So sánh tỉ lệ trẻ sinh sống giữa chuyển phôi phân chia với phôi nén tại thời điểm 66 ± 2 giờ sau ICSI sử dụng hệ môi trường nuôi cấy đơn bước ở bệnh nhân TTTON

Mục tiêu: So sánh các kết quả lâm sàng của việc chuyển phôi ngày

3 hoặc ở giai đoạn phân chia hoặc có dấu hiệu nén sớm khi được nuôi

cấy trong môi trường nuôi cấy đơn bước (SSM).

Phương pháp: Đoàn hệ tiến cứu được thực hiện tại IVFMD, Bệnh viện

Mỹ Đức. Tiêu chuẩn nhận: phụ nữ trải qua chu kỳ điều trị IVF/ICSI thoả

(i) ≤2 chu kỳ điều trị, (ii) kích thích buồng trứng bằng GnRH antagonist (iii)

phôi được nuôi cấy trong môi trường đơn bước (Life Global®) và (iv) đồng ý

chuyển 2 phôi hoặc ở giai đoạn nén sớm hoặc giai đoạn phân cắt, có 7-9 tế

bào, phân mảnh ≤20%. Kết cục chính là tỷ lệ trẻ sinh sống. Kết cục phụ là

các tỷ lệ: thai lâm sàng, làm tổ, thai diễn tiến, thai ngoài tử cung và sẩy thai.

Kết quả: Từ tháng 12/2016 đến tháng 4/2018, có 430 bệnh nhân được

nhận, tương ứng 215 bệnh nhân mỗi nhóm. Độ tuổi trung bình ở nhóm

được chuyển phôi nén sớm nhỏ hơn đáng kể so với nhóm được chuyển

phôi phân chia (32,7 ± 4,5 so với 33,7 ± 4,7 tuổi; P = 0,03). Hiệu chỉnh

(OR) tỷ lệ trẻ sinh sống khi chuyển phôi nén sớm so với phôi phân chia

vào ngày 3 sau chu kỳ chuyển phôi đầu tiên là 1,02 (95% [CI] 0,69-1,51)

và 0,9 (95% CI 0,57-1,41). Tỷ lệ trẻ sinh sống lần lượt là 32,6% và 33,0%.

Các kết cục phụ khác không có khác biệt thống kê giữa hai nhóm.

Kết luận: Chuyển hai phôi ngày 3 hoặc giai đoạn phân chia hoặc có dấu

hiệu nén sớm cho kết cục thai kì giống nhau khi được nuôi cấy trong SSM

pdf 5 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "So sánh tỉ lệ trẻ sinh sống giữa chuyển phôi phân chia với phôi nén tại thời điểm 66 ± 2 giờ sau ICSI sử dụng hệ môi trường nuôi cấy đơn bước ở bệnh nhân TTTON", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: So sánh tỉ lệ trẻ sinh sống giữa chuyển phôi phân chia với phôi nén tại thời điểm 66 ± 2 giờ sau ICSI sử dụng hệ môi trường nuôi cấy đơn bước ở bệnh nhân TTTON

So sánh tỉ lệ trẻ sinh sống giữa chuyển phôi phân chia với phôi nén tại thời điểm 66 ± 2 giờ sau ICSI sử dụng hệ môi trường nuôi cấy đơn bước ở bệnh nhân TTTON
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
85
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 85 - 89, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
Lưu Thị Minh Tâm, Trần Thị Thuỳ An, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Trần Tú Cầm, Phạm Dương Toàn, Huỳnh Gia Bảo, Hồ Mạnh Tường 
Hope Research Center, Bệnh viện Mỹ Đức
SO SÁNH TỈ LỆ TRẺ SINH SỐNG GIỮA CHUYỂN PHÔI 
PHÂN CHIA VỚI PHÔI NÉN TẠI THỜI ĐIỂM 66 ± 2 GIỜ 
SAU ICSI SỬ DỤNG HỆ MÔI TRƯỜNG
NUÔI CẤY ĐƠN BƯỚC Ở BỆNH NHÂN TTTON
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lưu Thị Minh Tâm,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 22/05/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/07/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 01/09/2019
Tóm tắt
Mục tiêu: So sánh các kết quả lâm sàng của việc chuyển phôi ngày 
3 hoặc ở giai đoạn phân chia hoặc có dấu hiệu nén sớm khi được nuôi 
cấy trong môi trường nuôi cấy đơn bước (SSM). 
Phương pháp: Đoàn hệ tiến cứu được thực hiện tại IVFMD, Bệnh viện 
Mỹ Đức. Tiêu chuẩn nhận: phụ nữ trải qua chu kỳ điều trị IVF/ICSI thoả 
(i) ≤2 chu kỳ điều trị, (ii) kích thích buồng trứng bằng GnRH antagonist (iii) 
phôi được nuôi cấy trong môi trường đơn bước (Life Global®) và (iv) đồng ý 
chuyển 2 phôi hoặc ở giai đoạn nén sớm hoặc giai đoạn phân cắt, có 7-9 tế 
bào, phân mảnh ≤20%. Kết cục chính là tỷ lệ trẻ sinh sống. Kết cục phụ là 
các tỷ lệ: thai lâm sàng, làm tổ, thai diễn tiến, thai ngoài tử cung và sẩy thai. 
Kết quả: Từ tháng 12/2016 đến tháng 4/2018, có 430 bệnh nhân được 
nhận, tương ứng 215 bệnh nhân mỗi nhóm. Độ tuổi trung bình ở nhóm 
được chuyển phôi nén sớm nhỏ hơn đáng kể so với nhóm được chuyển 
phôi phân chia (32,7 ± 4,5 so với 33,7 ± 4,7 tuổi; P = 0,03). Hiệu chỉnh 
(OR) tỷ lệ trẻ sinh sống khi chuyển phôi nén sớm so với phôi phân chia 
vào ngày 3 sau chu kỳ chuyển phôi đầu tiên là 1,02 (95% [CI] 0,69-1,51) 
và 0,9 (95% CI 0,57-1,41). Tỷ lệ trẻ sinh sống lần lượt là 32,6% và 33,0%. 
Các kết cục phụ khác không có khác biệt thống kê giữa hai nhóm. 
Kết luận: Chuyển hai phôi ngày 3 hoặc giai đoạn phân chia hoặc có dấu 
hiệu nén sớm cho kết cục thai kì giống nhau khi được nuôi cấy trong SSM.
Abstract 
Background and aim: In sequential medium culture system, transfer 
of early compacting embryo has been shown to increase pregnancy 
rate. However, data on transfer of early compacting day 3 embryos 
resulted from single step medium (SSM) is limited. The aim of this study 
is to compare the clinical outcomes of trans-fer of early compacting or 
cleavage day-3 embryos cultured in SSM. 
Methods: A prospective cohort study was conducted at IVFMD, My 
Duc Hospital, Viet Nam. Women underwent IVF/ICSI were eligible if 
1. Tổng quan tài liệu
Đánh giá quá trình phát triển của phôi thông 
qua hình thái và động học phân chia vẫn đang 
được sử dụng phổ biến như là một tiêu chuẩn để 
lựa chọn được phôi có tiềm năng nhất để chuyển. Ở 
giai đoạn phân chia, tốc độ phát triển quá nhanh 
hoặc quá chậm sẽ ảnh hưởng đến khả năng làm tổ 
của phôi. Những phôi có số lượng tế bào khác với 
các thông số đã được đưa ra thường cho số lượng 
bất thường nhiễm sắc thể nhiều hơn (Alpha Istanbul 
consensus, 2011). Việc ứng dụng hệ thống quan 
sát hình ảnh liên tục - timelapse trong IVF đã cho 
phép quan sát chi tiết hơn về động học phát triển 
của phôi. Nghiên cứu của Densai (2014) trên những 
phôi được chọn từ timelapse được ghi nhận làm tổ 
thành công (KID+) sẽ có các mốc thời gian biến mất 
của tiền nhân (tPNf) sớm hơn và các thời điểm phân 
chia t2, t3, t5 và t8 nhanh hơn những phôi không 
làm tổ (KID-). Một nghiên cứu khác trên nhóm phôi 
phân mảnh tại trung tâm CARE Fertility cho thấy 
quá trình nén của phôi nếu xảy ra dưới 22 giờ cho 
mối tương quan đáng kể với tỷ lệ thể nguyên bội.
Sự phiên mã của bộ gen phôi mặc dù bắt đầu 
vào ngày 3, nhưng thực sự hoạt động vào ngày 4. 
Những phôi trải qua giai đoạn này có tiềm năng 
phát triển cao và có thể tham gia vào quá trình 
nén và tạo khoang. Trong suốt giai đoạn đầu của 
pha nén, các phôi bào bắt đầu kết dính với nhau 
và khó phân biệt từng tế bào riêng rẽ cũng như 
ranh giới giữa các tế bào dần biến mất cho đến 
khi phôi hoàn toàn nén chặt. Cuối cùng vào cuối 
giai đoạn nén, ranh giới giữa các tế bào xuất hiện 
trở lại, số lượng phôi bào tăng lên và quá trình tạo 
khoang bắt đầu (Tao J, 2002), kết quả hình thành 
phôi nang ở ngày thứ 5. Ngoài ra, chỉ có khoảng 
một nửa số phôi có chất lượng tốt vào ngày 3 trải 
qua quá trình này vào ngày 4. Một số tác giả cho 
rằng sự nén của phôi vào ngày 4 là một tiêu chí 
tốt cho việc lựa chọn phôi và đề nghị chuyển phôi 
ở giai đoạn phôi dâu khi phôi đã nén chặt. Mặc 
dù sự nén thường xảy ra vào ngày 4, nhưng nó có 
thể xảy ra sớm hơn vào ngày 3 trước giai đoạn 8 
tế bào.
Trong khi đó những tài liệu y văn về hiện tượng 
nén sớm do tốc độ phân chia nhanh vào ngày 3 
vẫn còn hạn chế. Sự gia tăng mRNA trong quá 
trình phiên mã trước ngày 3 đại diện cho một số 
LƯU THỊ MINH TÂM, TRẦN THỊ THUỲ AN, NGUYỄN NGỌC QUỲNH, TRẦN TÚ CẦM, PHẠM DƯƠNG TOÀN, HUỲNH GIA BẢO, HỒ MẠNH TƯỜNG
86
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
N
G
H
IÊ
N
 C
Ứ
U
they had (i) ≤2 IVF cycles, (ii) controlled ovarian hyperstimulation by GnRH antagonist protocol (iii) 
embryos cultured in single-step media (Life Global®) and (iv) 2 embryos transferred, either in early 
compacting or cleavage stage and having 7-9 cells, fragmentation ≤20%. Primary outcome was 
on-going pregnancy rate. Secondary outcomes were the rates of clinical pregnancy, implantation, 
ectopic pregnancy, miscarriage and live birth. 
Results: Between December 2016 and April 2018, there were 430 patients recruit-ed, 215 patients 
in each group. The mean age in women from early compacting group was significantly lower than 
that from cleavage group (32.7±4.5 vs. 33.7±4.7, p=0.03, respectively). Ongoing pregnancy rate 
was 36.3% in patients transferred with early compacting embryos and 35.8% in patients transferred 
with cleavage embryos. Crude and adjusted odd ratio (OR) of early compacting com-pared with 
cleavage day-3 embryos for ongoing pregnancy rate after first ET cycle were 1.02 (95% confidence 
interval [CI] 0.69-1.51) and 0.9 (95% CI 0.57-1.41), re-spectively. Other secondary outcomes were 
not statistically significant difference between the two groups. 
Conclusion: In the SSM, transfer of two early compacting or two cleavage day-3 embryo resulted 
in the same pregnancy outcomes.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
87
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 85 - 89, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
lượng nhỏ hoạt động phiên mã của phôi ưu tiên 
ổn định khi số lượng mRNA thuộc dòng mẹ đang 
giảm nhanh chóng và làn sóng phiên mã bộ gen là 
độc lập với số lượng tế bào, xảy ra sớm hơn ngày 
3, ngay cả những phôi có ít hơn 8 tế bào (Dobson, 
2004). Trong nghiên cứu của IwataK và cs., 2014 
cho thấy mặc dù thời gian của quá trình nén dao 
động từ giai đoạn 4–16 tế bào nhưng gần 90% số 
phôi được phân tích bắt đầu nén từ giai đoạn 8 tế 
bào trở đi và vẫn có đến 13,9% số phôi khởi sự nén 
trước giai đoạn 8 tế bào. Javier và cs., (2013) đưa 
ra sự đa dạng thời gian nén của phôi trong suốt 
giai đoạn phát triển vào ngày 3, vẫn có một tỷ lệ 
nhỏ nén trong giai đoạn 55-70 giờ sau ICSI.
Hai nghiên cứu hồi cứu của Skiadass CC, 2006 
và Le Cruguel S, 2013 đưa ra gợi ý rằng hiện tượng 
này lại là một tiên lượng tốt cho tiềm năng phát triển 
của phôi, là một tiêu chí bổ sung cho việc lựa chọn 
phôi. Cụ thể, tỷ lệ làm tổ tương quan chặt chẽ với mức 
độ nén của phôi và xu hướng tỷ lệ thai khi chuyển 
phôi nén được cải thiện cao hơn có ý nghĩa thống 
kê khoảng 3 lần so với phôi chưa nén. Hơn nữa, dấu 
hiệu nén sớm có liên quan mật thiết đến cơ hội làm tổ 
mà không phụ thuộc vào những yếu tố khác như tuổi 
mẹ hay chất lượng phôi (Le Cruguel S, 2013).
Gần đây, nghiên cứu của nhóm tác giả Kim J 
(2017) sử dụng hệ thống timelapse quan sát trên 
phôi chuột tại các mốc thời gian phân cắt và nén. 
Kết quả cho thấy tỷ lệ làm tổ tăng lên đáng kể khi 
lần phân cắt thứ 3 (từ giai đoạn 2 đến giai đoạn 4 
tế bào) diễn ra sớm ≤9 giờ và kèm theo đó là hiện 
tượng nén sớm (từ 2 tế bào lên phôi dâu) ≤40 giờ 
(P<0,05). Ngoài ra, một trong những yếu tố tác 
động đến quá trình phát triển của phôi chính là môi 
trường nuôi cấy. Trong nghiên cứu của Goedele, 
2010 khi so sánh với phôi được nuôi cấy trong môi 
trường chuyển tiếp thì phôi được nuôi cấy trong 
môi trường đơn bước có số phôi bào nhiều hơn 
vào ngày 2 và ngày 3 và cho thấy phôi phát triển 
nhanh hơn trong môi trường đơn bước. 
Như vậy, đã có ghi nhận về hiện tượng phôi 
nén sớm hoặc phôi phát triển nhanh trong môi 
trường nuôi cấy đơn bước ở cả động vật và người. 
Vậy liệu những phôi nén sớm cũng có tiềm năng 
như những phôi vẫn còn phân cắt thường quy đã 
được ghi nhận? Nghiên cứu này sẽ góp phần trả 
lời câu hỏi trên. 
2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu được tiến hành 
tại đơn vị hỗ trợ sinh sản IVFMD trực thuộc bệnh 
viện Đa Khoa Mỹ Đức, từ tháng 12 năm 2016 đến 
tháng 4 năm 2018. Đối tượng thực hiện nghiên cứu 
là những phụ nữ điều trị TTON tại trung tâm thoả 
các tiêu chuẩn nhận sau: (i) trong độ tuổi 18-42, 
sử dụng noãn tự thân (ii) số chu kỳ điều trị IVF ≤2, 
(iii) NMTC được xác định phù hợp chuyển phôi tươi 
ngày 3 và (iv) có ít nhất 2 phôi ngày 3 (7-9 tế bào, 
phân mảnh ≤20%) hoặc đang ở giai đoạn phân 
chia hoặc có hiện tượng nén sớm khi được đánh 
giá chất lượng dựa trên các tiêu chí từ đồng thuận 
Istabul ở mốc thời gian trung bình là 66 ± 2 giờ sau 
ICSI. Tất cả bệnh nhân sẽ được cung cấp văn bản 
thông tin và bản đồng thuận tham gia nghiên cứu.
Ở nhóm phôi phân chia, tối đa 02 phôi thoả 
các tiêu chí trên và chưa có hiện tượng nén sẽ được 
chuyển vào buồng tử cung người phụ nữ. 
Ở nhóm phôi nén, việc đánh giá phôi có dấu 
hiệu nén sớm khi bắt đầu xuất hiện sự liên kết giữa 
các tế bào, có thể nhìn thấy nhưng vẫn có thể đếm 
được số lượng tế bào của phôi thoả các tiêu chí của 
phôi ngày 3 theo đồng thuận. Tối đa 2 phôi có tỷ lệ 
phân mảnh dưới 20% và có dấu hiệu nén sớm này 
sẽ được chuyển vào buồng tử cung người phụ nữ.
Sau 14 ngày chuyển phôi, bệnh nhân được hẹn 
thử thai (beta-hCG). Yếu tố đánh giá kết quả chính 
là tỷ lệ thai diễn tiến. Ngoài ra các yếu tố phụ khác 
bao gồm: tỷ lệ làm tổ, tỷ lệ thai lâm sàng, tỷ lệ thai 
ngoài tử cung, tỷ lệ sẩy thai và tỷ lệ trẻ sinh sống.
Các số liệu sẽ được trình bày dưới dạng giá trị 
trung bình ± độ lệch chuẩn hay dưới dạng phần trăm. 
Sự khác biệt giữa các giá trị trung bình được kiểm định 
bằng Stu-dent’s t-test. Các giá trị phần trăm được kiểm 
định sự khác biệt bằng Chi-square test. Ngưỡng khác 
biệt có ý nghĩa thống kê được xác định khi P< 0,05.
Hình 1: Phôi ngày 3 được chuyển có dấu hiệu nén sớm (A) và phôi ngày 3 phân chia (B)
LƯU THỊ MINH TÂM, TRẦN THỊ THUỲ AN, NGUYỄN NGỌC QUỲNH, TRẦN TÚ CẦM, PHẠM DƯƠNG TOÀN, HUỲNH GIA BẢO, HỒ MẠNH TƯỜNG
88
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
N
G
H
IÊ
N
 C
Ứ
U
3. Kết quả
Từ tháng 12 năm 2016 đến hết tháng 4 năm 
2018, tổng cộng 430 phụ nữ thực hiện TTON tại 
trung tâm đồng ý tham gia nghiên cứu với 215 
bệnh nhân ở mỗi nhóm.
 Các đặc điểm của bệnh nhân, kết quả phôi học 
và kết cục lâm sàng sau chuyển phôi trong nghiên 
cứu được đưa ra trong Bảng 1,2,3. 
Đặc điểm khảo sát Nhóm phôinén sớm
Nhóm phôi
phân cắt Giá trị p
Tuổi người vợ (năm) 32,7±4,5 33,7±4,7 0,03
AMH (ng/ml) 4,0±2,5 3,7±2,7 0,34
BMI (kg/m2) 21,3±2,6 21,2 ±2,5 0,56
Thời gian vô sinh (năm) 4,3±3,2 4,0±3,4 0,32
Số chu kỳ TTTON (%)
• 1
• 2
182 (84,7)
33 (15,3)
176 (81,9)
39 (18,1)
0,52
Chỉ định TTTON (%)
• Bất thường tinh trùng
• Giảm dự trữ buồng trứng
• Tai vòi
• Chưa rõ nguyên nhân
• Khác
62 (28,8)
47 (21,9)
37 (17,2)
43 (20,0)
26 (12,1)
58 (27,0)
61 (28,4)
38 (17,7)
24 (11,2)
34 (15,7)
0,1
Bảng 1. Đặc điểm nền bệnh nhân thuộc nghiên cứu
Đặc điểm khảo sát
Nhóm phôi nén 
sớm
(n=215)
Nhóm phôi 
phân cắt 
(n=215)
Giá trị p
Số noãn chọc hút được (mean 
(sd)) 12,63±4,99 11,76±5,17 0,75
Số noãn trưởng thành (mean (sd)) 10,25±4,18 9,74 ±4,48 0,23
Tỷ lệ thụ tinh (%) (mean (sd)) 81,44±15,86 80,95±15,52 0,82
Thời điểm kiểm tra phôi ngày 3 
(giờ) (mean (sd)) 66,00±1,14 66,54±1,07 0,89
Tỷ lệ phôi hữu dụng ngày 3(%) 
(mean (sd)) 63,81±2,95 67,34±3,98 0,76
Độ dày NMTC (mm) ngày chuyển 
phôi 12,0±7,2 11,5±1,5 0,36
Bảng 2. Kết quả phôi học
Bảng 3. Kết quả lâm sàng sau chuyển phôi giữa 2 nhóm
4. Bàn luận
Kết quả tỉ lệ thai giữa 2 nhóm chuyển phôi 
nén sớm và chuyển phôi phân cắt lần lượt là 
53% và 46% (p = 0,177), tỉ lệ này không khác 
nhau rõ rệt nhưng có xu hướng cao hơn ở nhóm 
chuyển phôi nén sớm. Tỉ lệ thai trung bình tất 
cả các trường hợp điều trị TTTON tại IVFMD là 
36% khi chuyển phôi thường quy (hoặc phân 
cắt, hoặc nén sớm hoặc hỗn hợp), và theo tác 
giả Le Cruguel (2013) khi chuyển phôi có ít nhất 
1 phôi nén chặt (1 phôi hoặc cả 2 phôi) thì tỉ lệ 
thai sẽ tăng lên khoảng 14% và kết quả tỉ lệ thai 
ở 2 nhóm trong nghiên cứu giữa 2 nhóm chuyển 
phôi nén sớm và chuyển phôi phân cắt có sự 
tăng lên rõ rệt, cụ thể, nếu chuyển 2 phôi nén 
sớm thì beta-hCG đạt được là 53% (tăng 17%) 
so với chỉ chuyển phôi phân cắt là 46% (tăng 
10%). Không có sự khác biệt thống kê các yếu tố 
phụ còn lại. Xu hướng sẩy thai trước 12 tuần cao 
hơn ở nhóm chuyển phôi nén sớm nhưng chưa rõ 
rệt, cụ thể là 6,5% so với 2,8% (p = 0,109). Tỷ 
lệ thai diễn tiến đạt được giữa 2 nhóm là 35,9% 
và 36,3% (p = 0,99). Đây là nghiên cứu đầu 
tiên ghi nhận tỉ lệ trẻ sinh ra có sức sống ra đời 
khoẻ mạnh khi chuyển phôi nén sớm, tỉ lệ giữa 2 
nhóm nén sớm so với phân cắt lần lượt là 32,6% 
và 33,0% (p = 0,99). 
Từ các tỉ lệ trên có thể thấy dấu hiệu nén sớm 
là một dự đoán cho khả năng phát triển của 
phôi với các kết quả lâm sàng sau chuyển phôi 
hoàn toàn tương đương nhóm phôi phân cắt 
được chuyển thường quy đã được nghiên cứu rất 
nhiều trên thế giới, đối lập lại với một số nghiên 
cứu cho rằng tốc độ phát triển của phôi quá 
nhanh hoặc quá chậm có liên quan đến sự lệch 
bội của phôi. Như vậy có thể phôi phát triển 
đúng tốc độ nhưng có dấu hiệu gia tăng các liên 
kết các tế bào và dấu hiệu này không ảnh hưởng 
đến tốc độ phân chia sau đó của phôi.
5. Kết luận
Đây là nghiên cứu đầu tiên về kết quả lâm 
sàng thực hiện so sánh giữa nhóm chuyển phôi 
nén sớm với nhóm chuyển phôi phân cắt thường 
quy đã có chuẩn đánh giá cụ thể khi được nuôi 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
89
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 85 - 89, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
cấy trong hệ môi trường đơn bước. Theo kết quả 
thu nhận được, dấu hiệu nén sớm ở phôi khi 
được nuôi cấy trong hệ môi trường đơn bước 
bước đầu ghi nhận không có ảnh hưởng đến 
tiềm năng phát triển của phôi. Từ đó, tiêu chí 
đánh giá phôi tại IVFMD đã bổ sung tiêu chí 
nén sớm là một trong những tiên lượng cho tiềm 
năng phát triển của phôi.
Tài liệu tham khảo
1. Alpha Scientists in Reproductive Medicine and ESHRE Special 
Interest Group of Embryology, Balaban B., Brison D., et al. (2011). The 
Istanbul con-sensus workshop on embryo assessment: proceedings of 
an expert meeting. Human Reproduction 26(6), 1270–1283.
2. Desai N., Ploskonka S., Goodman L.R., et al. (2014). Analysis of 
embryo morphokinetics, multinucleation and cleavage anomalies 
using continuous time-lapse monitoring in blastocyst transfer cycles. 
Reproductive Biology and Endocrinology 12(1), 54.
3. Tao J., Tamis R., Fink K., et al. (2002). The neglected morula/compact 
stage embryo transfer. Human Reproduction 17(6), 1513–1518.
4. Dobson A.T., Raja R., Abeyta M.J., Taylor T., Shen S., Haqq C., 
ReijoPera R. A. (2004). The unique transcriptome through day 3 of 
human preimplanta-tion development. Hum. Mol. Genet. 13, 1461–1470.
5. Iwata K., Yumoto K., Sugishima M., et al. (2014). Analysis of compaction 
in-itiation in human embryos by using time-lapse cinematography. Journal 
of Assisted Reproduction and Genetics 31(4), 421–426.
6. Skiadas C., Jackson K., Racowsky C. (2006). Early compaction on 
day 3 may be associated with increased implantation potential. Fertility 
and Sterility 86(5), 1386–1391.
7. Le Cruguel S., Ferré-L’Hôtellier V., Morinière C., et al. (2013). Early 
com-paction at day 3 may be a useful additional criterion for embryo 
transfer. Journal of Assisted Reproduction and Genetics 30(5), 683–690.
8. Kim J., Kim S.H., Jun J.H. (2017). Prediction of blastocyst 
development and implantation potential in utero based on the third 
cleavage and compaction times in mouse pre-implantation embryos. 
Journal of Reproduction and De-velopment 63(2), 117–125.

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_ti_le_tre_sinh_song_giua_chuyen_phoi_phan_chia_voi_p.pdf