Stress và một số yếu tố liên quan của sinh viên một trường Đại học tại Hà Nội năm 2019

Nghiên cứu được thực hiện trên 400 sinh viên tại trường Đại học Ngoại ngữ năm 2019 với mục đích

mô tả tình trạng stress và phân tích một số yếu tố liên quan đến stress của sinh viên. Nghiên cứu đã áp

dụng phương pháp điều tra cắt ngang, sử dụng bộ câu hỏi tự điền khuyết danh. Tình trạng stress được đo

lường bằng thang đo DASS - 21 (Depression Anxiety Stress Scale - 21). Kết quả cho thấy tỷ lệ sinh viên

bị stress là 46,5%, trong đó mức độ nhẹ, vừa, nặng, rất nặng lần lượt là 14,8%, 17,5%, 10,7%, 3,5%. Các

yếu tố liên quan đến stress là tình trạng tài chính, sự hài lòng với chuyên ngành học, áp lực học tập, thi

trượt và chia sẻ với gia đình. Kết quả phân tích hồi quy Binary logistic cho thấy tài chính khó khăn, không

hài lòng với chuyên ngành học và thường xuyên áp lực học tập là các yếu tố làm tăng stress của sinh viên.

pdf 8 trang phuongnguyen 40
Bạn đang xem tài liệu "Stress và một số yếu tố liên quan của sinh viên một trường Đại học tại Hà Nội năm 2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Stress và một số yếu tố liên quan của sinh viên một trường Đại học tại Hà Nội năm 2019

Stress và một số yếu tố liên quan của sinh viên một trường Đại học tại Hà Nội năm 2019
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
218 TCNCYH 128 (4) - 2020
Tác giả liên hệ: Phan Cẩm Phương, 
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh
Email: [email protected]
Ngày nhận: 18/05/2020
Ngày được chấp nhận: 04/06/2020
STRESS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA SINH VIÊN 
MỘT TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI HÀ NỘI NĂM 2019
 Phan Cẩm Phương¹, , Nguyễn Thị Thúy Anh²
¹Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh,
 ²Trường Đại học Y Hà Nội
Nghiên cứu được thực hiện trên 400 sinh viên tại trường Đại học Ngoại ngữ năm 2019 với mục đích 
mô tả tình trạng stress và phân tích một số yếu tố liên quan đến stress của sinh viên. Nghiên cứu đã áp 
dụng phương pháp điều tra cắt ngang, sử dụng bộ câu hỏi tự điền khuyết danh. Tình trạng stress được đo 
lường bằng thang đo DASS - 21 (Depression Anxiety Stress Scale - 21). Kết quả cho thấy tỷ lệ sinh viên 
bị stress là 46,5%, trong đó mức độ nhẹ, vừa, nặng, rất nặng lần lượt là 14,8%, 17,5%, 10,7%, 3,5%. Các 
yếu tố liên quan đến stress là tình trạng tài chính, sự hài lòng với chuyên ngành học, áp lực học tập, thi 
trượt và chia sẻ với gia đình. Kết quả phân tích hồi quy Binary logistic cho thấy tài chính khó khăn, không 
hài lòng với chuyên ngành học và thường xuyên áp lực học tập là các yếu tố làm tăng stress của sinh viên.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Stress là một phản ứng về thể chất, tinh 
thần hoặc cảm xúc đối với các sự kiện gây 
căng thẳng cơ thể hoặc tinh thần. Với số lượng 
nhỏ, căng thẳng là bình thường và có thể giúp 
chúng ta năng động và năng suất hơn. Tuy 
nhiên, trải qua mức độ căng thẳng cao trong 
một thời gian dài có thể gây ra các vấn đề về 
thể chất và tinh thần quan trọng. ¹ Hiện nay, tình 
trạng stress ngày càng trở nên phổ biến trong 
cộng đồng đặc biệt ở lứa tuổi sinh viên. Nghiên 
cứu trên sinh viên đại học công lập tại Mỹ, Ả 
rập Xê út, Úc cho tỷ lệ stress lần lượt là 38%; 
34,3%, 26,5%.2 - 4 Tại Việt Nam, một số nghiên 
cứu trên sinh viên đại học cho thấy tỷ lệ stress 
cao (trên 90%).5,6 Lứa tuổi này có đặc điểm 
tâm lý rất phong phú, đa dạng và bị chi phối 
bởi những đặc điểm về thể chất, môi trường, 
vai trò xã hội cụ thể mà trong đó họ sống và 
hoạt động. ⁷ Trong đó, có những yếu tố tích cực 
giúp giảm bớt stress và cũng có những yếu tố 
tiêu cực làm gia tăng tình trạng này. Việc xác 
định rõ các yếu tố này giúp chúng ta có những 
giải pháp phù hợp để hạn chế stress cho sinh 
viên. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến 
stress ở nhóm sinh viên Thổ Nhĩ Kỳ đã cho thấy 
sinh viên nữ, học năm thứ 1 và thứ 2 có điểm 
stress cao hơn. Những sinh viên hài lòng với 
chuyên ngành học thì nguy cơ stress thấp hơn 
so với những sinh viên không hài lòng.⁸ Tại Việt 
Nam, phần lớn các nghiên cứu về stress của 
sinh viên được thực hiện trên đối tượng là sinh 
viên y khoa, còn nghiên cứu trên sinh viên các 
trường khác vẫn còn hạn chế. Vì vậy, nghiên 
cứu này được thực hiện nhằm mục đích mô tả 
tình trạng stress và phân tích một số yếu tố liên 
quan đến stress của một nhóm sinh viên thuộc 
khối trường xã hội - giáo dục, đó là Trường Đại 
học Ngoại ngữ năm 2019.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
Nghiên cứu thực hiện trên sinh viên Trường 
Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội 
Từ khóa: DASS - 21, stress, sinh viên. 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
219TCNCYH 128 (4) - 2020
trong thời gian tháng 9/2019.
 - Tiêu chuẩn lựa chọn: Sinh viên đang học 
tập tại trường vào thời điểm nghiên cứu và 
đồng ý tham gia nghiên cứu.
 - Tiêu chuẩn loại trừ: 
+ Sinh viên không đảm bảo sức khỏe tham 
gia nghiên cứu
+ Sinh viên không hợp tác tốt
2. Phương pháp 
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt 
ngang
Cỡ mẫu: 400 sinh viên
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận 
tiện. Lấy tất cả các sinh viên có mặt trong lớp 
học tại thời điểm nghiên cứu. Theo thời khóa 
biểu được cung cấp, nhóm nghiên cứu chọn 
thời gian khảo sát từng lớp. Sau khi được sự 
đồng ý của giáo viên phụ trách, nghiên cứu viên 
tiến hành điều tra ngoài giờ học của lớp.
Các biến số/chỉ số nghiên cứu
 - Thông tin chung: giới, tuổi, dân tộc, nơi ở 
hiện tại, tình trạng tài chính, năm học, tình trạng 
quan hệ hiện tại.
 - Mức độ stress được xác định theo thang 
đo DASS - 21 phiên bản tiếng Việt của Viện 
Tâm thần Sức khỏe Quốc gia và đã được đánh 
giá về tính giá trị, độ tin cậy đối với thanh thiếu 
niên Việt Nam . Thang đo DASS - 21 gồm 21 
đề mục, trong đó có 7 đề mục dùng để đánh 
giá stress (mục 1, 6, 8, 11, 12, 14, 18). Tương 
ứng với mỗi đề mục có 4 mức độ trả lời theo 
thang điểm Likert 0 - 3 từ không đúng cho đến 
đúng hoàn toàn. Cộng điểm của 7 đề mục rồi 
nhân hệ số 2 sẽ được tổng điểm. Tổng điểm 
dao động 0 – 42 điểm với các mức độ được 
chia như sau:9,10
Mức độ Stress
Bình thường 0 − 14
Nhẹ 15 – 18
Vừa 19 – 25
Nặng 26 − 33
Rất nặng ≥ 34
 - Một số yếu tố liên quan: yếu tố cá nhân 
(tuổi, giới, tài chính,), yếu tố gia đình (hôn 
nhân bố mẹ, sự chia sẻ với gia đình), yếu tố 
học tập (năm học, áp lực học tập, thi trượt,).
3. Xử lý số liệu
 - Số liệu được làm sạch và nhập liệu bằng 
phần mềm Epidata 3.1. Phân tích số liệu bằng 
phần mềm SPSS 20.0.
 - Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để 
mô tả đặc điểm chung và tình trạng stress của 
sinh viên. 
 - Phân tích đơn biến: tính tỷ suất chênh OR 
để khảo sát mối liên quan giữa một số yếu tố 
và tình trạng stress của sinh viên. Sự khác biệt 
có ý nghĩa thống kê khi giá trị OR và khoảng tin 
cậy 95% (95%CI) lớn hơn 1.
 - Phân tích đa biến: Chọn những biến số 
có mối liên quan với stress trong phân tích đơn 
biến (OR (95%CI) > 1) đưa vào mô hình hồi 
quy Binary logistic nhằm mục đích loại trừ yếu 
tố nhiễu để xác định mối tương quan chính xác 
hơn.
4. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được Hội đồng thông qua đề 
cương cao học của Trường Đại học Y Hà Nội 
phê duyệt và được sự chấp thuận của Ban 
giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Đại học của 
trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia 
Hà Nội.
Nghiên cứu tiến hành trên cơ sở tham gia 
tự nguyện của sinh viên. Phiếu tự điền khuyết 
danh đảm bảo bí mật các thông tin cá nhân. 
Sinh viên được giải thích rõ về mục đích và ý 
nghĩa của nghiên cứu.
III. KẾT QUẢ 
Bảng 1 cho thấy trong 400 sinh viên tham 
gia nghiên cứu, tỷ lệ sinh viên nữ là 83,8%, tỷ 
lệ sinh viên nam là 16,2%. Tuổi trung bình 21,2 
± 1,2. Sinh viên năm thứ 3 tham gia nghiên cứu 
nhiều nhất với tỷ lệ 45,5%, thấp nhất là sinh 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
220 TCNCYH 128 (4) - 2020
viên năm thứ 2 với tỷ lệ 5,2%. Sinh viên người dân tộc Kinh chiếm đa số (95,5%). Hơn một nửa sinh 
viên không sống cùng gia đình. Khoảng 2/3 sinh viên có tài chính vừa đủ và hiện đang độc thân.
Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n = 400)
Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Giới tính
Nam 65 16,2
Nữ 335 83,8
Tuổi
≤ 20 70 17,5
> 20 330 82,5
Tuổi trung bình 21,2 ± 1,2 ( min = 19; max = 29)
Dân tộc
Kinh 382 95,5
Khác 12 4,5
Nơi ở hiện tại
Ở cùng gia đình, người thân 166 41,5
Không ở cùng gia đình, người thân 234 58,5
Tình trạng tài chính
Khó khăn 81 20,2
Vừa đủ 304 76
Dư giả 15 3,8
Năm học
Năm 1 55 13,8
Năm 2 21 5,2
Năm 3 182 45,5
Năm 4 142 35,5
Tình trạng quan hệ hiện tại
Có người yêu/Đã kết hôn 126 31,5
Độc thân 274 68,5
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
221TCNCYH 128 (4) - 2020
Biểu đồ 1. Tỷ lệ stress của sinh viên
Biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ stress của sinh viên là 46,5% theo thang đo DASS - 21.
Bảng 2. Các mức độ stress của sinh viên (n = 400)
Mức độ Stress n (%)
Nhẹ 59 (14,8)
Vừa 70 (17,5)
Nặng 43 (10,7)
Rất nặng 14 (3,5)
Bảng 2 cho thấy các mức độ stress của sinh viên theo thang đo DASS - 21. Mức độ nhẹ, vừa, 
nặng và rất nặng chiếm tỷ lệ lần lượt là 14,8%, 17,5%, 10,7% và 3,5%. 
Bảng 3. Một số yếu tố liên quan với stress của sinh viên (n = 400)
Yếu tố
Stress
n (%)
Không stress
n (%)
Phân tích đơn 
biến
OR (95%CI)
Phân tích đa biến
OR (95%CI)
Giới
Nam 31 (47,7%) 34 (52,3%) 1
Nữ 155 (46,3%) 180 (53,7%) 0,94 (0,55 - 1,6)
Tuổi
≤ 20 31 (44,3%) 39 (55,7%) 1
> 20 155 (47%) 175 (53%) 1,11 (0,66 - 1,87)
Dân tộc
Kinh 175 (45,8%) 207 (54,2%) 1
Khác 11 (61,1%) 7 (38,9%) 1,85 (0,7 - 4,89)
Nơi ở hiện tại
Ở cùng gia đình, người 
thân
77 (46,4%) 89 (53,6%) 1
53,5%46,5%
Bình thường
Stress
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
222 TCNCYH 128 (4) - 2020
Yếu tố
Stress
n (%)
Không stress
n (%)
Phân tích đơn 
biến
OR (95%CI)
Phân tích đa biến
OR (95%CI)
Không ở cùng gia đình, 
người thân
109 (46,6%) 125 (53,4%) 1 (0,67 - 1,5)
Tình trạng tài chính của bản thân
Dư giả 4 (26,7%) 11 (73,3%) 1 1
Vừa đủ 133 (43,8%) 171 (56,2%) 2,13 (0,66 - 6,86) 2,88 (0,82 - 10,09)
Khó khăn 49 (60,5%) 32 (39,5%) 4,21 (1,23 - 14,37) 4,54 (1,21 - 16,93)
Năm học
2 năm đầu 34 (44,7%) 42 (55,3%) 1
2 năm cuối 152 (46,9%) 172 (53,1%) 1,09 (0,66 - 1,8)
Hài lòng với chuyên ngành học
Có 157 (43,9%) 201 (56,1%) 1 1
Không 29 (69%) 13 (31%) 2,85 (1,43 - 5,67) 2,78 (1,34 - 5,76)
Thi trượt học kỳ trước
Không 148 (44%) 188 (56%) 1 1
Có 38 (59,4%) 26 (40,6%) 1,85 (1,07 - 3,19) 1,58 (0,89 - 2,8)
Áp lực học tập
Không/thỉnh thoảng 98 (38,9%) 154 (61,1%) 1 1
Thường xuyên 88 (59,5%) 60 (40,5%) 2,3 (1,52 - 3,48) 2,09 (1,36 - 3,22)
Tình trạng hôn nhân của bố mẹ
Hiện đang sống với 
nhau
162 (45,8%) 192 (54,2%) 1
Ly thân/Ly dị/Qua đời 24 (52,2%) 22 (47,8%) 1,29 (0,69 - 2,39)
Chia sẻ các vấn đề trong cuộc sống và học tập với gia đình
Thường xuyên 93 (41,9%) 129 (58,1%) 1 1
Không/thỉnh thoảng 93 (52,2%) 85 (47,8%) 1,51 (1,02 - 2,25) 1,34 (0,87 - 2,02)
Bảng 3 trình bày mối liên quan giữa một số yếu tố và tình trạng stress của sinh viên. Kết quả phân 
tích đơn biến cho thấy các yếu tố: tình trạng tài chính, hài lòng với chuyên ngành học, thi trượt, áp 
lực học tập, chia sẻ với gia đình có mối liên quan với stress. Sau khi đưa các yếu tố này vào mô hình 
hồi quy Binary logistic thì yếu tố tình trạng tài chính, hài lòng với chuyên ngành học, áp lực học tập có 
mối liên quan có ý nghĩa thống kê với stress của sinh viên. Sinh viên khó khăn về tài chính có nguy 
cơ stress cao gấp 5 lần so với sinh viên có tài chính dư giả. Sinh viên không hài lòng với chuyên 
ngành học có nguy cơ stress cao gấp gần 3 lần so với sinh viên hài lòng với chuyên ngành học. 
Sinh viên thường xuyên cảm thấy bị áp lực học tập có nguy cơ stress cao gấp 2 lần so với sinh viên 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
223TCNCYH 128 (4) - 2020
không/thỉnh thoảng cảm thấy áp lực học tập.
IV. BÀN LUẬN 
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ stress của sinh 
viên là 46,5%, trong đó gần một phần ba là mức 
độ nặng, rất nặng theo thang đo DASS - 21. Tỷ 
lệ này thấp hơn so với nghiên cứu tương tự 
trên sinh viên Đại học Ngoại ngữ của Nguyễn 
Văn Thụ năm 2009. Nghiên cứu sử dụng thang 
đo là trắc nghiệm đánh giá mức độ stress 
của hai nhà tâm lý học Nga là T.D.Azanưk và 
I.M.Tưrtưsnhicov cho tỷ lệ stress là 91,1%; 
mức độ nhẹ, vừa lần lượt là 88,2%; 2,9%.⁵ 
Có thể thấy, tỷ lệ stress gấp đôi so với nghiên 
cứu của chúng tôi, trong đó mức độ nhẹ chiếm 
đa số. Sự khác biệt này có thể được lý giải do 
thang đo và thời điểm nghiên cứu khác nhau. 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng thấp 
hơn so với tỷ lệ stress của sinh viên y khoa tại 
Việt Nam, Ai cập, Ả rập Xê út sử dụng thang đo 
DASS - 21 cho tỷ lệ stress lần lượt là 71,4%, 
62,4%, 54,7%.11 - 13 Sự khác biệt này có thể do 
chương trình học tập, tính chất chuyên ngành 
khác nhau. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh 
rằng tỷ lệ rối loạn tâm thần ở sinh viên y khoa 
trong quá trình đào tạo cao hơn so với dân 
số nói chung và các bạn đồng lứa tuổi. 14 Tuy 
nhiên, tỷ lệ stress trong nghiên cứu của chúng 
tôi cao hơn so với nghiên cứu trên sinh viên đại 
học công lập tại một số quốc gia có nền kinh 
tế phát triển như Mỹ, Ả rập xê út, Úc sử dụng 
thang đo DASS - 21 cho tỷ lệ stress lần lượt 
là 38%; 34,3%; 26,5%.2 - 4 Điều này có thể giải 
thích do sự khác nhau về yếu tố kinh tế văn 
hóa xã hội, hệ thống giáo dục và sự phát triển 
của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần. 
Với quốc gia đang phát triển, mức thu nhập 
trung bình thấp như Việt Nam thì các yếu tố xã 
hội như nghèo đói, đô thị hóa, di cư nội bộ và 
thay đổi lối sống làm tăng gánh nặng rối loạn 
tâm thần. Ngoài ra, sự phát triển các dịch vụ 
sức khỏe tâm thần cũng gặp nhiều thách thức 
bao gồm: luật pháp và chính sách chưa đảm 
bảo; thiếu tài chính và nguồn lực; tổ chức và 
lập kế hoạch chưa đạt hiệu quả cao; thiếu các 
biện pháp can thiệp và đào tạo dựa trên bằng 
chứng.15 Theo báo cáo của WHO, ngân sách 
dành cho sức khỏe tâm thần ở Đông Nam Á là 
66,7%; so với 92,6% Mỹ và 80% ở Đông Địa 
Trung Hải. Sự sẵn có của cơ sở điều trị cho các 
rối loạn tâm thần nghiêm trọng trong hệ thống 
chăm sóc sức khỏe ở Đông Nam Á là 44%, đây 
là mức độ sẵn có thấp nhất trên toàn thế giới, 
thấp hơn rất nhiều so với các nguồn chăm sóc 
sẵn có ở Mỹ (66,7%), Châu Âu (65,3%).16
Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan có ý 
nghĩa thống kê của tình trạng tài chính đến 
stress của sinh viên. Những sinh viên có tài 
chính khó khăn thì nguy cơ bị stress cao gấp 5 
lần so với những sinh viên có tài chính dư giả. 
Kết quả này tương tự với kết quả nghiên cứu 
trên cộng đồng sinh viên nước Anh và sinh viên 
đại học tại Mỹ đều cho thấy khó khăn tài chính 
là nguyên nhân gây stress đối với sinh viên.
17,18
Sự hài lòng với chuyên ngành học, áp lực 
học tập cũng là những yếu tố liên quan đến 
stress của sinh viên. Những sinh viên không 
hài lòng với chuyên ngành học, thường xuyên 
cảm thấy áp lực học tập có nguy cơ bị stress 
cao hơn. 
Nghiên cứu còn tồn tại một số hạn chế. Đây 
là một nghiên cứu cắt ngang nên không đánh 
giá được mối quan hệ nhân - quả giữa stress 
và các yếu tố liên quan. Ngoài ra, sai số có thể 
xảy ra do đối tượng cung cấp thông tin không 
chính xác về các vấn đề tâm lý. Trong điều kiện 
nguồn lực cho phép, một nghiên cứu tiếp theo 
với thiết kế thuần tập sẽ giúp khắc phục được 
các hạn chế trên.
V. KẾT LUẬN
Nghiên cứu cho thấy có một tỷ lệ không 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
224 TCNCYH 128 (4) - 2020
nhỏ (46,5%) sinh viên bị stress, trong đó gần 
một phần ba là mức độ nặng và rất nặng. Các 
yếu tố làm tăng tỷ lệ này là tài chính khó khăn, 
không hài lòng với chuyên ngành học, thường 
xuyên áp lực học tập. Do đó, cần tăng cường 
hoạt động tư vấn hướng nghiệp, tư vấn tâm lý 
học đường cho học sinh, sinh viên. Bên cạnh 
đó, việc hỗ trợ tài chính hoặc giới thiệu việc làm 
thêm cho các sinh viên có điều kiện kinh tế thực 
sự khó khăn cũng là một vấn đề cần được xem 
xét và giải quyết. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Gomathi KG, Ahmed S, Sreedharan 
J. Psychological health of first - year health 
professional students in a medical university in 
the United arab emirates. Sultan Qaboos Univ 
Med J. 2012;12 (2):206 - 213.
2. Beiter R, Nash R, McCrady M, et al. 
The prevalence and correlates of depression, 
anxiety, and stress in a sample of college 
students. J Affect Disord. 2015;173:90 - 96.
3. Geoff P. Lovell, Kim Nash and Rachael 
Sharman, et al. A cross - sectional investigation 
of depressive, anxiety, and stress symptoms 
and health - behavior participation in Australian 
university students. Nursing & Health Sciences. 
2014;17 (1):134 - 142.
4. Tarip Al Bahhawi, Osama B Albasheer 
and Anwar M Makeen, et al. Depression, anxiety, 
and stress and their association with khat use: a 
cross - sectional study among Jazan University 
students, Saudi Arabia. Neuropsychiatric 
Disease and Treatment. 2018;14:2755 - 2761.
5. Nguyễn Hữu Thụ. Nguyên nhân stress 
của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội. Tạp chí 
Tâm lý học. 2009;120 (3):1 - 5.
6. Nhu Ky Ly and Trung Quang Vo. Mental 
disorders among college students in Vietnam: 
Evidence for improving coping strategies. Asian 
Journal of Pharmacetics. 2018;12 (1):48 - 56.
7. Dương Thị Kim Oanh. Tâm lý học 
chuyên ngành. Trường Đại học Bách Khoa Hà 
Nội; 2009.
8. Nuran Bayram and Nazan Bilgel. 
The prevelance and socio – demographic 
correlations of depression, anxiety and stress 
among a group of university students. Social 
Psychiatry and Psychiatric Epidemiology. 
2008;43 (8):667 - 672.
9. Viện sức khỏe tâm thần quốc gia. 
Thang đánh giá Lo âu – Trầm cảm – Stress 
(DASS 21). 2010;  
- de - tam - than/trac - nghiem - tam - ly/88 - cac 
- trc - nghim/770 - thang - anh - gia - lo - au - trm 
- cm - stress - dass - 21.html.
10. Minh Thi Hong Le, Thach Duc Tran, 
Sara Holton, et al. Reliability, convergent 
validity and factor structure of the DASS - 21 
in a sample of Vietnamese adolescents. PLoS 
One. 2017;12 (7):e0180557.
11. Trần Kim Trang. Stress, lo âu và trầm 
cảm ở sinh viên y khoa. In. Tạp chí y học 
TP.HCM. 2012;16:356 - 362.
12. Wafaa Yousif Abdel Wahed and Safaa 
Khamis Hassan. Prevalence and associated 
factors of stress, anxiety and depression among 
medical Fayoum University students. Alexandria 
Journal of Medicine. 2017;53 (1):77 - 84.
13. Sumaya Basudan, Najla Binanzan, 
and Aseel Alhassan. Depression, anxiety and 
stress in dental students. International Journal 
of Medical Education. 2017;8:179 - 186.
14. Yusoff MS. Abdul Rahim AF, Baba 
AA, et al. The impact of medical education on 
psychological health of students: a cohort study. 
Psychology Health and Medicine. 2013;18 
(4):420 - 430.
15. Shanaya Rathod, Narsimha Pinninti, 
Muhammed Irfan, et al. Mental Health Service 
Provision in Low - and Middle - Income 
Countries. Health Serv Insights. 2017;10.
16. Benedetto Saraceno, Shekhar Saxena. 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
225TCNCYH 128 (4) - 2020
Summary
STRESS AND ASSOCIATED FACTORS AMONG HA NOI 
UNIVERSITY STUDENTS IN 2019
The study was conducted on 400 students at the University of Languages and International 
Studies in 2019 with the purpose of describing stress situation and analysing associated 
factors. The study applied a cross - sectional survey and used a anonymous, self - administered 
questionnaire. Stress situation was assessed by the Depression Anxiety Stress Scale – 21 (DASS 
- 21). The results showed that the prevalence of stress was 46.5%, where mild, moderate, severe 
and extremely severe levels are 14.8%, 17.5%, 10.7% and 3.5% respectively. The associated 
factors were financial status, satisfaction with the major, studying pressure, failed exams and 
family support. The results of Binary logistic regression analysis showed that financial difficulties, 
dissatisfaction with majors and frequently studying pressure are factors increasing stress in students.
Keywords: DASS - 21, stress, students.
Mental health resources in the world: Results 
from project atlas of the WHO. World Psychiatry. 
2002;1 (1):40 - 44.
17. Thomas Richardson, Peter Elliot, Ron 
Roberts et al. A longitudinal study of financial 
difficulties and mental health in a national 
sample of British undergraduate students. 
Community Mental Health Journal. 2017;53 
(3):344 - 352.
18. Pamela Aselton. Sources of stress 
and coping in american college students who 
have been diagnosed with depression. Journal 
of Child and Adolescent Psychiatric Nursing. 
2012;25 (3):119 - 123.

File đính kèm:

  • pdfstress_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_cua_sinh_vien_mot_truong_d.pdf