Stress và một số yếu tố liên quan ở công nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh

Đặt vấn đề: Đặc thù công việc ngành nhiệt điện có thể là yếu tố gây ra stress cho công nhân.

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ stress và một số yếu tố liên quan đến stress ở công nhân nhà máy Nhiệt điện

Duyên Hải tỉnh Trà Vinh năm 2019.

Phương pháp: Cắt ngang mô tả.

Kết quả: Tỷ lệ stress chung của công nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh là 8,3%. Tỷ lệ

stress ở nam công nhân là 9,0%; ở nữ công nhân là 2,6%.

Kết luận: Cảm nhận khó chịu với tiếng ồn ở môi trường lao động là yếu tố liên quan đến stress của công nhân

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Stress và một số yếu tố liên quan ở công nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Stress và một số yếu tố liên quan ở công nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh

Stress và một số yếu tố liên quan ở công nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 160 
STRESS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN 
Ở CÔNG NHÂN NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH 
Nguyễn Thị Nga*, Lê Thị Diễm Trinh*, Lê Văn Tâm*, Nguyễn Thanh Bình* 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Đặc thù công việc ngành nhiệt điện có thể là yếu tố gây ra stress cho công nhân. 
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ stress và một số yếu tố liên quan đến stress ở công nhân nhà máy Nhiệt điện 
Duyên Hải tỉnh Trà Vinh năm 2019. 
Phương pháp: Cắt ngang mô tả. 
Kết quả: Tỷ lệ stress chung của công nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh là 8,3%. Tỷ lệ 
stress ở nam công nhân là 9,0%; ở nữ công nhân là 2,6%. 
Kết luận: Cảm nhận khó chịu với tiếng ồn ở môi trường lao động là yếu tố liên quan đến stress của công nhân. 
Từ khóa: stress, công nhân, nhiệt điện, SRQ20, Trà Vinh 
ABSTRACT 
STRESS AND SOME RELATED FACTORS OF THE WORKERS 
IN DUYEN HAI THERMAL POWER PLANT AT TRA VINH IN 2019 
Nguyen Thi Nga, Le Thi Diem Trinh, Le Van Tam, Nguyen Thanh Binh 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 24 - No. 1 - 2020: 160 - 166 
Background: The specific job of thermal power industry maybe risk factor of the stress. 
Objective: Determining the stress rate and some stress related factors in workers at Duyen Hai Thermal 
Power Plant in Tra Vinh province in 2019. 
Methods: Cross-sectional descriptive. 
Results: The general stress rate of workers in Duyen Hai Thermal Power Plant in Tra Vinh Province is 
8.3%. The stress rate in male workers is 9.0%; in female workers is 2.6%. 
Conclusions: Feeling uncomfortable with noise in the working environment is a factor related to stress of workers. 
Keywords: stress, workers, thermal power, SRQ20, Tra Vinh 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Stress nghề nghiệp liên quan đến 10 căn 
bệnh và các tổn thương hàng đầu do nghề 
nghiệp. Hậu quả do stress quá mức gây ra ảnh 
hưởng không nhỏ đến sức khỏe người lao động, 
giảm năng suất lao động và thiệt hại kinh tế. 
Nhiều nghiên cứu đã tìm ra: stress có ảnh hưởng 
tới chức năng miễn dịch của cơ thể. Theo viện 
Stress của Mỹ, các nghiên cứu cũng tìm ra: stress 
làm tăng tốc độ phát triển và tăng trưởng các 
khối u ác tính. Nhiều nghiên cứu ở Trung Quốc 
cũng cho thấy, những công nhân có mức stress 
cao thì cơ thể sẽ giảm sự tham gia vào các hành 
vi an toàn(1). Stress cũng dẫn đến giảm hiệu quả 
công việc, giảm sự hài lòng với công việc trên 
giáo viên mầm non và gián tiếp làm ảnh hưởng 
đến tinh thần, thể chất của trẻ(2). 
Tỉnh Trà Vinh là một tỉnh Duyên Hải Đồng 
bằng Sông Cửu Long, với điều kiện tự nhiên 
thuận lợi và tình hình kinh tế khá phát triển 
(GDP năm 2012 tăng 13,5% trở lên), tỉnh đã thu 
hút được đầu tư và xây dựng hoàn thiện dự án 
Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải I, tạo việc làm 
cho nhiều lao động. Tính đến năm 2018, nhà 
*Trường Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh – Khoa Y Tế Công Cộng 
Tác giả liên lạc: CN. Nguyễn Thị Nga ĐT: 0981863718 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 161 
máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh đã thu 
hút hàng ngàn công nhân viên về làm việc. Đặc 
thù môi trường lao động tại đây là phải làm việc 
trong tâm thế cẩn thận, chu đáo, phải tập trung 
cao độ vào một nhiệm vụ, giám sát và điều 
khiển máy móc phức tạp trong thời gian dài. 
Đây có thể là những yếu tố nguy cơ dẫn đến 
stress. Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào về 
stress của công nhân tại nhà máy Nhiệt điện 
Duyên Hải tỉnh Trà Vinh nói riêng. Tại Việt 
Nam, tuy đã có nhiều nghiên cứu về stress ở 
công nhân các ngành (như ngành may và chế 
biến thực phẩm) nhưng chưa tìm được nghiên 
cứu nào về stress thực hiện trên đối tượng công 
nhân ngành nhiệt điện. 
Vì vậy, nghiên cứu “Stress và một số yếu tố 
liên quan ở công nhân nhà máy Nhiệt điện 
Duyên Hải tỉnh Trà Vinh” được thực hiện nhằm 
tìm hiểu thực trạng stress và các yếu tố liên quan 
đến tình trạng stress ở công nhân nhà máy Nhiệt 
điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh. Kết quả từ 
nghiên cứu này sẽ là cơ sở cho các chương trình 
chăm sóc sức khỏe cho công nhân viên nhà máy 
góp phần nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần 
cũng như cải thiện chất lượng công việc và giảm 
thiểu các nguy cơ bất lợi do stress quá mức. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) 
Công nhân của nhà máy Nhiệt điện Duyên 
Hải đã làm việc từ đủ 6 tháng Từ tháng 11/2018 
đến tháng 06/2019tại nhà máy và đồng ý tham 
gia nghiên cứu. 
Tiêu chí loại ra 
Công nhân vắng mặt 2 lần tại thời điểm 
nghiên cứu. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu cắt ngang mô tả. 
Cỡ mẫu 
n ≥ 



 x 
()

360 mẫu được chọn bằng kỹ thuật chọn mẫu 
ngẫu nhiên hệ thống. 
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu 
nhiên hệ thống. Biết rằng: 
Tổng số công nhân của Nhà máy Nhiệt điện 
Duyên Hải tỉnh Trà Vinh là 1138 người được sắp 
xếp theo bộ phận làm việc. Theo phương pháp 
chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, khoảng cách k ở 
đây sẽ là: 
k = 


 = 3 
Chọn số ngẫu nhiên i = 3, ta sẽ có mẫu cần 
lấy là những người có số thứ tự trong danh 
sách lần lượt là: 3,6, 9, cho đến khi đủ số 
lượng mẫu. 
Sau khi chọn mẫu, những công nhân được 
chọn phù hợp tiêu chí chọn mẫu và đồng ý tham 
gia nghiên cứu sẽ được phỏng vấn bằng bộ câu 
hỏi có cấu trúc soạn sẵn. 
Trong trường hợp công nhân được chọn từ 
chối tham gia nghiên cứu hoặc vắng mặt tại thời 
điểm lấy mẫu, thì sẽ bỏ qua công nhân đó và 
chọn bổ sung bằng công nhân có số thứ tự trong 
danh sách đã chọn tiếp theo thỏa mạn các tiêu 
chí chọn vào. 
Phương pháp thu thập số liệu 
Bộ công cụ sử dụng thang đo tự đánh giá 
stress SRQ-20 được xây dựng và phát triển bởi 
WHO (Bảng 1). 
Bảng 1: Bảng điểm stress theo thang đo SRQ-20 
Nam ≥ 6 điểm 
Nữ ≥ 7 điểm 
KẾT QUẢ 
Đặc điểm xã hội của đối tượng nghiên cứu 
Bảng 2: Yếu tố cá nhân của đối tượng nghiên cứu 
Đặc tính Tần số Tỷ lệ (%) 
Giới: 
Nam 
Nữ 
322 
38 
89,4 
10,6 
Dân tộc: 
Kinh 
Khmer 
Hoa 
Khác 
286 
43 
17 
14 
79,5 
11,9 
4,7 
3,9 
Tôn giáo 
Phật giáo 
Thiên Chúa giáo 
Khác 
100 
45 
215 
27,8 
12,5 
59,7 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 162 
Đặc tính Tần số Tỷ lệ (%) 
Nhóm tuổi 
18-29 
30-49 
≥ 50 
226 
131 
3 
62,8 
36,4 
0,8 
Tình trạng hôn nhân 
Độc thân 
Đã kết hôn 
Ly thân/ly dị 
Góa 
133 
216 
11 
0 
36,9 
60,0 
3,1 
0,0 
Số con 
Chưa có con 
1 con 
2 con 
≥ 3 con 
183 
93 
83 
1 
50,8 
25,8 
23,1 
0,3 
Sống chung 
Vợ/chồng 
Con 
Cha mẹ 
Anh/chị/em 
Khác 
201 
136 
188 
63 
24 
55,8 
37,8 
52,2 
17,5 
6,7 
Bảng 3: Yếu tố xã hội của ĐTNC 
Đặc tính Tần số Tỷ lệ (%) 
Trình độ học vấn 
Cấp 2 
Cấp 3 
Trên cấp 3 
2 
1 
357 
0,6 
0,3 
99,1 
Thu nhập 
< 3.250.000 
3.250.000 -6.500.000 
> 6.500.000 
3 
43 
314 
0,8 
11,9 
87,3 
Tình hình kinh tế 
Có dư 
Vừa đủ 
Thiếu thốn 
12 
308 
40 
3,3 
85,6 
11,1 
Tình trạng sức khỏe 
Có bệnh 
Không bệnh 
Không biết 
50 
197 
113 
13,9 
54,7 
31,4 
Thời gian giải trí 
Có 
Không 
292 
68 
81,1 
18,9 
Đặc điểm công việc của ĐTNC 
Bảng 4: Đặc tính công việc của ĐTNC 
Đặc tính Tần số Tỷ lệ (%) 
Bộ phận làm việc 
Vận hành 
Cơ nhiệt 
Điện tự động 
Hóa chất 
Sửa chữa 
Nhiên liệu 
Hành chính 
72 
75 
38 
36 
16 
69 
54 
20,0 
20,8 
10,6 
10,0 
4,4 
19,2 
15,0 
Phân công việc 
Rõ ràng 
354 
98,3 
Đặc tính Tần số Tỷ lệ (%) 
Mơ hồ 6 1,7 
Xung đột 
Với cấp trên 
Với đồng nghiệp 
9 
54 
2,5 
15,0 
Đặc điểm công việc 
Trực đêm 
Tăng ca 
Quá tải 
MT không an toàn 
Hỗ trợ công việc 
39 
47 
25 
8 
355 
10,8 
13,1 
6,9 
2,2 
98,6 
Cảm nhận công việc 
Yêu thích 
Cơ hội 
Lương phù hợp 
135 
86 
139 
37,5 
23,9 
38,6 
Thâm niên 
< 5 năm 
5 - <10 năm 
≥ 10 năm 
247 
93 
20 
68,6 
25,8 
5,6 
Thời gian làm việc 
≤ 8h/ngày 
> 8h/ngày 
343 
17 
95,3 
4,7 
Thời gian làm việc 
≤ 6 ngày/tuần 
 > 6 ngày/tuần 
360 
0 
100,0 
0,0 
Môi trường LĐ 
Bụi 
Tiếng ồn 
Điện 
Hóa chất 
Nhiệt, nóng 
79 
99 
7 
15 
47 
21,9 
27,5 
1,9 
4,2 
13,7 
Bảng 5: Stress theo thang đo SRQ-20 
Đặc tính Tần số Tỷ lệ (%) 
Stress chung 30 8,3% 
Stress ở nam CN 29 9,0 % 
Stress ở nữ CN 1 2,6% 
Bảng 6: Ảnh hưởng của stress theo SRQ-20 
Biểu hiện Tần số Tỷ lệ (%) 
Thần kinh 30 100,0 
Tiêu hóa 29 96,7 
Cảm xúc 24 80 
Quyết định 19 63,3 
Ứng phó với stress theo chiều 
hướng tiêu cực 
30 100,0 
Các yếu tố liên quan đến stress của ĐTNC 
Bảng 7: Các yếu tố cá nhân liên quan đến stress của 
ĐTNC 
Đặc tính Giá trị p PR (KTC 95%) 
Sức khỏe 
Có bệnh 
Không bệnh 
Không biết 
< 0,001 
1 
0,13 (0,024-0,67) 
2,65 (0,97-7,26) 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 163 
Đặc tính Giá trị p PR (KTC 95%) 
Kinh tế 
Thiếu thốn 
Vừa đủ 
Có dư 
0,001* 
1 
0,23 (0,08 – 0,69) 
0,9 (0,29 – 2,81) 
Tăng ca 
Không 
Có 
<0,001* 
1 
5,1 (2,65- 9,79) 
Tham gia giải trí 
Không 
Có 
<0,001 
1 
0,2 (0,10-0,40) 
Xung đột 
Không 
Có 
<0,001* 
1 
8,5 (4,35-16,62) 
Bảng 8: Các yếu tố cảm nhận khó chịu về môi trường 
lao động (MTLĐ) liên quan đến stress 
Đặc tính Giá trị p PR (KTC 95%) 
Tiếng ồn 
Không 
Có 
<0,001 
1 
36,91(8,96-152,05) 
Bụi 
Không 
Có 
<0,001 
1 
5,33 (2,69-10,60) 
Điện, điện từ 
Không 
Có 
<0,001* 
1 
10,1 (5,52-18,41) 
Nhiệt, nóng 
Không 
Có 
0,009* 
1 
2,85 (1,39-5,85) 
Bảng 9: Mô hình hồi quy đa biến các yếu tố liên quan 
đến stress của ĐTNC 
Đặc tính Coef Giá trị p KTC 95% 
Tiếng ồn 3,08 0,013 1,59 - 4,57 
BÀN LUẬN 
Đặc điểm xã hội cuả ĐTNC 
Đặc điểm dân số xã hội của công nhân Nhà 
máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh cho 
thấy quần thể nghiên cứu có những đặc điểm 
gần như tương tự với quần thể chung của xã hội. 
Qua đó, tác động từ các yếu tố này lên tình trạng 
stress của công nhân cũng sẽ không khác biệt lớn 
so với quần thể chung. Cụ thể: 
- Phần lớn công nhân làm việc tại Nhà máy 
Nhiệt điện Duyên Hải là nam (89,4%). Theo 
khách quan có thể thấy rằng, ngành điện, nhiệt 
điện là ngành được nam giới yêu thích hơn và có 
đam mê theo đuổi hơn và điều này cũng phù 
hợp với đặc thù công việc của ngành nhiệt điện. 
- Trình độ học vấn trên cấp 3 là 99,1%; cho 
thấy trình độ học vấn của công nhân nhà máy 
nhiệt điện ở mức cao. Điều này được giải thích là 
đặc thù công việc và yêu cầu tuyển dụng của 
Nhà máy. Ở nước ngoài, yêu cầu về học vấn tối 
thiểu đối với công nhân nhà máy điện là cần có 
ít nhất một bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, 
được kiểm tra lý lịch cá nhân và khả năng sử 
dụng các chất gây nghiện như ma túy hoặc rượu 
trước khi nhận vào làm việc. 
Đặc điểm công việc của ĐTNC 
Thâm niên làm việc của công nhân chủ yếu 
là dưới 5 năm (68,6%), kết quả này cũng là hợp 
lý khi độ tuổi của dân số nghiên cứu chiếm tỷ lệ 
cao nhất chủ yếu ở khoảng 18-29 tuổi (62,8%), 
nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh 
cũng mới hoàn thành xây dựng và chính thức đi 
vào hoạt động từ năm 2015, điều này thu hút 
được lực lượng lao động trẻ mới tốt nghiệp hay 
có thể là những lao động với tuổi nghề còn ít 
chưa ổn định được địa điểm công tác. 
Trong toàn bộ mẫu nghiên cứu có 37,5% 
công nhân cho biết mình yêu thích công việc 
hiện tại; 23,9% công nhân cảm thấy rằng công 
việc đang làm có cơ hội thăng tiến và 38,6% công 
nhân cảm thấy mức lương được trả là phù hợp. 
Kết quả này phù hợp với kết quả trong nghiên 
cứu về stress trên đối tượng điều dưỡng tại bệnh 
viện Trung ương Đồng Nai (27,2% điều dưỡng 
yêu thích công việc; 27,9% điều dưỡng cảm thấy 
công việc có cơ hội thăng tiến; 41,7% điều dưỡng 
cho rằng lương phù hợp)(3). 
Bên cạnh đó, công nhân thường xuyên tham 
gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí do công ty 
tổ chức chiếm tỷ lệ cao (81,1%), kết quả này phù 
hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh 
Hương (79,4%)(3) và nghiên cứu trên đối tượng 
hộ sinh của Phạm Quốc Hùng (77,5%)(4). Quản lý 
tốt thời gian, cân bằng giữa thời gian làm việc và 
thời gian giải trí có thể là yếu tố bảo vệ giúp con 
người thích nghi với các tình huống stress. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 164 
Stress của công nhân theo thang đo SRQ-20 
Trong nghiên cứu này tỷ lệ stress chung của 
công nhân nhà máy là 8,3% theo thang đo đánh 
giá lo âu, trầm cảm SRQ-20, lấy điểm cắt từ 6 
điểm trở lên ở nam và từ 7 điểm trở lên ở nữ. 
Tỷ lệ stress của công nhân làm việc tại nhà 
máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh thấp 
hơn so với tỷ lệ stress của công nhân ở các ngành 
may (tỷ lệ stress là 71% theo nghiên cứu của tác 
giả Trịnh Hồng Lân năm 2008)(5), ngành giày da 
(tỷ lệ stress lần lượt là 26,9% và 20,7% theo 
nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thùy Dương 
năm 2017 tại Bình Dương(6) và Nguyễn Thị Thùy 
Linh năm 2012 tại Hải Phòng(7), các khu chế xuất 
thực phẩm (tỷ lệ stress 77% theo nghiên cứu của 
tác giả Đào Thị Duy Duyên năm 2010 tại Thành 
phố Hồ Chí Minh(8) hay trong các doanh nghiệp 
tư nhân tại Hà Nội theo nghiên cứu của tác giả 
Nguyễn Thị Hường là 67,2%(9). Tỷ lệ stress ở 
công nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh 
Trà Vinh cũng thấp hơn tỷ lệ stress ở đối tượng 
là điều dưỡng trong bệnh viện theo nghiên cứu 
của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương(3). Tuy 
nhiên, tỷ lệ stress này cao hơn tỷ lệ stress ở công 
nhân xi măng chifon Hải Phòng theo nghiên cứu 
của tác giả Phạm Tuấn Việt là 2,6%(10). Sự khác 
biệt về tỷ lệ stress này có thể là do sự khác biệt 
về dân số nghiên cứu, thời gian nghiên cứu, địa 
điểm nghiên cứu, kỹ thuật chọn mẫu, phương 
pháp nghiên cứu hay do công cụ đánh giá stress 
khác nhau. 
Các yếu tố liên quan đến stress của ĐTNC 
Nghiên cứu tìm thấy MLQ có ý nghĩa thống 
kê giữa stress với cảm nhận kinh tế và tình trạng 
sức khỏe của công nhân. Tình trạng sức khỏe 
trong phạm vi nghiên cứu được tìm hiểu qua 
cảm nhận khách quan của đối tượng chứ không 
được tìm hiểu qua việc thăm khám của nhân 
viên y tế. Qua đó, phản ánh chính xác được cảm 
nhận của đối tượng về sức khỏe của bản thân họ. 
MLQ giữa stress và tình trạng sức khỏe cũng 
được tìm thấy trong nghiên cứu của Đặng 
Khánh Hiệp trên đối tượng là giáo viên(11) và trên 
đối tượng công nhân trong các khu chế xuất thực 
phẩm của Đào Thị Duy Duyên(8). Những công 
nhân phải làm việc tăng ca thì có PR stress cao 
hơn và gấp 5,1 lần so với những công nhân 
không phải làm việc tăng ca. Sự khác biệt này có 
ý nghĩa thống kê (p <0,001), đồng thời tương 
đồng với kết quả trong nghiên cứu của Đào Thị 
Duy Duyên trên đối tượng công nhân may(8) và 
trên đối tượng điều dưỡng trong nghiên cứu của 
Nguyễn Thị Thanh Hương(3). Những công nhân 
không thường xuyên tham gia các hoạt động vui 
chơi, giải trí thì có PR stress cao gấp 5 lần so với 
những công nhân thường xuyên tham gia. Sự 
khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p=0,001). Đặc 
thù công việc của công nhân nhà máy nhiệt điện 
là phải làm việc tập trung, chú ý giám sát máy 
móc trong thời gian dài và thường xuyên, vì vậy, 
việc tham gia các hoạt động giải trí giúp họ có 
thời gian rời xa công việc, nhằm làm giảm áp lực 
và những căng thẳng do công việc gây ra. Kết 
quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của 
tác giả Trịnh Hồng Lân rằng tham gia và dành 
thời gian tham gia các hoạt động giải trí là yếu tố 
bảo vệ khỏi nguy cơ bị stress(5) và phù hợp với 
hướng dẫn quản lý stress của Hiệp hội Tâm lý 
Hoa Kì. 
Kết quả của nghiên cứu tìm thấy có MLQ có 
ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ stress của công nhân 
nhà máy và cảm nhận khó chịu với bụi; tiếng ồn; 
điện, điện từ trường; nhiệt, nóng trong MTLĐ. 
Kết quả này tương đồng với kết quả trong 
nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hường về 
tình trạng stress của công nhân may và cảm giác 
khó chịu với bụi, tiếng ồn, nhiệt, nóng trong môi 
trường lao động (MTLĐ)(9). Đồng thời, kết quả 
này cũng phù hợp với nhiều cơ sở y văn và kết 
quả của các nghiên cứu trước. Cũng giống như 
cảm nhận về MTLĐ không an toàn, cảm nhận 
khó chịu với các yếu tố trong MTLĐ cũng vậy. 
Phải làm việc khi môi trường có chưa các yếu tố 
có thể gây bệnh đối với công nhân là điều thực 
sự không thoải mái. 
KẾT LUẬN 
Qua thực hiện nghiên cứu trên 360 công 
nhân nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 165 
Vinh bằng nghiên cứu cắt ngang mô tả. Từ kết 
quả nghiên cứu cho thấy: 
Yếu tố về cá nhân và xã hội 
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa 
cảm nhận về kinh tế, tình trạng sức khỏe với tình 
trạng stress của công nhân (p <0,05). 
Những công nhân có cảm nhận kinh tế thiếu 
thốn thì có PR stress cao gấp hơn 4 lần so với 
những công nhân cảm nhận kinh tế vừa đủ. 
Những công nhân cho biết tình trạng sức khỏe 
có bệnh thì có PR stress cao hơn gấp hơn 7 lần so 
với những công nhân cho biết tình trạng sức 
khỏe không có bệnh. 
Yếu tố về nghề nghiệp 
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa 
việc thường xuyên tham gia các hoạt động vui 
chơi, giải trí và stress của công nhân (p <0,05). 
Những công nhân không thường xuyên tham 
gia hoạt động giải trí có PR stress cao hơn gấp 5 
lần so với những công nhân thường xuyên tham 
gia hoạt động giải trí. 
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa 
bộ phận làm việc và stress của công nhân 
(p <0,001). Những công nhân làm việc ở bộ phận 
vận hành có PR stress cao hơn gấp nhiều lần 
công nhân làm việc ở các bộ phận: hóa chất, sửa 
chữa và cung cấp nhiên liệu. 
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa 
yếu tố xung đột với đồng nghiệp, làm việc tăng 
ca và stress của công nhân (p <0,05). Những công 
nhân từng có xung đột với đồng nghiệp có PR 
stress cao gấp 8,5 lần công nhân không có xung 
đột với đồng nghiệp. Những công nhân phải 
làm việc tăng ca có PR stress cao gấp 5,1 lần 
những công nhân không phải làm việc tăng ca. 
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa 
cảm nhận khó chịu với các yếu tố: bụi, tiếng ồn, 
điện, điện từ trường và nhiệt nóng trong môi 
trường lao động và stress của công nhân 
(p <0,05). Những công nhân có cảm nhận khó 
chịu với các yếu tố trong môi trường lao động có 
PR stress cao hơn gấp nhiều lần những công 
nhân không có cảm nhận khó chịu. Trong đó, có 
khó chịu với bụi thì PR stress cao hơn gấp 5,3 
lần; có khó chịu với tiếng ồn thì PR stress cao 
hơn gấp 36 lần; có khó chịu với điện thì PR stress 
cao hơn gấp 10 lần; có khó chịu với nhiệt nóng 
thì PR stress cao hơn gấp 2,85 lần. 
ĐỀ XUẤT 
Bản thân công nhân 
Tích cực rèn luyện sức khỏe, xây dựng mối 
quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp. 
Ban quản lý nhà máy 
Quan tâm hơn nữa đến vấn đề sức khỏe tinh 
thần của công nhân, tích cực tổ chức, vận động 
công nhân tham gia hoạt động giải trí, xem xét 
mở phòng chăm sóc và tư vấn tâm lý cho công 
nhân tại nhà máy. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Wang X (2018). "How safety- related stress affects worker's 
safety behavior: The moderating role of psychological capital". 
Google scholar, 103:247-259. 
2. Lê Thị Hương (2013). Stress trong công việc của giáo viên mầm 
non hiện nay. Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, Đại Học Quốc Gia Hà 
Nội Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn. 
3. Nguyễn Thị Thanh Hương (2018). Stress và các yếu tố liên quan 
ở Điều dưỡng Bệnh viện Tâm thần trung ương 2 Thành phố 
Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Đề tài tốt nghiệp khối Bác sĩ Y học dự 
phòng, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. 
4. Phạm Quốc Hùng (2015). Stress và những yếu tố liên quan ở hộ 
sinh làm việc tại Bệnh viện Hùng Vương TP. Hồ Chí Minh. 
Luận án Chuyên khoa cấp 2, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. 
5. Trịnh Hồng Lân (2007). "Stress nghề nghiệp ở công nhân ngành 
may công nghiệp". Y học Thành Phố Hồ Chí Minh, 14(1):217-221. 
6. Nguyễn Thị Thùy Dương, Vương Thuận An, Lê Thị Xuân 
Quỳnh (2017). Stress và các yếu tố liên quan ở công nhân một 
công ty giày da thuộc tỉnh Bình Dương. Viện khoa học An toàn 
và Vệ sinh lao động, pp.50. 
7. Nguyễn Thị Thùy Linh (2014) "Một số yếu tố liên quan đến 
căng thẳng nghề nghiệp trên công nhân xí nghiệp giày da Lê Lai 
II, Hải Phòng năm 2012". Y học Dự phòng, 24(9):52. 
8. Đào Thị Duy Duyên (2010). Vấn đề stress của công nhân ở một 
số khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn thành phố Hồ 
Chí Minh. Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, Trường Đại học Sư Phạm 
Thành phố Hồ Chí Minh. 
9. Nguyễn Thị Hường (2014). Stress nghề nghiệp của người lao 
động trong các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố 
Hà Nội. Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học 
xã hội và Nhân văn. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 166 
10. Phạm Tuấn Việt (2014). Trầm cảm và một số yếu tố liên quan 
trên công nhân xi măng chifon Hải Phòng năm 2014. Luận văn 
Thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng, tr. 47. 
11. Đặng Khánh Hiệp (2018). Stress và các yếu tố liên quan ở giáo 
viên các trường THPT Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai. Luận 
văn tốt nghiệp Bác sĩ Y học Dự Phòng, Đại học Y dược Thành phố 
Hồ Chí Minh. 
Ngày nhận bài báo: 02/10/2019 
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 06/12/2019 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2020 

File đính kèm:

  • pdfstress_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_o_cong_nhan_nha_may_nhiet.pdf