanh tĩnh 
mạch, làm giảm các biến chứng do tác dụng của 
hiệu ứng nhiệt lên các mô lân cận. 
 Tùy theo thế hệ máy đốt nhiệt bằng sóng 
cao tần, năng lượng được sử dụng từ 25 – 30 W, 
nhiệt độ phát ra từ 850 – 1200. Mỗi đoạn tĩnh 
mạch được can thiệp từ 5 – 7cm. Thời gian can 
thiệp trên mỗi đoạn tĩnh mạch là 20s. 
 Sau thủ thuật, bệnh nhân được quấn băng 
thun ép hoặc mang vớ tĩnh mạch trong vòng 7 
ngày và có thể xuất viện sau thủ thuật 2 giờ. 
Bệnh nhân được tái khám sau 1 tuần. 
Những quai tĩnh mạch giãn còn sót lại được rút 
bỏ bằng phương pháp Müller hoặc được chích xơ 
dưới siêu âm. 
Hình 7: Can thiệp xơ hóa tĩnh mạch bằng sóng cao tần 
SỬ DỤNG SÓNG CAO TẦN TRONG ĐIỀU TRỊ GIÃN TĨNH MẠCH NÔNG CHI DƯỚI 
 39
Đánh giá kết quả điều trị 
Đánh giá kết quả lâm sàng dựa trên tiêu 
chuẩn Mayo – Clinic [0, 8, 0] 
 Rất tốt: không còn triệu chứng lâm sàng, 
không có các nhánh bên tái xuất hiện 
 Tốt: không còn triệu chứng lâm sàng, 
ngoại trừ vài nhánh tĩnh mạch bên xuất hiện 
 Khá: triệu chứng lâm sàng được cải thiện 
một phần và có các nhánh tĩnh mạch bên xuất 
hiện nhưng không có các nhánh chính tồn tại 
 Thất bại: nhánh chính còn tồn tại hay tái lập 
Đánh giá kết quả cận lâm sàng [0, 8, 0] 
 Hình ảnh tắc đoạn tĩnh mạch hiển được 
làm laser trên siêu âm doppler 
 Dòng trào ngược đoạn tĩnh mạch hiển 
được làm laser trên siêu âm doppler 
Tai biến và biến chứng: 
 Phỏng da 
 Huyết khối tĩnh mạch sâu có thể gây 
thuyên tắc phổi [22] 
 Tụ máu dưới da chỗ đâm kim 
 Nhiễm trùng 
Tiên lượng: 
 Tỷ lệ thành công cao, 96 – 97%. 
 Thời gian nằm viện ngắn: bệnh nhân xuất 
viện trong ngày. 
 Thời gian phục hồi nhanh: bệnh nhân trở 
lại với công việc sau khoảng 2 ngày. 
VII. KẾT LUẬN 
Giãn tĩnh mạch nông chi dưới là bệnh lý 
ngày càng phổ biến ở nước ta. Hiện tại, có nhiều 
phương pháp để điều trị bệnh lý này. Xơ hóa tĩnh 
mạch bằng sóng cao tần là phương pháp điều trị ít 
xâm lấn, tỉ lệ thành công cao, ít biến chứng, tính 
thẩm mỹ cao, hồi phục nhanh. Cùng với can thiệp 
laser nội tĩnh mạch, phương pháp đốt nhiệt bằng 
sóng cao tần là những lựa chọn ban đầu của bác sĩ 
chuyên khoa mạch máu trong điều trị giãn tĩnh 
mạch nông chi dưới. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Claudio Allegra (2001), "Bệnh giãn tĩnh 
mạch", Khám phá bệnh suy tĩnh mạch mạn tính, 
Hội thảo bệnh lý tĩnh mạch - Trung Tâm Đào Tạo 
và Bồi Dưỡng Cán Bộ Y Tế Thành Phố Hồ Chí 
Minh, Servier, TP HCM, tr 15-24. 
2. Claudio Allegra (2001), "Dịch tễ học 
bệnh tĩnh mạch", Khám phá bệnh suy tĩnh mạch 
mạn tính, Hội thảo bệnh lý tĩnh mạch - Trung 
Tâm Đào Tạo và Bồi Dưỡng Cán Bộ Y Tế Thành 
Phố Hồ Chí Minh, Servier, TP HCM, tr 3-6. 
3. Phan Thanh Hải, Hồ Khánh Đức, 
Nguyễn Văn Việt Thành (2010), "Điều trị suy 
tĩnh mạch nông chi dưới bằng phương pháp laser 
nội tĩnh mạch với laser diode bước sóng 810 nm", 
Tạp chí Y học TP HCM, tập 14 (1), tr 168-173. 
4. Lê Thị Ngọc Hằng (2008), Đánh giá kết 
quả điều trị ngoại khoa giãn tĩnh mạch nông chi 
dưới mạn tính, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú, 
Đại học Y Dược TP HCM, TP HCM, tr 96-97. 
5. Lê Nữ Thị Hoà Hiệp (2003), "Suy tĩnh 
mạch nông chi dưới mạn tính: yếu tố nguy cơ - 
chỉ định ngoại khoa", Tạp chí Y học TP HCM, tập 
7, tr 97-99. 
6. Lê Nữ Thị Hoà Hiệp (2008), "Suy tĩnh 
mạch nông chi dưới mạn tính", Điều trị ngoại 
khoa lồng ngực - tim mạch, Nhà xuất bản Y học, 
TP HCM, tr 72-85. 
7. Nguyễn Hoài Nam (2006), "Một số 
phương thức điều trị mới trong bệnh suy tĩnh mạch 
mạn tính", Cập nhật điều trị lồng ngực - mạch máu, 
Nhà xuất bản Y học, TP HCM, tr 195-207. 
8. Bùi Đức Phú, Bùi Minh Thành (2004), 
"Nghiên cứu dụng phẫu thuật Stripping trong 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 28 - THÁNG 3/2020 
 40
điều trị ngoại khoa suy giãn tĩnh mạch nông chi 
dưới", Thông tin y dược học Việt Nam. 
9. Văn Tần (2004), "Suy tĩnh mạch và giãn 
tĩnh mạch", Bài giảng bệnh học ngoại khoa, Nhà 
xuất bản Y Học, TP HCM, tr 416-439. 
10. Văn Tần (2007), "Suy tĩnh mạch và 
giãn tĩnh mạch: bệnh lý và điều trị", Bài giảng 
điều trị học ngoại khoa, Nhà xuất bản Y Học, TP 
HCM, tr 440-451. 
11. Nguyễn Văn Việt Thành (2011), "Đánh 
giá hiệu quả điều trị giãn tĩnh mạch hiển bằng 
phương pháp sử dụng laser nội mạch", Luận văn 
thạc sỹ y học, Đại học Y Dược TP. HCM, TP. 
HCM, tr 90. 
12. Bull Phillip (2006), "History of 
Varicose Vein Surgery", The harley treet vein 
clinic, London,  
13. D.lafrati Mark, Thomas F. O'Donnell 
Jr. (2004), "Varicose veins", Haimovici's 
Vascular Surgery, Blackwell, pp 1058-1073. 
14. Gohel, M.S., A.H. Davies (2009), 
“Radiofrequency ablation for uncomplicated 
varicose veins”, Phlebology, 24 Suppl 1: p. 42-9. 
15. Keagy Blair A., Mendes Robert R. 
(2007), "Superficial Venous Pathology and 
Therapies", Mastery of Surgery, Lippincott 
Williams & Wilkins, Vol 2, pp 2503 - 2531. 
16. Mosquera Damien (2010), "Historical 
overview of varicose vein surgery", Annals of 
Vascular Surgery, Vol 24 (8), pp 1159. 
17. Parsi, K. (2009), “Catheter-directed 
sclerotherapy”, Phlebology, 24(3): p. 98-107. 
18. Reich-Schupke, S., A. Mumme, and M. 
Stucker (2011), “Histopathological findings in 
varicose veins following bipolar radiofrequency-
induced thermotherapy--results of an ex vivo 
experiment”. Phlebology, 26(2): p. 69-74. 
19. Roos, M.T., B.L. Borger van der Burg, 
and J.J. Wever (2011), “Pain perception during 
and after VNUS ClosureFAST procedure”, 
Phlebology, 26(5): p. 209-12 
20. Sufian, S., S. Lakhanpal, and J. 
Marquez (2011), Superficial vein ablation for the 
treatment of primary chronic venous ulcers, 
Phlebology, 26(7): p. 301-6. 
21. Tellings, S.S., R.P. Ceulen, and A. 
Sommer (2011), Surgery and endovenous 
techniques for the treatment of small saphenous 
varicose veins: a review of the literature, 
Phlebology, 26(5): p. 179-84. 
22. Vedantham, S. (2008), Superficial 
venous interventions: assessing the risk of DVT, 
Phlebology, 23(2): p. 53-7. 
23. Cao Văn Thịnh (2003), "Prévalence et 
facteurs favorisants de la maladie veineuse 
chronique chez les sujets de plus de la 50 ans à 
Ho Chi Minh ville", Revue international de 
documentation scientifique, Vol 55 (2), pp 49-53. 

File đính kèm:

  • pdfsu_dung_song_cao_tan_trong_dieu_tri_gian_tinh_mach_nong_chi.pdf