Stress và một số yếu tố liên quan ở công nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh
Đặt vấn đề: Đặc thù công việc ngành nhiệt điện có thể là yếu tố gây ra stress cho công nhân.
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ stress và một số yếu tố liên quan đến stress ở công nhân nhà máy Nhiệt điện
Duyên Hải tỉnh Trà Vinh năm 2019.
Phương pháp: Cắt ngang mô tả.
Kết quả: Tỷ lệ stress chung của công nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh là 8,3%. Tỷ lệ
stress ở nam công nhân là 9,0%; ở nữ công nhân là 2,6%.
Kết luận: Cảm nhận khó chịu với tiếng ồn ở môi trường lao động là yếu tố liên quan đến stress của công nhân
Bạn đang xem tài liệu "Stress và một số yếu tố liên quan ở công nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Stress và một số yếu tố liên quan ở công nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 160 STRESS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở CÔNG NHÂN NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH Nguyễn Thị Nga*, Lê Thị Diễm Trinh*, Lê Văn Tâm*, Nguyễn Thanh Bình* TÓM TẮT Đặt vấn đề: Đặc thù công việc ngành nhiệt điện có thể là yếu tố gây ra stress cho công nhân. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ stress và một số yếu tố liên quan đến stress ở công nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh năm 2019. Phương pháp: Cắt ngang mô tả. Kết quả: Tỷ lệ stress chung của công nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh là 8,3%. Tỷ lệ stress ở nam công nhân là 9,0%; ở nữ công nhân là 2,6%. Kết luận: Cảm nhận khó chịu với tiếng ồn ở môi trường lao động là yếu tố liên quan đến stress của công nhân. Từ khóa: stress, công nhân, nhiệt điện, SRQ20, Trà Vinh ABSTRACT STRESS AND SOME RELATED FACTORS OF THE WORKERS IN DUYEN HAI THERMAL POWER PLANT AT TRA VINH IN 2019 Nguyen Thi Nga, Le Thi Diem Trinh, Le Van Tam, Nguyen Thanh Binh * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 24 - No. 1 - 2020: 160 - 166 Background: The specific job of thermal power industry maybe risk factor of the stress. Objective: Determining the stress rate and some stress related factors in workers at Duyen Hai Thermal Power Plant in Tra Vinh province in 2019. Methods: Cross-sectional descriptive. Results: The general stress rate of workers in Duyen Hai Thermal Power Plant in Tra Vinh Province is 8.3%. The stress rate in male workers is 9.0%; in female workers is 2.6%. Conclusions: Feeling uncomfortable with noise in the working environment is a factor related to stress of workers. Keywords: stress, workers, thermal power, SRQ20, Tra Vinh ĐẶT VẤN ĐỀ Stress nghề nghiệp liên quan đến 10 căn bệnh và các tổn thương hàng đầu do nghề nghiệp. Hậu quả do stress quá mức gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người lao động, giảm năng suất lao động và thiệt hại kinh tế. Nhiều nghiên cứu đã tìm ra: stress có ảnh hưởng tới chức năng miễn dịch của cơ thể. Theo viện Stress của Mỹ, các nghiên cứu cũng tìm ra: stress làm tăng tốc độ phát triển và tăng trưởng các khối u ác tính. Nhiều nghiên cứu ở Trung Quốc cũng cho thấy, những công nhân có mức stress cao thì cơ thể sẽ giảm sự tham gia vào các hành vi an toàn(1). Stress cũng dẫn đến giảm hiệu quả công việc, giảm sự hài lòng với công việc trên giáo viên mầm non và gián tiếp làm ảnh hưởng đến tinh thần, thể chất của trẻ(2). Tỉnh Trà Vinh là một tỉnh Duyên Hải Đồng bằng Sông Cửu Long, với điều kiện tự nhiên thuận lợi và tình hình kinh tế khá phát triển (GDP năm 2012 tăng 13,5% trở lên), tỉnh đã thu hút được đầu tư và xây dựng hoàn thiện dự án Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải I, tạo việc làm cho nhiều lao động. Tính đến năm 2018, nhà *Trường Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh – Khoa Y Tế Công Cộng Tác giả liên lạc: CN. Nguyễn Thị Nga ĐT: 0981863718 Email: [email protected] Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 161 máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh đã thu hút hàng ngàn công nhân viên về làm việc. Đặc thù môi trường lao động tại đây là phải làm việc trong tâm thế cẩn thận, chu đáo, phải tập trung cao độ vào một nhiệm vụ, giám sát và điều khiển máy móc phức tạp trong thời gian dài. Đây có thể là những yếu tố nguy cơ dẫn đến stress. Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào về stress của công nhân tại nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh nói riêng. Tại Việt Nam, tuy đã có nhiều nghiên cứu về stress ở công nhân các ngành (như ngành may và chế biến thực phẩm) nhưng chưa tìm được nghiên cứu nào về stress thực hiện trên đối tượng công nhân ngành nhiệt điện. Vì vậy, nghiên cứu “Stress và một số yếu tố liên quan ở công nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh” được thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng stress và các yếu tố liên quan đến tình trạng stress ở công nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh. Kết quả từ nghiên cứu này sẽ là cơ sở cho các chương trình chăm sóc sức khỏe cho công nhân viên nhà máy góp phần nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần cũng như cải thiện chất lượng công việc và giảm thiểu các nguy cơ bất lợi do stress quá mức. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) Công nhân của nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải đã làm việc từ đủ 6 tháng Từ tháng 11/2018 đến tháng 06/2019tại nhà máy và đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chí loại ra Công nhân vắng mặt 2 lần tại thời điểm nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu cắt ngang mô tả. Cỡ mẫu n ≥ x ( ) 360 mẫu được chọn bằng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống. Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống. Biết rằng: Tổng số công nhân của Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh là 1138 người được sắp xếp theo bộ phận làm việc. Theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, khoảng cách k ở đây sẽ là: k = = 3 Chọn số ngẫu nhiên i = 3, ta sẽ có mẫu cần lấy là những người có số thứ tự trong danh sách lần lượt là: 3,6, 9, cho đến khi đủ số lượng mẫu. Sau khi chọn mẫu, những công nhân được chọn phù hợp tiêu chí chọn mẫu và đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi có cấu trúc soạn sẵn. Trong trường hợp công nhân được chọn từ chối tham gia nghiên cứu hoặc vắng mặt tại thời điểm lấy mẫu, thì sẽ bỏ qua công nhân đó và chọn bổ sung bằng công nhân có số thứ tự trong danh sách đã chọn tiếp theo thỏa mạn các tiêu chí chọn vào. Phương pháp thu thập số liệu Bộ công cụ sử dụng thang đo tự đánh giá stress SRQ-20 được xây dựng và phát triển bởi WHO (Bảng 1). Bảng 1: Bảng điểm stress theo thang đo SRQ-20 Nam ≥ 6 điểm Nữ ≥ 7 điểm KẾT QUẢ Đặc điểm xã hội của đối tượng nghiên cứu Bảng 2: Yếu tố cá nhân của đối tượng nghiên cứu Đặc tính Tần số Tỷ lệ (%) Giới: Nam Nữ 322 38 89,4 10,6 Dân tộc: Kinh Khmer Hoa Khác 286 43 17 14 79,5 11,9 4,7 3,9 Tôn giáo Phật giáo Thiên Chúa giáo Khác 100 45 215 27,8 12,5 59,7 Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 162 Đặc tính Tần số Tỷ lệ (%) Nhóm tuổi 18-29 30-49 ≥ 50 226 131 3 62,8 36,4 0,8 Tình trạng hôn nhân Độc thân Đã kết hôn Ly thân/ly dị Góa 133 216 11 0 36,9 60,0 3,1 0,0 Số con Chưa có con 1 con 2 con ≥ 3 con 183 93 83 1 50,8 25,8 23,1 0,3 Sống chung Vợ/chồng Con Cha mẹ Anh/chị/em Khác 201 136 188 63 24 55,8 37,8 52,2 17,5 6,7 Bảng 3: Yếu tố xã hội của ĐTNC Đặc tính Tần số Tỷ lệ (%) Trình độ học vấn Cấp 2 Cấp 3 Trên cấp 3 2 1 357 0,6 0,3 99,1 Thu nhập < 3.250.000 3.250.000 -6.500.000 > 6.500.000 3 43 314 0,8 11,9 87,3 Tình hình kinh tế Có dư Vừa đủ Thiếu thốn 12 308 40 3,3 85,6 11,1 Tình trạng sức khỏe Có bệnh Không bệnh Không biết 50 197 113 13,9 54,7 31,4 Thời gian giải trí Có Không 292 68 81,1 18,9 Đặc điểm công việc của ĐTNC Bảng 4: Đặc tính công việc của ĐTNC Đặc tính Tần số Tỷ lệ (%) Bộ phận làm việc Vận hành Cơ nhiệt Điện tự động Hóa chất Sửa chữa Nhiên liệu Hành chính 72 75 38 36 16 69 54 20,0 20,8 10,6 10,0 4,4 19,2 15,0 Phân công việc Rõ ràng 354 98,3 Đặc tính Tần số Tỷ lệ (%) Mơ hồ 6 1,7 Xung đột Với cấp trên Với đồng nghiệp 9 54 2,5 15,0 Đặc điểm công việc Trực đêm Tăng ca Quá tải MT không an toàn Hỗ trợ công việc 39 47 25 8 355 10,8 13,1 6,9 2,2 98,6 Cảm nhận công việc Yêu thích Cơ hội Lương phù hợp 135 86 139 37,5 23,9 38,6 Thâm niên < 5 năm 5 - <10 năm ≥ 10 năm 247 93 20 68,6 25,8 5,6 Thời gian làm việc ≤ 8h/ngày > 8h/ngày 343 17 95,3 4,7 Thời gian làm việc ≤ 6 ngày/tuần > 6 ngày/tuần 360 0 100,0 0,0 Môi trường LĐ Bụi Tiếng ồn Điện Hóa chất Nhiệt, nóng 79 99 7 15 47 21,9 27,5 1,9 4,2 13,7 Bảng 5: Stress theo thang đo SRQ-20 Đặc tính Tần số Tỷ lệ (%) Stress chung 30 8,3% Stress ở nam CN 29 9,0 % Stress ở nữ CN 1 2,6% Bảng 6: Ảnh hưởng của stress theo SRQ-20 Biểu hiện Tần số Tỷ lệ (%) Thần kinh 30 100,0 Tiêu hóa 29 96,7 Cảm xúc 24 80 Quyết định 19 63,3 Ứng phó với stress theo chiều hướng tiêu cực 30 100,0 Các yếu tố liên quan đến stress của ĐTNC Bảng 7: Các yếu tố cá nhân liên quan đến stress của ĐTNC Đặc tính Giá trị p PR (KTC 95%) Sức khỏe Có bệnh Không bệnh Không biết < 0,001 1 0,13 (0,024-0,67) 2,65 (0,97-7,26) Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 163 Đặc tính Giá trị p PR (KTC 95%) Kinh tế Thiếu thốn Vừa đủ Có dư 0,001* 1 0,23 (0,08 – 0,69) 0,9 (0,29 – 2,81) Tăng ca Không Có <0,001* 1 5,1 (2,65- 9,79) Tham gia giải trí Không Có <0,001 1 0,2 (0,10-0,40) Xung đột Không Có <0,001* 1 8,5 (4,35-16,62) Bảng 8: Các yếu tố cảm nhận khó chịu về môi trường lao động (MTLĐ) liên quan đến stress Đặc tính Giá trị p PR (KTC 95%) Tiếng ồn Không Có <0,001 1 36,91(8,96-152,05) Bụi Không Có <0,001 1 5,33 (2,69-10,60) Điện, điện từ Không Có <0,001* 1 10,1 (5,52-18,41) Nhiệt, nóng Không Có 0,009* 1 2,85 (1,39-5,85) Bảng 9: Mô hình hồi quy đa biến các yếu tố liên quan đến stress của ĐTNC Đặc tính Coef Giá trị p KTC 95% Tiếng ồn 3,08 0,013 1,59 - 4,57 BÀN LUẬN Đặc điểm xã hội cuả ĐTNC Đặc điểm dân số xã hội của công nhân Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh cho thấy quần thể nghiên cứu có những đặc điểm gần như tương tự với quần thể chung của xã hội. Qua đó, tác động từ các yếu tố này lên tình trạng stress của công nhân cũng sẽ không khác biệt lớn so với quần thể chung. Cụ thể: - Phần lớn công nhân làm việc tại Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải là nam (89,4%). Theo khách quan có thể thấy rằng, ngành điện, nhiệt điện là ngành được nam giới yêu thích hơn và có đam mê theo đuổi hơn và điều này cũng phù hợp với đặc thù công việc của ngành nhiệt điện. - Trình độ học vấn trên cấp 3 là 99,1%; cho thấy trình độ học vấn của công nhân nhà máy nhiệt điện ở mức cao. Điều này được giải thích là đặc thù công việc và yêu cầu tuyển dụng của Nhà máy. Ở nước ngoài, yêu cầu về học vấn tối thiểu đối với công nhân nhà máy điện là cần có ít nhất một bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, được kiểm tra lý lịch cá nhân và khả năng sử dụng các chất gây nghiện như ma túy hoặc rượu trước khi nhận vào làm việc. Đặc điểm công việc của ĐTNC Thâm niên làm việc của công nhân chủ yếu là dưới 5 năm (68,6%), kết quả này cũng là hợp lý khi độ tuổi của dân số nghiên cứu chiếm tỷ lệ cao nhất chủ yếu ở khoảng 18-29 tuổi (62,8%), nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh cũng mới hoàn thành xây dựng và chính thức đi vào hoạt động từ năm 2015, điều này thu hút được lực lượng lao động trẻ mới tốt nghiệp hay có thể là những lao động với tuổi nghề còn ít chưa ổn định được địa điểm công tác. Trong toàn bộ mẫu nghiên cứu có 37,5% công nhân cho biết mình yêu thích công việc hiện tại; 23,9% công nhân cảm thấy rằng công việc đang làm có cơ hội thăng tiến và 38,6% công nhân cảm thấy mức lương được trả là phù hợp. Kết quả này phù hợp với kết quả trong nghiên cứu về stress trên đối tượng điều dưỡng tại bệnh viện Trung ương Đồng Nai (27,2% điều dưỡng yêu thích công việc; 27,9% điều dưỡng cảm thấy công việc có cơ hội thăng tiến; 41,7% điều dưỡng cho rằng lương phù hợp)(3). Bên cạnh đó, công nhân thường xuyên tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí do công ty tổ chức chiếm tỷ lệ cao (81,1%), kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương (79,4%)(3) và nghiên cứu trên đối tượng hộ sinh của Phạm Quốc Hùng (77,5%)(4). Quản lý tốt thời gian, cân bằng giữa thời gian làm việc và thời gian giải trí có thể là yếu tố bảo vệ giúp con người thích nghi với các tình huống stress. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 164 Stress của công nhân theo thang đo SRQ-20 Trong nghiên cứu này tỷ lệ stress chung của công nhân nhà máy là 8,3% theo thang đo đánh giá lo âu, trầm cảm SRQ-20, lấy điểm cắt từ 6 điểm trở lên ở nam và từ 7 điểm trở lên ở nữ. Tỷ lệ stress của công nhân làm việc tại nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh thấp hơn so với tỷ lệ stress của công nhân ở các ngành may (tỷ lệ stress là 71% theo nghiên cứu của tác giả Trịnh Hồng Lân năm 2008)(5), ngành giày da (tỷ lệ stress lần lượt là 26,9% và 20,7% theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thùy Dương năm 2017 tại Bình Dương(6) và Nguyễn Thị Thùy Linh năm 2012 tại Hải Phòng(7), các khu chế xuất thực phẩm (tỷ lệ stress 77% theo nghiên cứu của tác giả Đào Thị Duy Duyên năm 2010 tại Thành phố Hồ Chí Minh(8) hay trong các doanh nghiệp tư nhân tại Hà Nội theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hường là 67,2%(9). Tỷ lệ stress ở công nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh cũng thấp hơn tỷ lệ stress ở đối tượng là điều dưỡng trong bệnh viện theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương(3). Tuy nhiên, tỷ lệ stress này cao hơn tỷ lệ stress ở công nhân xi măng chifon Hải Phòng theo nghiên cứu của tác giả Phạm Tuấn Việt là 2,6%(10). Sự khác biệt về tỷ lệ stress này có thể là do sự khác biệt về dân số nghiên cứu, thời gian nghiên cứu, địa điểm nghiên cứu, kỹ thuật chọn mẫu, phương pháp nghiên cứu hay do công cụ đánh giá stress khác nhau. Các yếu tố liên quan đến stress của ĐTNC Nghiên cứu tìm thấy MLQ có ý nghĩa thống kê giữa stress với cảm nhận kinh tế và tình trạng sức khỏe của công nhân. Tình trạng sức khỏe trong phạm vi nghiên cứu được tìm hiểu qua cảm nhận khách quan của đối tượng chứ không được tìm hiểu qua việc thăm khám của nhân viên y tế. Qua đó, phản ánh chính xác được cảm nhận của đối tượng về sức khỏe của bản thân họ. MLQ giữa stress và tình trạng sức khỏe cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Đặng Khánh Hiệp trên đối tượng là giáo viên(11) và trên đối tượng công nhân trong các khu chế xuất thực phẩm của Đào Thị Duy Duyên(8). Những công nhân phải làm việc tăng ca thì có PR stress cao hơn và gấp 5,1 lần so với những công nhân không phải làm việc tăng ca. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <0,001), đồng thời tương đồng với kết quả trong nghiên cứu của Đào Thị Duy Duyên trên đối tượng công nhân may(8) và trên đối tượng điều dưỡng trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương(3). Những công nhân không thường xuyên tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí thì có PR stress cao gấp 5 lần so với những công nhân thường xuyên tham gia. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p=0,001). Đặc thù công việc của công nhân nhà máy nhiệt điện là phải làm việc tập trung, chú ý giám sát máy móc trong thời gian dài và thường xuyên, vì vậy, việc tham gia các hoạt động giải trí giúp họ có thời gian rời xa công việc, nhằm làm giảm áp lực và những căng thẳng do công việc gây ra. Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Trịnh Hồng Lân rằng tham gia và dành thời gian tham gia các hoạt động giải trí là yếu tố bảo vệ khỏi nguy cơ bị stress(5) và phù hợp với hướng dẫn quản lý stress của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kì. Kết quả của nghiên cứu tìm thấy có MLQ có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ stress của công nhân nhà máy và cảm nhận khó chịu với bụi; tiếng ồn; điện, điện từ trường; nhiệt, nóng trong MTLĐ. Kết quả này tương đồng với kết quả trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hường về tình trạng stress của công nhân may và cảm giác khó chịu với bụi, tiếng ồn, nhiệt, nóng trong môi trường lao động (MTLĐ)(9). Đồng thời, kết quả này cũng phù hợp với nhiều cơ sở y văn và kết quả của các nghiên cứu trước. Cũng giống như cảm nhận về MTLĐ không an toàn, cảm nhận khó chịu với các yếu tố trong MTLĐ cũng vậy. Phải làm việc khi môi trường có chưa các yếu tố có thể gây bệnh đối với công nhân là điều thực sự không thoải mái. KẾT LUẬN Qua thực hiện nghiên cứu trên 360 công nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 165 Vinh bằng nghiên cứu cắt ngang mô tả. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy: Yếu tố về cá nhân và xã hội Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa cảm nhận về kinh tế, tình trạng sức khỏe với tình trạng stress của công nhân (p <0,05). Những công nhân có cảm nhận kinh tế thiếu thốn thì có PR stress cao gấp hơn 4 lần so với những công nhân cảm nhận kinh tế vừa đủ. Những công nhân cho biết tình trạng sức khỏe có bệnh thì có PR stress cao hơn gấp hơn 7 lần so với những công nhân cho biết tình trạng sức khỏe không có bệnh. Yếu tố về nghề nghiệp Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa việc thường xuyên tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí và stress của công nhân (p <0,05). Những công nhân không thường xuyên tham gia hoạt động giải trí có PR stress cao hơn gấp 5 lần so với những công nhân thường xuyên tham gia hoạt động giải trí. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa bộ phận làm việc và stress của công nhân (p <0,001). Những công nhân làm việc ở bộ phận vận hành có PR stress cao hơn gấp nhiều lần công nhân làm việc ở các bộ phận: hóa chất, sửa chữa và cung cấp nhiên liệu. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa yếu tố xung đột với đồng nghiệp, làm việc tăng ca và stress của công nhân (p <0,05). Những công nhân từng có xung đột với đồng nghiệp có PR stress cao gấp 8,5 lần công nhân không có xung đột với đồng nghiệp. Những công nhân phải làm việc tăng ca có PR stress cao gấp 5,1 lần những công nhân không phải làm việc tăng ca. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa cảm nhận khó chịu với các yếu tố: bụi, tiếng ồn, điện, điện từ trường và nhiệt nóng trong môi trường lao động và stress của công nhân (p <0,05). Những công nhân có cảm nhận khó chịu với các yếu tố trong môi trường lao động có PR stress cao hơn gấp nhiều lần những công nhân không có cảm nhận khó chịu. Trong đó, có khó chịu với bụi thì PR stress cao hơn gấp 5,3 lần; có khó chịu với tiếng ồn thì PR stress cao hơn gấp 36 lần; có khó chịu với điện thì PR stress cao hơn gấp 10 lần; có khó chịu với nhiệt nóng thì PR stress cao hơn gấp 2,85 lần. ĐỀ XUẤT Bản thân công nhân Tích cực rèn luyện sức khỏe, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp. Ban quản lý nhà máy Quan tâm hơn nữa đến vấn đề sức khỏe tinh thần của công nhân, tích cực tổ chức, vận động công nhân tham gia hoạt động giải trí, xem xét mở phòng chăm sóc và tư vấn tâm lý cho công nhân tại nhà máy. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Wang X (2018). "How safety- related stress affects worker's safety behavior: The moderating role of psychological capital". Google scholar, 103:247-259. 2. Lê Thị Hương (2013). Stress trong công việc của giáo viên mầm non hiện nay. Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, Đại Học Quốc Gia Hà Nội Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn. 3. Nguyễn Thị Thanh Hương (2018). Stress và các yếu tố liên quan ở Điều dưỡng Bệnh viện Tâm thần trung ương 2 Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Đề tài tốt nghiệp khối Bác sĩ Y học dự phòng, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. 4. Phạm Quốc Hùng (2015). Stress và những yếu tố liên quan ở hộ sinh làm việc tại Bệnh viện Hùng Vương TP. Hồ Chí Minh. Luận án Chuyên khoa cấp 2, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. 5. Trịnh Hồng Lân (2007). "Stress nghề nghiệp ở công nhân ngành may công nghiệp". Y học Thành Phố Hồ Chí Minh, 14(1):217-221. 6. Nguyễn Thị Thùy Dương, Vương Thuận An, Lê Thị Xuân Quỳnh (2017). Stress và các yếu tố liên quan ở công nhân một công ty giày da thuộc tỉnh Bình Dương. Viện khoa học An toàn và Vệ sinh lao động, pp.50. 7. Nguyễn Thị Thùy Linh (2014) "Một số yếu tố liên quan đến căng thẳng nghề nghiệp trên công nhân xí nghiệp giày da Lê Lai II, Hải Phòng năm 2012". Y học Dự phòng, 24(9):52. 8. Đào Thị Duy Duyên (2010). Vấn đề stress của công nhân ở một số khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, Trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 9. Nguyễn Thị Hường (2014). Stress nghề nghiệp của người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội. Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 166 10. Phạm Tuấn Việt (2014). Trầm cảm và một số yếu tố liên quan trên công nhân xi măng chifon Hải Phòng năm 2014. Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng, tr. 47. 11. Đặng Khánh Hiệp (2018). Stress và các yếu tố liên quan ở giáo viên các trường THPT Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai. Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Y học Dự Phòng, Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày nhận bài báo: 02/10/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 06/12/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2020
File đính kèm:
stress_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_o_cong_nhan_nha_may_nhiet.pdf

