Sử dụng dung dịch liệt tim máu ấm để bảo vệ cơ tim trong phẫu thuật tim người lớn

Chúng tôi nghiên cứu hồi cứu, trong 14 năm (2004 – 2018), trên những bệnh nhân phẫu thuật tim (n=6720) được sử dụng dung dịch liệt tim máu ấm để bảo vệ cơ tim. Chúng tôi đánh giá mức độ tổn thương cơ tim dựa vào các biến số ghi nhận vào các thời điểm từ trước mổ (T0), 2 giờ sau kết thúc phẫu thuật (T2), 8 giờ sau mổ (T8) và 24 giờ sau mổ (Toff) về nồng độ Troponin T, tỷ lệ khử rung tim tự nhiên sau mở cặp động mạch chủ, sử dụng hỗ trợ tuần hoàn bằng kỹ thuật bơm bóng đối xung trong động mạch chủ, sử dụng thuốc trợ tim inotrope, và chức năng tim sau mổ như cung lượng tim, phân suất tống máu thất trái cũng như các kết quả hồi sức về thời gian thở máy, thời gian điều trị tại phòng hồi sức. Tỷ lệ đáng kể những bệnh nhân có nguy cơ cao trước mổ như suy tim nặng NYHA.III-IV (81,3%), tăng áp phổi với PAPS≥55 mmHg (27,7%) hoặc phải trải qua phẫu thuật phức tạp (39,3%) như phẫu thuật đa van tim, hoặc phối hợp phẫu thuật van tim với bắc cầu chủ vành Tuy nhiên, có cải thiện đáng kể chức năng tim sau mổ như phân suất tống máu thất trái (p<0,05), cung="" lượng="" tim=""><0,05) và="" cải="" thiện="" thời="" gian="" thở="" máy="" (22,56±30,04="" giờ),="" thời="" gian="" điều="" trị="" trị="" phòng="" hồi="" sức="" (51,16±35,13="">

pdf 8 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Sử dụng dung dịch liệt tim máu ấm để bảo vệ cơ tim trong phẫu thuật tim người lớn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sử dụng dung dịch liệt tim máu ấm để bảo vệ cơ tim trong phẫu thuật tim người lớn

Sử dụng dung dịch liệt tim máu ấm để bảo vệ cơ tim trong phẫu thuật tim người lớn
SỬ DỤNG DUNG DỊCH LIỆT TIM MÁU ẤM ĐỂ BẢO VỆ CƠ TIM TRONG PHẪU THUẬT TIM NGƯỜI LỚN 
 5 
SỬ DỤNG DUNG DỊCH LIỆT TIM MÁU ẤM ĐỂ BẢO VỆ CƠ TIM 
TRONG PHẪU THUẬT TIM NGƯỜI LỚN 
Đoàn Đức Hoằng*, Trương Tuấn Anh*, Lê Nhật Anh*, Phan Tái Nhân*, Đặng Quốc Kha* 
TÓM TẮT 
Chúng tôi nghiên cứu hồi cứu, trong 14 
năm (2004 – 2018), trên những bệnh nhân phẫu 
thuật tim (n=6720) được sử dụng dung dịch liệt 
tim máu ấm để bảo vệ cơ tim. Chúng tôi đánh giá 
mức độ tổn thương cơ tim dựa vào các biến số 
ghi nhận vào các thời điểm từ trước mổ (T0), 2 
giờ sau kết thúc phẫu thuật (T2), 8 giờ sau mổ 
(T8) và 24 giờ sau mổ (Toff) về nồng độ Troponin 
T, tỷ lệ khử rung tim tự nhiên sau mở cặp động 
mạch chủ, sử dụng hỗ trợ tuần hoàn bằng kỹ thuật 
bơm bóng đối xung trong động mạch chủ, sử 
dụng thuốc trợ tim inotrope, và chức năng tim sau 
mổ như cung lượng tim, phân suất tống máu thất 
trái cũng như các kết quả hồi sức về thời gian thở 
máy, thời gian điều trị tại phòng hồi sức. Tỷ lệ 
đáng kể những bệnh nhân có nguy cơ cao trước 
mổ như suy tim nặng NYHA.III-IV (81,3%), tăng 
áp phổi với PAPS≥55 mmHg (27,7%) hoặc phải 
trải qua phẫu thuật phức tạp (39,3%) như phẫu 
thuật đa van tim, hoặc phối hợp phẫu thuật van 
tim với bắc cầu chủ vành Tuy nhiên, có cải 
thiện đáng kể chức năng tim sau mổ như phân 
suất tống máu thất trái (p<0,05), cung lượng tim 
(p<0,05) và cải thiện thời gian thở máy 
(22,56±30,04 giờ), thời gian điều trị trị phòng hồi 
sức (51,16±35,13 giờ). 
SUMMARY 
THE APPLICATION OF WARM BLOOD 
CARDIOPLEGIA FOR MYOCARDIAL 
PROTECTION DURING CARDIAC SURGERY 
IN ADULT 
We retrospectively analyzed, over 14 years 
(2004-2018), early results of cardiac surgical 
patients (n=6720) using warm blood cardioplegia 
for myocardial protection. We access the 
myocardial cell injury base on research variables 
collected before surgery, 2h, 8h and 24h 
postoperatively of cardiac troponin T level, 
spontaneous defibrillation after removing aortic 
clamp, use of intra-aortic balloon counter 
pulsation (IABP), and use of inotropic support, 
and evaluated cardiac function such as cardiac 
output measurement, left ventricular ejection 
fraction as well as the clinical outcome such as 
ventilation time and ICU stay in these patients. 
Results: Preoperative demographic and 
clinical variables with high risk factors were 
severe heart failure at NYHA.III-IV (81,3%), 
severe pulmonary artery hypertension (27,7%) 
and patients undergoing complicated surgery 
(39,3%) such as multi-valvular surgery or 
combined valvular and coronary surgery and 
long duration in aortic clamp (40,5%) or in 
cardiopulmonary bypass (40,2%). However, 
postoperatively, there was a significantly goof 
progress in cardiac function such as left 
ventricular ejection fraction (p<0,05), cardiac 
output (p<0,05) and in clinical outcome such as 
reduced ventilation time (22,56±30,04 hours) as 
well as ICU stay (51,16±35,13 hours). * 
Keywords: Cardiac surgery, 
cardiopulmonary bypass; myocardial protection; 
Troponin T; Ischemia-reperfusion injury; left 
ventricular ejection fraction. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể, làm liệt 
* Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Trung ương Huế 
Người chịu trách nhiệm khoa học: TS. Đoàn Đức Hoằng 
Ngày nhận bài: 01/05/2018 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/05/2018 
Phản Biện Khoa học: GS.TS. Bùi Đức Phú 
 PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 6 
tim, và tái tưới máu cơ tim sau cặp động mạch 
chủ là những nguyên nhân gây ra phản ứng viêm 
hệ thống và gây tổn thương cơ tim do thiếu máu – 
tái tưới máu, và điều này làm tăng đáng kể các 
biến chứng sau mổ [1]. Nếu Sử dụng dung dịch 
liệt tim để làm ngừng hoạt động của tim vào thì 
tâm trương bằng cách bơm một dung dịch giàu 
kali vào trong động mạch vành, qua đó giúp làm 
giảm tiêu thụ oxy cơ tim đến 90%, nếu như dung 
dịch này được sử dụng ở môi trường có nhiệt độ 
sinh lý [2]. 
Vào thập niên 1990s, nhiều nghiên cứu đã 
chứng tỏ việc sử dụng dung dịch liệt tim máu ấm 
(>280C) giúp cải thiện chức năng tim và giảm 
phóng thích các men tim sau phẫu thuật. Sử dụng 
dung dịch liệt tim máu ở nhiệt độ sinh lý giúp bảo 
vệ cơ tim trong quá trình phẫu thuật và làm giảm 
các biến chứng sau mổ. Khác với dung dịch tinh 
thể, khi làm liệt tim thì máu giúp vận chuyển 
lượng oxy lớn hơn đến cơ tim và làm giảm quá 
trình pha loãng do đó tạo nên môi trường gần như 
sinh lý. Dung dịch liệt tim máu ưu điểm hơn dung 
dịch tinh thể giúp ức chế các protein gây quá 
trình tự tiêu tế bào do tổn thương thiếu máu – tái 
tưới máu [3]. 
Cho đến nay vẫn chưa có sự đồng thuận về 
sử dụng một phương pháp liệt tim tối ưu nhằm 
giảm thiểu các tổn thương cơ tim trong quá trình 
phẫu thuật. Có nhiều chến lược để cố gắng giảm 
thiểu sự tổn thương cơ tim do thiếu máu – tái tưới 
máu, bao gồm sử dụng hệ thống tuần hoàn ngoài 
cơ thể ít xâm nhập, chuẩn bị các điều kiện giúp 
tim “đề kháng” tốt hơn với các tổn thương thiếu 
máu và tối ưu phương pháp liệt tim chính là mục 
tiêu của nghiên cứu này. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Nghiên cứu hồi cứu trên 6720 bệnh nhân phẫu 
thuật tim người lớn tại Trung tâm tim mạch. Bệnh 
viện Trung ương Huế trong 14 năm (2004-2018). 
2.1. Đánh giá trước mổ (T0) 
- Thăm khám bệnh lý gồm các triệu chứng 
suy tim, triệu chứng thiếu máu cơ tim, các yếu tố 
nguy cơ đối với bệnh nhân phẫu thuật tim. 
- Xét nghiệm tiền phẫu thường qui, trắc 
nghiệm gắng sức và men tim troponin T vào hôm 
trước phẫu thuật. 
- Siêu âm tim và chụp động mạch vành 
chẩn đoán bệnh lý van tim, bệnh động mạch 
vành, phát hiện các vận động các thành tim, đo 
phân suất tống máu và bệnh tim khác. 
- Loại hình phẫu thuật tim, can thiệp đa 
van, phối hợp can thiệp van tim và bắc cầu chủ 
vành, phẫu thuật tim cấp cứu và phẫu thuật lần 2 
trở lên 
2.2. Đánh giá theo dõi trong mổ: 
- Điện tâm đồ 12 chuyển đạo liên tục. 
- Nhiệt độ cơ thể. 
- Bảo hòa oxy máu ngoại vi, khí máu động 
mạch, nồng độ hemoglobin. 
- Các thông số huyết động xâm nhập như 
huyết áp động mạch, áp, áp lực tĩnh mạch trung 
tâm, áp lực động mạch phổi, đo cung lượng tim, 
và siêu âm tim qua thực quản. 
- Đánh giá như cầu sử dụng thuốc hỗ trợ co 
bóp tim (loại thuốc, liều lượng, phối hợp thuốc) 
hoặc sử dụng hỗ trợ tuần hoàn bằng bơm bóng 
đối xung trong độn mạch chủ. 
- Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể (phút). 
- Thời gian cặp động mạch chủ (phút). 
- Ghi nhận và đánh giá các tổn thương cấu 
trúc tim được sữa chữa (số cầu nối, van tim). 
2.2.1. Đánh giá sau mổ: thời điểm 2h (T2), 
8h (T8) và 24h (T24) sau khi về phòng hồi sức 
- Định lượng nồng độ troponin T vào các 
thời điểm trước và sau mổ như trên (nồng độ 
troponin T tăng hơn gấp 2 – 10 lần với trước mổ). 
SỬ DỤNG DUNG DỊCH LIỆT TIM MÁU ẤM ĐỂ BẢO VỆ CƠ TIM TRONG PHẪU THUẬT TIM NGƯỜI LỚN 
 7 
- Đánh giá các thông số huyết động nêu trên 
- Nhu cầu sử dụng inotrope (liều lượng, 
phối hợp thuốc, thời gian sử dụng). 
- Đánh giá biến chứng nhồi máu cơ tim 
sau mổ. 
- Đánh giá biến chứng suy thận sau mổ 
(creatinine máu > 2mg/dL hoặc tăng hơn gấp đôi 
so với trước mổ). 
- Siêu âm tim sau mổ đánh giá các rối loạn 
vận động vùng, tràn dịch màng tim hoặc phát 
hiện những bất thường khác. 
- Thời gian thở máy sau mổ (giờ). 
- Thời gian nằm điều trị tại phòng hồi 
sức (giờ). 
Tất cả số liệu được nhập và phân tích bởi 
phần mềm SPSS phiên bản 20.0. Các kết quả 
được trình bày dưới dạng tỷ lệ phần trăm hoặc giá 
trị trung bình cộng và độ lệch chuẩn. Giá trị 
p<0,05 là có ý nghĩa thống kê. 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
3.1. Số liệu trước mổ 
* Đặc điểm các yếu tố nguy cơ trong phẫu thuật 
1 van ≥ 2 van ≥ 2 ĐMV van + ĐMV phẫu thuật
lần 2 trở lên
phẫu thuật
cấp cứu
Biểu đồ 3.1. Đặc điểm phân bố các loại hình phẫu thuật tim 
Nhận xét: Loại hình phẫu thuật đồng thời từ 02 van tim trở lên chiếm tỷ lệ nhiều nhất (32,1%); 
Đa số là loại hình phẫu thuật tim có kế hoạch, phẫu thuật cấp cứu rất ít (0,9%). 
* Đặc điểm các yếu tố nguy cơ trước phẫu thuật 
Bảng 3.1. Đặc điểm các yếu tố nguy cơ trước phẫu thuật 
Yếu tố nguy cơ trước phẫu thuật n % 
Suy tim trước phẫu thuật (NYHA.III-IV) 5460 81,3 
Phân suất tống máu giảm EF < 50% 2160 32,1 
Tăng áp phổi PAPS ≥ 55 mmHg 1860 27,7 
Nhồi máu cơ tim mới 240 3,6 
Tuổi ≥ 60 (năm) 960 14,3 
60,7 % 
32,1 % 
7,1 % 
2,7 % 
6,3 % 
0,9 % 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 8 
Nhận xét: đa số bệnh nhân có NYHA.III-IV và có khoảng 1/3 số bệnh nhân có biểu hiện giảm 
phân suất tống máu thất trái trước phẫu thuật. 
3.2. Số liệu trong mổ 
* Đặc điểm thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể, thời gian cặp động mạch chủ 
 Biểu đồ 3.2. Thời gian THNCT Biểu đồ 3.3. Thời gian cặp ĐMC 
Nhận xét: Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể kéo dài ≥ 120 phút, và thời gian cặp động mạch chủ ≥ 
90 phút chiếm tỷ lệ đáng kể (40,2% và 40,5%). 
* Tỷ lệ khử rung tim tự nhiên sau mở cặp động mạch chủ là 92%. 
3.3. Số liệu tại phòng hồi sức sau mổ 
* Nồng độ hemoglobin 
Bảng 3.2. Kết quả đo lường nồng độ hemoglobin 
Hb (g/dL) T0 T2 T8 
Hb-min 9,0 8,3 7,3 
Hb-max 17,0 15,3 14,6 
Hb ≥ 8 g/dL 6720 (100%) 6720 (100%) 6600 (98,2%) 
Hb < 8 g/dL 0 (0%) 0 (0%) 120 (1,8%) 
X ± SD 13,14±1,62 11,17±1,44 10,41±1,24 
p pT0xT2 < 0,05 pT0xT8 < 0,05 pT2xT8 < 0,05 
Nồng độ Hb giảm dần ở các thời điểm sau phẫu thuật trong giới hạn cho phép (≥ 8g/dL) và sự khác 
biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). 
* Chỉ số tim (CI) 
Bảng 3.3. Kết quả đo lường giá trị chỉ số tim 
CI (lít/phút/m2) T0 T2 T8 Toff 
CI < 2,2 6000 (89,3%) 780 (11,6%) 900 (13,4%) 660 (9,8%) 
CI = 2,2- 2,5 540 (8,0%) 600 (8,9%) 1140 (17,0%) 1080 (16,1%) 
CI > 2,5 180 (2,7%) 5340 (79,5%) 4680 (69,6%) 4980 (74,1%) 
CI-TB 1,67±0,43 3,23±0,93 2,90±0,77 2,99±0,70 
p pT0xT2 0,05 
Nhận xét: có nhiều bệnh nhân suy tim nặng trước phẫu thuật có CI < 2,2 lít/phút/m2, tỷ lệ này giảm 
sau mổ và thấp nhất ở thời điểm T24. Tỷ lệ giảm bệnh nhân có chỉ số tim giảm nhưng vẫn trong giới 
hạn cho phép (2,2 ≤ CI ≤ 2,5 lít/phút/m2) ở thời điểm sau phẫu thuật (T2, T8, T24) chiếm tỷ lệ thấp. Hầu 
hết bệnh nhân sau phẫu thuật cải thiện chỉ số tim (CI ≥ 2,5 lít/phút/m2). Giá trị CI-TB tăng sau phẫu 
thuật (p< 0,05), và giá trị này cao nhất thời điểm T2. 
* Phân suất tống máu thất trái (EF) 
SỬ DỤNG DUNG DỊCH LIỆT TIM MÁU ẤM ĐỂ BẢO VỆ CƠ TIM TRONG PHẪU THUẬT TIM NGƯỜI LỚN 
 9 
Bảng 3.4. Kết quả đo lường giá trị phân suất tống máu thất trái 
EF (%) T0 T2 T8 Toff 
EF-min 30 25 27 37 
EF ≥ 50% 4560 (67,9%) 5040 (75,0%) 5400 (80,4%) 4560 (67,9%) 
EF-TB 52,90±8,33 54,51±8,91 55,22±8,82 56,50±7,86 
P p(T0)x(T2) < 0,05 p(T0)x(T8) < 0,05 p(T0)x(T24) < 0,05 p(T8)x(T24) < 0,05 
Nhận xét: Tỉ lệ bệnh nhân có giá trị EF ≥ 50% tăng đáng kể sau phẫu thuật; Biến thiên giá trị 
EF-TB tăng sau phẫu thuật, và sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). 
* Nồng độ troponin-T huyết tương 
Bảng 3.5. Kết quả xét nghiệm nồng độ troponin-T huyết tương 
Troponin-T 
Thời điểm T0 (n = 6420) T8 (n = 6660) P 
Troponin-T-TB (ng/mL) 0,53 ± 0,166 0,711 ± 0,462 < 0,05 
Troponin-T < 2 lần 6000 (93,5%) 240 (3,6%) < 0,05 
Troponin-T tăng từ 2 - < 10 lần 360 (5,6%) 5160 (77,5%) < 0,05 
Troponin-T tăng gấp ≥ 10 lần 60 (0,9%) 1260 (18,9%) < 0,05 
Nhận xét: giá trị troponin-T-TB tăng sau mổ (p<0,05); phần lớn có nồng độ troponin-T tăng từ 2-10 
lần ở T8 giờ sau mổ; một số bệnh nhân có troponin-T tăng ≥ 10 lần ở thời điểm T8. 
* Nhu cầu sử dụng thuốc tăng co bóp tim sau mổ 
Bảng 3.6. Kết quả điều trị thuốc trợ tim 
Loại thuốc trợ tim TM n Min Max X ± SD 
≤ 10 5400 Dobutamin 
(mcg/kg/phút) >10 0 
5400 (80,4%) 1,46 8,70 5,70 ± 1,54 
≤ 0,2 1620 Adrenalin 
(mcg/kg/phút) >0,2 300 
1920 (28,6%) 0,03 0,25 0,13 ± 0,05 
≤ 0,2 1320 Noradrenalin 
(mcg/kg/phút) >0,2 540 
1860 (27,7%) 0,05 0,49 0,17 ± 0,10 
Nhận xét: Phần lớn bệnh nhân cần điều trị dobutamin sau mổ, và tỷ lệ đáng kể cần điều trị bởi 
adrenalin, hoặc noradrenalin; Rất ít bệnh nhân cần phải điều trị thuốc trợ tim liều cao 
Bảng 3.7. Kết quả phối hợp các thuốc trợ tim 
Phối hợp các thuốc trợ tim tĩnh mạch n Tỷ lệ % 
Không sử dụng thuốc trợ tim tĩnh mạch 720 10,7 
Sử dụng 1 loại thuốc trợ tim tĩnh mạch 3540 52,7 
Phối hợp 2 loại thuốc trợ tim tĩnh mạch 1740 25,9 
Phối hợp 3 loại thuốc trợ tim tĩnh mạch 720 10,7 
Tổng 6720 100,0 
Nhận xét: phần lớn bệnh nhân chỉ cần điều trị bởi 1 loại thuốc thuốc trợ tim đường tĩnh mạch, 
hỗ trợ bởi 2 loại thuốc trợ tim đường tĩnh mạch chiếm tỷ lệ ít hơn, và rất ít bệnh nhân sử dụng phối 
hợp cả 3 loại thuốc trợ tim đường tĩnh mạch. 
* Liệu pháp hỗ trợ tuần hoàn cơ học bằng bơm bóng đối xung trong động mạch chủ 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 10 
Bảng 3.8. Kết quả của liệu pháp điều trị hỗ trợ tuần hoàn cơ học 
Hỗ trợ bóng đối xung trong động mạch chủ n Tỷ lệ % P 
Không hỗ trợ bóng đối xung trong ĐMC 6420 95,5 
Hỗ trợ bóng đối xung trong ĐMC từ 3 - 7 ngày 240 3,6 
Hỗ trợ bóng đối xung trong ĐMC > 7 ngày 60 0,9 
< 0,05 
Tổng 6720 100,0 
Nhận xét: một số ít bệnh nhân cần hỗ trợ tuần hoàn cơ học (p < 0,05), và thường hồi phục sớm 
sau một thời gian hỗ trợ ngắn (3 - 7 ngày). 
3.4. Kết quả điều trị tại phòng hồi sức 
* Thời gian thở máy 
Bảng 3.9. Kết quả thời gian thở máy 
Thời gian thở máy Chung P 
Tthời gian thở máy trung bình (n = 6720) 22,56 ± 30,04 
Thời gian thở máy ≤ 48 giờ 6300 (93,8%) 
Thời gian thở máy > 48 giờ 420 (6,2%) 
< 0,05 
 Nhận xét: Đa số bệnh nhân có thời gian thở máy ≤ 48 giờ (ngắn nhất 5 giờ); Một số ít bệnh nhân 
có thời gian thở máy kéo dài (dài nhất 192 giờ). 
Bảng 3.10. Kết quả thời gian điều trị tại phòng hồi sức 
Thời gian hồi sức Chung P 
Thời gian trung bình điều trị tại ICU (n = 6720) 51,16 ± 35,13 
Thời gian điều trị tại ICU ≤ 72 giờ 6240 (92,9%) 
Thời gian điều trị tại ICU > 72 giờ 480 (7,1%) 
< 0,05 
Nhận xét: Đa số bệnh nhân có thời gian hồi sức ≤ 72 giờ (ngắn nhất 18 giờ), và một số ít bệnh 
nhân có thời gian hồi sức kéo dài > 72 giờ (dài nhất 240 giờ). 
IV. BÀN LUẬN 
Mục đích của bảo vệ cơ tim trong quá trình 
phẫu thuật nhằm bảo tồn chức năng tim trong điều 
kiện tim không được cấp máu và ngừng hoạt động 
cũng như phẫu trường sạch không máu. Trước đây, 
người ta thường hạ thân nhiệt nhằm làm giảm nhu 
cầu chuyển hóa cơ tim [4]. Kỹ thuật này làm cho hạ 
nhiệt độ cơ tim, thiếu máu cơ tim và làm chậm phục 
hồi hoạt động chuyển hóa cũng như chậm phục hồi 
chức năng của cơ tim sau mổ [5]. 
Tuy nhiên, việc làm ngừng hoạt động điện 
cơ tim giúp làm giảm tiêu thụ oxy đến 90%, trong 
khi nếu làm giảm nhiệt độ cơ tim cho đến 110C 
cũng chỉ làm giảm tiêu thu oxy cơ tim một tỷ lệ 
rất thấp [6]. Đây chính là cơ sở mà nhiều nghiên 
cứu đã đưa vào sử dụng dung dịch liệt tim máu 
ấm trong quá trình phẫu thuật tim từ năm since 
1980 [7]. Kỹ thuật này đã giúp cải thiện sự hồi 
phục hoạt động chuyển hóa và chức năng cơ tim 
và tạo được niềm tin ở nhiều phẫu thuật viên tim 
mạch từ những năm đầu của thập kỷ 1990s [8]. 
Thuận lợi nổi bật của kỹ thuật này là chỉ làm pha 
loãng máu rất ít và tiết kiệm vì đây là kỹ thuật 
đơn giản không đòi hỏi những thiết bị đắt tiền 
như máy trao đổi nhiệt [9]. 
Sử dụng dung dịch liệt tim máu giúp làm 
giảm hoạt động chuyển hóa kỵ khí của cơ tim 
trong thời gian cặp động mạch chủ và vì vậy giảm 
sản xuất lactate [10]. Kỹ thuật bơm ngắt quãng 
dung dịch liệt tim máu ấm giúp bảo tồn chức 
năng tâm thu, và cải thiện đáp ứng chronotropic ở 
cả thì tâm thu và thì tâm trương [11]. 
SỬ DỤNG DUNG DỊCH LIỆT TIM MÁU ẤM ĐỂ BẢO VỆ CƠ TIM TRONG PHẪU THUẬT TIM NGƯỜI LỚN 
 11 
Tuy nhiên, sau hơn 30 năm ứng dụng, cho 
đến nay vẫn còn nhiều nghi vấn rằng dung dịch 
liệt tim máu ấm có là ưu việt hơn hay không [4]. 
Trong nghiên cứu này với số lượng bệnh nhân 
lớn (n=6720) trong 14 năm (2004-2018) đã cho 
kết quả rất khả quan. Chúng tôi sử dụng mức tăng 
phóng thích men tim troponin T để chỉ điểm tình 
trạng tổn thương cơ tim và cho thấy rằng chỉ 
điểm này đáng tin cậy hơn so với những dấu 
chứng thay đổi ECG sau mổ vì những biến đổi 
này thường là không rõ nét ở pha khởi đầu của 
các rối loạn chức năng cơ tim, không phổ biến ở 
giai đoạn sớm sau mổ. 
Trong nghiên của chúng tôi, các yếu tố 
nguy cơ phẫu thuật tim nổi bật như tỷ lệ khá cao 
bệnh nhân suy tim trước mổ NYHA III/IV 
(81.3%), tỷ lệ tăng áp phổi nặng cũng đáng kể 
(27.7%). Loại hình phẫu thuật tim phức tạp như can 
thiệp đa van tim chiếm đa số (34.7%) và thường có 
kéo dài thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể trên 120 
phút và thời gian cặp động mạch chủ trên 90 phút 
chiếm tỷ lệ đáng kể (41.3% và 40.5%). 
Chức năng thất trái giảm được xem là một 
chỉ điểm độc lập tiên lượng xảy ra biến chứng sau 
mổ. Trong nghiên cứu này số lượng bệnh nhân có 
phân suất tống máu giảm (EF < 50%) chiếm tỷ lệ 
đáng kể (32,1%), trong đó, có những bệnh nhân 
giảm chức năng tim nặng (30%; 25%; 27% và 
37% ở các thời điểm T0; T2; T8; và T24). Giá trị 
EF-TB biến thiên tăng (52,90±8,33 tăng lên 
54,51±8,91; đến 55,22±8,82; và 56,50±7,86; p < 
0,05; bảng 3.16.) cho thấy kết quả là khả quan khi sử 
dụng dung dịch liệt tim máu ấm. 
Giá trị cung lượng tim trung bình trước 
phẫu thuật thấp (CO-TBT0 = 2,53 ± 0,70 lít/phút; 
thấp nhất: 1,35 lít/phút). Biến thiên tăng CO sau 
phẫu thuật (2,53 ± 0,70 tăng lên 4,59 ± 1,14 
lít/phút; p < 0,05). Giá trị CO-TB đo ở thời điểm 
T2 là cao nhất (CO-TBT2 = 4,86 ± 1,35 lít/phút) 
nhờ những điều kiện thuận lợi như chức năng tim 
cải thiện do các thương tổn tim đã được phẫu 
thuật sửa chữa; hơn nữa, ngay sau phẫu thuật 
bệnh nhân thường được hỗ trợ các thuốc làm tăng 
co bóp tim; tác động phẫu thuật chưa ảnh hưởng 
nhiều trong điều kiện bệnh nhân thở máy được an 
thần, giảm đau tốt, tác dụng của thuốc mê còn lại 
làm giảm hoạt động chuyển hóa cơ thể. Giá trị 
CO-TB đo vào thời điểm sau phẫu thuật cải thiện 
(CO-TBT8 = 4,41 ± 1,22 so với CO-TBToff = 4,59 
± 1,14 lít/phút ; p < 0,05 ; bảng 3.10.). Chúng tôi 
ghi nhận giá trị CO-TB đo ở các thời điểm T8 và 
Toff có kết quả thấp hơn so với thời điểm T2 với lý 
do vào các thời điểm này thường bệnh nhân đã 
được cai các thuốc trợ tim; đồng thời tác động 
phẫu thuật ảnh hưởng nhiều hơn trong điều kiện 
đã cai thở máy, hết tác dụng các thuốc gây mê, an 
thần, đau sau phẫu thuật làm tăng hoạt động 
chuyển hóa cơ thể. Tuy vậy, thời điểm Toff là thời 
điểm quyết định ngừng nghiên cứu. 
Trong nghiên cứu này tỷ lệ đáng kể bệnh 
nhân phải cần kéo dài thời gian tuần hoàn ngoài 
cơ thể kéo dài ≥ 120 phút, và thời gian cặp 
động mạch chủ ≥ 90 phút (40,2% và 40,5%). 
Tuy nhiên, các dấu hiệu chỉ điểm cơ tim phục 
hồi tốt sau mở cặp động mạch chủ gồm tỷ lệ 
khử rung tim tự nhiên cao (92%) trong khi tỷ lệ 
này là thấp nếu sử dụng dung dịch liệt tim tinh 
thể như trong nghiên cứu của I. Jacquet và cộng 
sự (83.6%) [12]. Mức độ tổn thương cơ tim do 
thiếu máu là trong giới hạn cho phép (81,1% có 
tăng troponin T < 10 lần so với giá trị cơ bản). 
Sử dụng thuốc hỗ trợ co bóp tim là đáng kể tuy 
nhiên rất ít khi sử dụng liều cao (< 5% số bệnh 
nhân có sử dụng adrenaline với liều >0,2 
mcg/kg/phút) và tỷ lệ thấp cần phối hợp 3 thứ 
thuốc inotrope (10,7%). Các kết quả về thời 
gian thở máy cải thiện rút ngắn (22,56 ± 30,04 
giờ và chỉ 6,2% có thời gian thở máy >48 giờ) 
và thời gian điều trị tại ICU cải thiện rõ (51,16 
± 35,13 giờ và chỉ 7,1% có thời gian thở máy 
>48 giờ) góp phần phản ánh kết quả của 
phương pháp bảo vệ cơ tim. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 12 
V. KẾT LUẬN 
Đây là một nghiên cứu trên số lượng bệnh 
nhân rất lớn (n=6720) trong thời gian dài (14 
năm) cho thấy giảm đáng kể mức độ giải phóng 
men tim và cải thiện chức năng tim sau mổ, cải 
thiện huyết động và kết quả hồi sức sau mổ ở 
những bệnh nhân phẫu thuật tim được bảo vệ cơ 
tim bằng dung dịch liệt tim máu ấm. Phương 
pháp bảo vệ cơ tim bằng dung dịch liệt tim máu 
ấm giúp cải thiện các chỉ điểm đánh giá chức 
năng tim qua đó đạt được các kết quả lâm sàng 
tốt hơn so với sử dụng dung dịch liệt tim tinh thể. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
[1] Turer AT, Hill JA. Pathogenesis of 
myocardial ischemia-reperfusion injury and 
rationale for therapy. Am J Cardiol 
2010;106(3):360e8. 
[2] Buckberg GD, Brazier JR, Nelson RL, 
Goldstein SM, McConnell DH, Cooper N. 
Studies of the effects of hypothermia on regional 
myocardial blood flow and metabolism during 
cardiopulmonary bypass. I. The adequately 
perfused beating, fibrillating, and arrested heart. J 
Thorac Cardiovasc Surg 1977;73(1):87e94. 
[3] Feng J, Bianchi C, Li J, Sellke FW. 
Improved profile of bad phosphorylation and 
caspase 3 activation after blood versus crystalloid 
cardioplegia. Ann Thorac Surg 2004;77:1384e9. 
[4] Fan Y, Zhang A-M, Xiao Y-B, Weng 
Y-G, Hetzer R. Warm versus cold cardioplegia 
for heart surgery: a meta-analysis. Eur J 
Cardiothorac Surg 2010;37(4):912e9. 
[5] Fremes SE, Weisel RD, Mickle DA, 
Ivanov J, Madonik MM, Seawright SJ, et al. 
Myocardial metabolism and ventricular function 
following cold potassium cardioplegia. J Thorac 
Cardiovasc Surg 1985;89(4):531e46. 
[6] Brown Jr IW, Smith WW, Emmons 
WO. An efficient blood heat exchanger for use 
with extracorporeal circulation. Surgery 
1958;44(2):372e7. F.A. Mourad et al. / Journal of 
the Egyptian Society of Cardio-Thoracic Surgery 
24 (2016) 215e222 221 
[7] Calafiore AM, Teodori G, Mezzetti A, 
Bosco G, Verna AM, Di Giammarco G, et al. 
Intermittent antegrade warm blood cardioplegia. 
Ann Thorac Surg 1995;59(2):398e402. 
[8] Fremes SE, Christakis GT, Weisel RD, 
Mickle DA, Madonik MM, Ivanov J, et al. A 
clinical trial of blood and crystalloid cardioplegia. 
J Thorac Cardiovasc Surg 1984;88(5 Pt 
1):726e41. 
[9] Dar MI. Cold crystalloid versus warm 
blood cardioplegia for coronary artery bypass 
surgery. Ann Thorac Cardiovasc Surg 
2005;11(6):382e5. 
[10] Sirvinskas E, Nasvytis L, Raliene L, 
Vaskelyte J, Toleikis A, Trumbeckaite S. 
Myocardial protective effect of warm blood, tepid 
blood, and cold crystalloid cardioplegia in 
coronary artery bypass grafting surgery. Croat 
Med J 2005;46(6):879e88. 
[11] Bouchart F. Myocardial 
revascularization in patients with severe ischemic 
left ventricular dysfunction. Long term follow-up 
in 141 patients. Eur J Cardio-Thoracic Surg 
2001;20(6):1157e62. 
[12] Jacquet LM, Noirhomme PH, Van 
Dyck MJ, El Khoury GA, Matta AJ, Goenen MJ, 
et al. Randomized trial of intermittent antegrade 
warm blood versus cold crystalloid cardioplegia. 
Ann Thorac Surg 1999;67(2):471e7. 

File đính kèm:

  • pdfsu_dung_dung_dich_liet_tim_mau_am_de_bao_ve_co_tim_trong_pha.pdf