Stress, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở điều dưỡng viên

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện ở 318 điều dưỡng viênđang làm việc tại một bệnh viện chuyên khoa hạng 1 tại Hà Nội năm 2019 nhằm đánh giá thực trạng stress, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ điều dưỡng bị stress, lo âu và trầm cảm lần lượt là 18,5%; 33,3% và 22%. Mức độ stress nhẹ, vừa, nặng và rất nặng ở điều dưỡng lần lượt là 9,1% , 6,0%, 2,5% và 0,9%; lo âu là 10,7%, 16,3%, 2,2% và trầm cảm là 4,1%; 12,6%, 6,6%, 1,6% và 1,2%. Nghiên cứu xác định được mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa một số yếu tố với tình trạng stress của điều dưỡng gồm có gặp phải biến cố trong 1 năm qua (OR=2,25; 95%CI: 1,266-4,030; p<0,05), có="" áp="" lực="" trong="" công="" việc="" (or="3,08;" 95%ci:="" 1,34-7,097;=""><>

pdf 6 trang phuongnguyen 40
Bạn đang xem tài liệu "Stress, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở điều dưỡng viên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Stress, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở điều dưỡng viên

Stress, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở điều dưỡng viên
Tập 60 - Số 7-2020
Website: yhoccongdong.vn 125
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
STRESS, LO ÂU, TRẦM CẢM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN 
Ở ĐIỀU DƯỠNG VIÊN 
Lê Thị Phương Liên1, Nguyễn Bạch Ngọc2
TÓM TẮT 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện ở 318 
điều dưỡng viênđang làm việc tại một bệnh viện chuyên 
khoa hạng 1 tại Hà Nội năm 2019 nhằm đánh giá thực 
trạng stress, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan. 
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ điều dưỡng bị stress, 
lo âu và trầm cảm lần lượt là 18,5%; 33,3% và 22%. Mức 
độ stress nhẹ, vừa, nặng và rất nặng ở điều dưỡng lần lượt 
là 9,1% , 6,0%, 2,5% và 0,9%; lo âu là 10,7%, 16,3%, 
2,2% và trầm cảm là 4,1%; 12,6%, 6,6%, 1,6% và 1,2%. 
Nghiên cứu xác định được mối liên quan có ý nghĩa thống 
kê giữa một số yếu tố với tình trạng stress của điều dưỡng 
gồm có gặp phải biến cố trong 1 năm qua (OR=2,25; 
95%CI: 1,266-4,030; p<0,05), có áp lực trong công việc 
(OR=3,08; 95%CI: 1,34-7,097; p<0,05). 
Từ khóa: Stress, lo âu, trầm cảm, điều dưỡng.
ABSTRACT:
STRESS, ANXIETY, DEPRESSION AMONG 
NURSES AND ITS RELATED FACTORS
A cross-sectional descriptive study was conducted in 
318 nurses (male 19.2%, female 80.8%) working at a first 
grade specialized hospital in Hanoi in 2019 to assess the 
situation of stress, anxiety, depression and some related 
factors. The DASS 21 questionnaire was used to assess 
stress, anxiety and depression in the study subjects. The 
results showed that the rate of nursing suffering stress, 
anxiety and depression was 18.5%; 33.3% and 22%. The 
mild, moderate, severe and very severe levels of stress in 
nursing were 9.1%, 6.0%, 2.5% and 0.9%; anxiety 10.7%, 
16.3%, 2.2% and depression is 4.1%; 12.6%, 6.6%, 1.6% 
and 1.2%, respectively. Statistically significant association 
with stress in the study subjects were found, including the 
incident in the past 1 year (OR = 2.25; 95% CI: 1.266-
4.030; p <0.05), work pressure (OR = 3.08; 95% CI: 1.34-
7.097; p <0.05).
Keywords: Stress, anxiety, depression, nursing.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, Sức 
khoẻ tâm thần là một cuộc sống thật sự thoải mái, đạt 
được niềm tin vào giá trị bản thân, vào phẩm giá và giá trị 
của người khác; có khả năng ứng xử bằng cảm xúc, hành 
vi hợp lý trước mọi tình huống, khả năng tạo dựng, duy 
trì và phát triển thoả đáng các mối quan hệ và khả năng tự 
hàn gắn để duy trì cân bằng sau các sang chấn tâm lý hoặc 
stress. Như vậy, sức khỏe tinh thần là một cấu phần quan 
trọng trong đời sống của mỗi con người.
Theo khảo sát của Viện Sức khỏe và An toàn nghề 
nghiệp quốc gia Hoa Kỳ năm 2007, có 40% người được 
phỏng vẩn đã báo cáo rằng stress là nguyên nhân chính 
khiến người lao động phải đi bệnh viện [1]. Nhiều nghiên 
cứu trên thế giới đã báo cáo về stress trong các nhóm nghề 
nghiệp hiện nay [1], [2], [3]. Qua đó có thể thấy, bên cạnh 
sự phát triển về kinh tế xã hội, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ 
của người dân ngày càng cao, trong đó những vấn đề liên 
quan đến sức khỏe tinh thần, đòi hỏi ngành y tế phải nâng 
cao chất lượng cung cấp dịch vụ về chăm sóc sức khỏe 
cho con người. Do vậy áp lực công việc đối với nhân viên 
y tế ngày càng lớn hơn [4], [5]. Sức ép quá lớn của công 
việc có thể làm gia tăng đáng kể tỷ lệ stress ở các nhân 
viên y tế [2], [6]. 
Địa điểm của nghiên cứu này là một bệnh viện hạng 
1 chuyên khoa nội tiết và rối loạn chuyển hóa. Do đó, bệnh 
viện có công suất sử dụng giường bệnh cao và số lượng 
lớn người bệnh đến khám và điều trị mỗi năm [7]. Điều 
này đồng nghĩa với gánh nặng công việc rất lớn cho nhân 
viên y tế, đặc biệt đối với điều dưỡng viên. Đây là nhóm 
đối tượng luôn phải làm việc với cường độ cao và trách 
nhiệm nặng nề, trực tiếp chăm sóc, theo dõi và ghi chép 
những diễn biến bệnh của người bệnh để báo kịp thời cho 
bác sĩ, thường xuyên trực đêm, đặc biệt là chịu áp lực từ 
Ngày nhận bài: 17/09/2020 Ngày phản biện: 29/09/2020 Ngày duyệt đăng: 07/10/2020
1. Bệnh viện Nội tiết Trung ương
2. Đại học Thăng Long
Tác giả chính: Lê Thị Phương Liên; Điện thoại: 0982 244 561; Email: [email protected]
Tập 60 - Số 7-2020
Website: yhoccongdong.vn126
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
phía người bệnh và người nhà người bệnh. Do vậy, khối 
lượng và cường độ làm việc hằng ngày có thể sẽ là những 
yếu tố nguy cơ tiềm tàng dẫn đến stress ở nhóm đối tượng 
là điều dưỡng viên đang làm việc tại bệnh viện. Hiện nay, 
chưa có nghiên cứu nào được thực hiện ở toàn bộ điều 
dưỡng viên của bệnh viện để đánh giá về thực trạng stress, 
trầm cảm, lo âu của họ. Do vậy, nghiên cứu này được thực 
hiện nhằm mô tả thực trạng stress, trầm cảm, lo âu ở điều 
dưỡng viên và phân tích một số yếu tố liên quan đến stress 
ở nhân viên điều dưỡng của bệnh viện. 
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là điều dưỡng viên, hiện đang 
công tác tại một bệnh viện hạng 1 chuyên khoa nội tiết và 
rối loạn chuyển hóa tại Hà Nội năm 2019. Các đối tượng 
được giải thích rõ mục đích của nghiên cứu và tự nguyện 
đồng ý tham gia nghiên cứu.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 04/2019 đến 
tháng 08/2019.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có phân tích, sử dụng 
phương pháp phát vấn để thu thập thông tin. Cỡ mẫu là 
toàn bộ điều dưỡng đang làm việc tại các khoa/phòng 
thuộc khối lâm sàng, khối cận lâm sàng và khối hành 
chính - chức năng của bệnh viện. Tổng cộng có 318 điều 
dưỡng. 
Nghiên cứu đã sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để 
nhập liệu và phần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu. 
III. KẾT QUẢ
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n = 318)
Thông tin về ĐTNC Số lượng Tỷ lệ (%)
Nhóm tuổi
≤30 tuổi 204 64,2
31- 40 tuổi 92 28,9
Trên 40 tuổi 22 6,9
Giới
Nam 61 19,2
Nữ 257 80,8
Tình trạng hôn nhân
Chưa kết hôn 88 27,7
Có vợ/chồng 219 68,9
Ly thân/ly hôn/góa 11 3,4
Bảng 2. Đặc điểm công việc và biến cố của đối tượng nghiên cứu (n = 318)
Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ (%)
Số buôi trực/ tháng
≤4 lần 240 75,5
>4 lần 78 24,5
Thường xuyên chăm sóc ca bệnh nặng/khó
Có 63 19,8
Khồng 255 80,2
Có áp lực trong công việc
Có 235 73,9
Khồng 83 26.1
Có biến cố trong gia đình
Có 142 44,7
Khồng 176 55,3
Phần lớn điều dưỡng viên dưới 30 tuổi, chiếm tỷ lệ 64,2%. 
Nhóm điều dưỡng viên từ 31 đến 40 tuổi chiếm tỷ lệ 28,9%. 
Nhóm trên 40 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất (6,9%). Đa số đối tượng 
nghiên cứu là nữ (80,8%), đã kết hôn (68,9%) (Bảng 1). 
Tập 60 - Số 7-2020
Website: yhoccongdong.vn 127
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Hình 1. Stress, lo âu và trầm cảm của đối tượng nghiên cứu (n=318)
Bảng 3. Mức độ stress, lo âu và trầm cảm của đối tượng nghiên cứu (n = 318)
Mức độ
Stress Lo âu Trầm cảm
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Bình thường 259 81,5 212 66,7 248 78,0
Nhẹ 29 9,1 34 10,7 40 12,6
Vừa 19 6,0 52 16,3 21 6,6
Nặng 8 2,5 7 2,2 5 1,6
Rất nặng 3 0,9 13 4,1 4 1,2
Tổng 59 18,5 106 33,3 70 22,0
Khoảng ¾ điều dưỡng viên trực ≤4 buổi trong 1 
tuần (75,5%). Có 24,5% ĐTNC trực nhiều hơn 4 buổi 
trong 1 tuần. 19,8% điều dưỡng viên phải chăm sóc 
với tần suất thường xuyên. 73,9% điều dưỡng viên báo 
cáo có áp lực trong công việc. Trong 12 tháng qua, có 
44,7% điều dưỡng viên báo cáo gặp phải biến cố ảnh 
hưởng đến tâm lý, sức khỏe, tương ứng với 142 trường 
hợp (Bảng 2).
2.2. Thực trạng stress, lo âu và trầm cảm của đối 
tượng nghiên cứu
Tỷ lệ điều dưỡng bị stress là 18,5%, lo âu 33,3% và trầm cảm 22% (Hình 1).
Tỷ lệ đối tượng bị stress nhẹ, vừa, nặng và rất nặng 
lần lượt là 9,1%; 6,0%; 2,5% và 0,9%. Mức độ lo âu nhẹ, 
vừa, nặng và rất nặng tương ứng là 10,7%, 16,3% 2,2% và 
4,1%. Mức độ trầm cảm nhẹ, vừa, nặng và rất nặng tương 
ứng là 12,6%, 6,6%,1,6%, 1,2% (Bảng 3).
3.3. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress 
ở đối tượng nghiên cứu
Tập 60 - Số 7-2020
Website: yhoccongdong.vn128
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
Bảng 4. Mối liên quan giữa một số đặc điểm cá nhân với stress ở đối tượng nghiên cứu (n = 318)
Đặc điểm
Có Không OR,
 95%CI
p
SL % SL %
Nhóm tuổi
≤30 tuổi 36 17,7 168 82,3 0,847
0,473-1,517
0,578
>30 tuổi 23 20,2 91 79,8
Giới tính
Nam 15 24,6 46 75,4 1,578
0,810-3,075
0,180
Nữ 44 17,1 213 82,9
Tình trạng hôn nhân
Khác 20 20,2 79 79,8 1,168
0,640-2,130
0,611
Có vợ/chồng 39 17,8 180 82,2
Bảng 5. Mối liên quan giữa đặc điểm công việc với tình trạng stress ở đối tượng nghiên cứu (n = 318)
Yếu tố công việc
Có Stress Không Stress OR,
 95%CI
p
SL % SL %
Thâm niên trong nghề
<5 năm 21 16,2 109 83,5 0,76
0,422-1,368
0,361
≥5năm 38 20,2 150 17,8
Cảm thấy áp lực trong công việc
Có 52 22,1 183 77,9 3,08
1,34-7,097
0,008
không 7 8,4 76 91,6
Số buổi trực/tháng
> 4 buổi 17 21,8 61 78,2 1,31
0,698-2,472
0,398
≤ 4 buổi 42 17,5 198 82,5
Biến cố gặp phải trong 1 năm qua
Có 36 25,4 106 74,6 2,25
1,266-4,030
0,006
Không 23 13,1 153 86,9
Nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi, giới tính và tình trạng hôn nhân và 
stress ở điều dưỡng viên (p >0,05) (Bảng 4).
Tập 60 - Số 7-2020
Website: yhoccongdong.vn 129
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Kết quả nêu tại Bảng 5 cho thấy những điều dưỡng 
cảm thấy áp lực trong công việc, có khả năng bị stress 
cao gấp 3,08 lần so với nhóm không có áp lực (OR=3,08; 
95%CI: 1,34-7,097; p<0,05), nhóm có gặp phải biến cố 
trong 1 năm qua có nguy cơ bị stress cao gấp 2,25 lần 
so với nhóm không gặp (OR=2,25; 95%CI: 1,266-4,030; 
p<0,05). Thâm niên công tác, số buổi trực, việc phải chăm 
sóc trường hợp bệnh nặng có khả năng gia tang tình trạng 
stress của điều dưỡng, song các mối liên quan này chưa có 
ý nghĩa thống kế (p>0,05).
III. BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 18,5% điều dưỡng 
bị stress, 22% trầm cảm và 33,3% điều dưỡng lo âu. Tỷ lệ 
stress trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn tỷ lệ nhân 
viên y tế bị stress tại Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, 
Nghệ An (16,8%) nhưng thấp hơn so với tỷ lệ này tại bệnh 
viện 115 Nghệ An (24,5%) trong nghiên cứu của tác giả 
Đậu Thị Tuyết (2013) [3]. Tuy nhiên, tỷ lệ lo âu trong 
nghiên cứu của chúng tôi lại cao hơn so với 2 bệnh viện 
kể trên (31,1% và 26,5%). So với tỷ lệ stress, lo âu, trầm 
cảm ở điều dưỡng viên trong nghiên cứu của tác giả Vũ 
Bá Quỳnh tại khối ngoại Bệnh viện Trung ương Quân đội 
108, tỷ lệ stress, lo âu, trầm cảm của chúng tôi thấp hơn 
nhiều (33,7%; 43% và 29,3%) [4]. Điều này có thể được 
lý giải do bệnh viện 108 là bệnh viện hạng đặc biệt quốc 
gia, có số lượng người bệnh khám và điều trị nội, ngoại trú 
rất lớn. Trong khi đó, bệnh viện của chúng tôi là bệnh viện 
hạng nhất, có cường độ công việc có phần thấp hơn, vì vậy 
tỷ lệ mắc stress thấp hơn là phù hợp. Tỷ lệ stress trong 
nghiên cứu của chúng tôi cũng thấp hơn so với tỷ lệ stress 
trong nghiên cứu của tác giả Lê Thành Tài (2008) thực 
hiện tại ba địa điểm là Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần 
Thơ, Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ và Bệnh viện 
đa khoa Châu Thành - Hậu Giang (45,2%) [5]. Có sự khác 
biệt này có thể do bộ công cụ đánh giá stress, trầm cảm và 
lô âu được sử dụng trong 2 nghiên cứu khác nhau. Nghiên 
cứu của Lê Thành Tài đã sử dụng bộ công cụ của David 
Fontana. còn nghiên cứu của chúng tôi sử dụng bộ công 
cụ DASS 21. Lý do tiếp theo có thể do tác giả thực hiện 
nghiên cứu ở phạm vi 3 bệnh viện, với cỡ mẫu lớn hơn. 
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ thực hiện ở một bệnh viện 
chuyên khoa với cỡ mẫu nhỏ hơn.
Tỷ lệ điều dưỡng viên trong nghiên cứu của chúng 
tôi có mức độ stress, lo âu và trầm cảm nặng và rất nặng 
tương ứng lần lượt là 3,4%, 6,3%, 2,8%. Như vậy mức 
độ stress, lo âu, trầm cảm nặng và rất nặng so với kết quả 
nghiên cứu của Vũ Bá Quỳnh thấp hơn (7,3%; 11,4% và 
3,3%) [4]. So với kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thuý 
thì tỉ lệ đối tượng bị stress nhẹ, vừa ở nghiên cứu của 
chúng tôi thấp hơn (9,1% so với 24,3%; 6% so với 8,1%). 
Giải thích cho những sự khác biệt này có thể do nghiên 
cứu chúng tôi thực hiện trên toàn bộ điều dưỡng viên các 
khối làm việc, kể cả điều dưỡng làm việc trong khối hành 
chính, chứ không chỉ nhóm làm việc tại khối lâm sàng. 
Trong khi đó, đối tượng nghiên cứu Trần Thị Thúy là toàn 
bộ nhân viên y tế khối lâm sàng [6].
Nghiên cứu đã tìm thấy một số yếu tố liên quan tới 
stress ở đối tượng nghiên cứu. Áp lực trong công việc 
cũng là một yếu tố gây lên stress ở người điều dưỡng. 
Nhóm cảm thấy có áp lực trong công việc có nguy cơ 
mắc stress cao gấp 3,08 lần so với nhóm không có áp lực 
(OR=3,08; 95%CI: 1,34-7,097; p<0,05). Kết quả này của 
chúng tôi tương đồng với kết quả nghiên cứu của Trần 
Thị Thu Thuỷ tại bệnh viện Việt Đức năm 2015, theo đó 
những điều dưỡng đánh giá áp lực công việc cao sẽ có 
nguy cơ mắc stress cao gấp 2,513 lần điều dưỡng đánh giá 
áp lực công việc thấp (OR=2,513; 95%CI: 0,860). Trong 
nghiên cứu này, yếu tố có biến cố trong 12 tháng qua đã 
được xác định như yếu tố quan trọng tác động tới stress 
của đối tượng nghiên cứu. Nhóm điều dưỡng đã có biến cố 
trong 1 năm qua có khả năng mắc stress cao gấp 2,25 lần 
so với nhóm không gặp (OR=2,25; 95%CI: 1,266-4,030; 
p<0,05). Loại biến cố đối tượng gặp phải chủ yếu là bản 
thân bị đau ốm, phải nằm viện; sinh con; mất tài sản. Như 
vậy, có thể thấy các áp lực trong cuộc sống gia đình, vấn 
đề sức khoẻ ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ tâm thần của 
người điều dưỡng. Nghiên cứu của chúng tôi chưa tìm 
thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố 
cá nhân, gia đình, thâm niên công tác, số buổi trực, việc 
phải chăm sóc ca bệnh nặng với tình trạng stress của điều 
dưỡng (p> 0,05). Cũng có thể do cỡ mẫu trong nghiên cứu 
này tuy là toàn bộ điều dưỡng của bệnh viện, nhưng chưa 
nhiều (n=318), nên chưa tìm thấy các mối liên quan trên. 
Trong các nghiên cứu của nhiều tác giả khác, có 
nhiều yếu tố liên quan đến công việc được xác định có liên 
quan tới stress ở điều dưỡng viên. Đó là áp lực công việc, 
thời gian làm việc, thường xuyên chăm sóc bệnh nhân 
nặng, áp lực từ người bệnh và người nhà của họ, đối mặt 
với nhiều yếu tố có thể gây bệnh nghề nghiệp, [4], [6], 
[7]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, do đặc thù chuyên 
khoa của bệnh viện về nội tiết và rối loạn chuyển hóa, nên 
số trường hợp bệnh nặng không nhiều như ở các bệnh viện 
đa khoa hoặc chuyên khoa ngoại khác. Có thể vì lý do đó 
nên nghiên cứu chưa tìm thấy nhiều mối liên quan giữa 
yếu tố đặc điểm công việc (thời gian ca, số lần trực/tháng, 
Tập 60 - Số 7-2020
Website: yhoccongdong.vn130
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
thâm niên) với stress ở đối tượng nghiên cứu.
IV. KẾT LUẬN
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ điều 
dưỡng có rối loạn stress, trầm cảm và lo âu tuy không 
cao như kết quả của nghiên cứu ở các bệnh viện hạng đặc 
biệt, nhưng cũng tương đương với kết quả nghiên cứu ở 
một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh. Đặc biệt, nghiên cứu 
đã tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa áp lực 
công việc và có biến cố trong 12 tháng qua với stress ở 
đối tượng nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu này đã cung 
cấp thêm số liệu vào bức tranh sức khỏe tinh thần hiện nay 
của người Việt Nam nói chung và của điều dưỡng viên nói 
riêng. Qua đó cho thấy ngành y tế ở các cấp và xã hội cần 
tăng cường truyền thông đề người sử dụng lao động và 
người lao động nhận thức rõ và biết cách dự phòng về sức 
khỏe tinh thần – một hợp phần quan trọng của sức khỏe 
của mỗi người.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dương Thành Hiệp, Trần Thanh Hải và Tạ Văn Trầm. Tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh bị stress nghề nghiệp tại 
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre năm 2014. Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, 2014, tập 18, phụ bản số 
5: 190-196.
2. Đậu Thị Tuyết. Tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của cán bộ y tế khối lâm sàng tại Bệnh viện đa khoa 115 
Nghệ An năm 2013 và một số yếu tố liên quan. Luận văn thạc sĩ Quản lý bệnh viện, 2013, Trường Đại học Y tế Công 
cộng, Hà Nội.
3. Vũ Bá Quỳnh. Stress nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan của nhân viên điều dưỡng khối ngoại, Bệnh viện 
Trung ương Quân đội 108, năm 2018. Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Y tế công cộng, 2018, Trường đại học Thăng Long.
4. Lê Thành Tài, Trần Ngọc Xuân và Trần Trúc Linh. Tình hình stress nghề nghiệp của nhân viên điều dưỡng. 
Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, 2008, 12(4): 216-223
5. Trần Thị Thúy. Đánh giá trạng thái stress của cán bộ y tế khối lâm sàng Bệnh viện Ung bướu Hà Nội năm 2011. 
Luận văn thạc sỹ Y tế công cộng, 2011, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội.
6. Trần Thị Thu Thuỷ và cộng sự. Tình trạng căng thẳng và một số yếu tố nghề nghiệp liên quan đến căng thẳng 
ở điều dưỡng viên tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2015, Tạp chí Y tế Công cộng, 2016, 40: 20-25.
7. Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường. Stress nghề nghiệp ở nhân viên y tế,. Truy cập ngày 24/07/2019, 
tại trang web https://www.moh.gov.vn/web/phong-chong-benh-nghe-nghiep/thong-tin-hoat-dong/-/asset_publisher/
xjpQsFUZRw4q/content/stress-nghe-nghiep-o-nhan-vien-y-te?inheritRedirect=false
8. Niosh. Stress at work. Truy cập ngày 03/01/2019, tại trang web 

File đính kèm:

  • pdfstress_lo_au_tram_cam_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_o_dieu_duon.pdf