So sánh LABA/LAMA và ICS/LABA trong điều trị COPD dựa trên kiểu hình của bệnh tại Nhật Bản
Việc sử dụng kết hợp các thuốc giãn phế quản khác nhóm với nhau, ví dụ đồng vận β2 tác dụng
kéo dài (LABA) và ức chế thụ thể muscarin tác dụng kéo dài (LAMA), tác dụng giãn phế quản một
cách trực tiếp từ sự kích thích các thụ thể β2 qua LABA và gián tiếp nhờ tác dụng LAMA lên sự
ức chế hoạt động của acetylcholine trên thụ thể muscarin. Các dữ liệu thực nghiệm lâm sàng của
LABA/LAMA trong điều trị bệnh phổi tắt nghẽn mạn tính (COPD) tiếp tục mang lại nhiều hứa hẹn
và những kết hợp này cho thấy tính thuận lợi của việc phối hợp 2 nhóm giãn phế quản chính yếu,
được khuyến cáo như lựa chọn đầu tay trong điều trị duy trì ở các hướng dẫn điều trị COPD. COPD
là tình trạng phức tạp có biểu hiện của phổi và các cơ quan ngoài phổi. Những biểu hiện lâm sàng
thay đổi rất khác nhau và chúng có liên quan với các đáp ứng khác nhau với các điều trị hiện hành
đang được áp dụng
Tóm tắt nội dung tài liệu: So sánh LABA/LAMA và ICS/LABA trong điều trị COPD dựa trên kiểu hình của bệnh tại Nhật Bản
Hô hấp số 12/2017 Hô hấp số 12/2017 DỊCH 50 SO SÁNH LABA/LAMA VÀ ICS/LABA TRONG ĐIỀU TRỊ COPD DỰA TRÊN KIỂU HÌNH CỦA BỆNH TẠI NHẬT BẢN Dịch từ: LAMA/LABA vs ICS/LABA in the treatment of COPD in Japan based on the disease phenotypes. International Journal of COPD 2015:10 1093–1102 NOBUYUKI HIZAWA Khoa Phổi, Khoa Y, Đại học Tsukuba, Ibaraki, Japan Tóm tắt Việc sử dụng kết hợp các thuốc giãn phế quản khác nhóm với nhau, ví dụ đồng vận β2 tác dụng kéo dài (LABA) và ức chế thụ thể muscarin tác dụng kéo dài (LAMA), tác dụng giãn phế quản một cách trực tiếp từ sự kích thích các thụ thể β2 qua LABA và gián tiếp nhờ tác dụng LAMA lên sự ức chế hoạt động của acetylcholine trên thụ thể muscarin. Các dữ liệu thực nghiệm lâm sàng của LABA/LAMA trong điều trị bệnh phổi tắt nghẽn mạn tính (COPD) tiếp tục mang lại nhiều hứa hẹn và những kết hợp này cho thấy tính thuận lợi của việc phối hợp 2 nhóm giãn phế quản chính yếu, được khuyến cáo như lựa chọn đầu tay trong điều trị duy trì ở các hướng dẫn điều trị COPD. COPD là tình trạng phức tạp có biểu hiện của phổi và các cơ quan ngoài phổi. Những biểu hiện lâm sàng thay đổi rất khác nhau và chúng có liên quan với các đáp ứng khác nhau với các điều trị hiện hành đang được áp dụng. Quan niệm về kiểu hình COPD đang nhanh chóng được lan rộng từ việc chú trọng vào đăc điểm lâm sàng đến sự kết nối sinh học cơ bản với kiểu hình của bệnh. Việc xác định những nét đặc trưng về các kiểu hình khác nhau của COPD sẽ cho phép chúng ta thực hiện cá thể hóa trong điều trị cho những bệnh nhân có đặc điểm riêng biệt, cùng với kiểu gien của bệnh và sẽ là chìa khóa cho chọn lựa điều trị tốt nhất. Hiện nay tại Nhật Bản, việc cho thuốc dạng phối hợp dạng cố định corticoid hít (ICS) và LABA thường áp dụng trong giai đoạn sớm của bệnh COPD. Tuy nhiên, ICS làm tăng nguy cơ viêm phổi. Đáng lưu ý, có 10-30% bệnh nhân COPD có hay không tiền sử hen có bạch cầu ái toan lưu hành tăng cao và dai dẳng kết hợp với tăng nguy cơ đợt cấp và nhạy cảm với steroid. Vì thế việc đếm bạch cầu ái toan trong đàm và máu có thể xác định phân nhóm dân cư mà ICS có thể gây hại trên cơ trơn đường thở hay phân nhóm dân cư dùng ICS có lợi. Trong tổng quan này, tôi đề xuất một tiếp cận có thể thực hiện được cho sự xác định vị trí ICS và LABA/LAMA trong thực hành lâm sàng dựa trên cả mức độ tắc nghẽn lưu lượng dòng khí và sự hiện diện của yếu tố hen hay hiện tượng viêm có tăng bạch cầu ái toan. Tiếp cận này là một bước tiến phác thảo hướng về cá thể hóa trong điều trị COPD cho bệnh nhân và với kiến thức cũng như những tiến bộ về sinh lý, hình ảnh phổi, y sinh học và di truyền, việc xác định các kiểu hình COPD để mang lại thông tin cho tiên lượng và điều trị có thể tác động đến kết cục lâm sàng một cách có ý nghĩa và là nhu cầu y học cấp bách. Từ khóa: Kiểu hình COPD, Kết hợp LABA/LAMA, ICS. Người dịch: ThS.BS Huỳnh Anh Tuấn Khoa Nội BV Hoàn Mỹ Cửu Long E-mail: [email protected] Hô hấp số 12/2017 Hô hấp số 12/2017 DỊCH 51 SỬ DỤNG LAMA/LABA TRONG ĐIỀU TRỊ COPD Hai nhóm thuốc giãn phế quản chủ lực phát triển trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là đồng vận β2 và kháng muscarinic. Thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài như tiotropium, formoterol và salmeterol đã chứng minh hiệu quả cải thiện lâu dài trên chức năng phổi và ngăn ngừa đợt cấp cho bệnh nhân bị COPD 1–3. Các thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài cũng làm giảm tình trạng căng phế nang và giảm khó thở, làm tăng sức bền vận động(4),(5). Cơ trơn của đương thở giãn ra (làm cho phế quản được giãn ra) có thể gây ra bằng 2 con đường: ức chế tác động của acetylcholine thông qua thụ thể muscarinic M3 trên cơ trơn đường thở hay kích thích thụ thể β2 (β2-adrenoceptors) bằng đồng vận β2.(6) Tương tác giữa 2 hệ thống này đến nay vẫn chưa được biết rõ; tuy nhiên β2- agonists có thể khuếch đại sự giãn cơ trơn phế quản trực tiếp gây ra từ kháng muscarin do làm giảm sự phóng thích acetylcholine qua sự điều hòa của vận truyền thần kinh giao cảm. Hơn nữa, trong các mô hình tiền lâm sàng, kháng muscarin đã được chứng minh làm giãn phế quản nhiều hơn do kích thích từ đồng vận β2 vì giảm hiệu quả có thắt phế quản của acetylcholine. Một cách lý tưởng hóa, tập trung vào 2 cơ chế co thắt phế quản có tiềm năng gây đáp ứng giãn phế quản tối đa mà không làm tăng liều của các thành phần nào, có thể giúp khắc phục sự khác biệt giữa các bệnh nhân và với chính bản thân họ trong đáp ứng của từng cá thể được quan sát ở COPD. Sự phân bố theo từng vùng và tỉ lệ tương đối của các thụ thể muscarinic acetylcholine receptor (mAChR) và các thụ thể β-adrenoceptor dưới nhóm được đánh giá trong phế quản và nhu mô phổi của người(7). Phân nhóm M3 chiếm ưu thế ở trên phế quản, nhưng mật độ giảm từ phế quản phân thùy đến các phế quản phân nhánh tiếp theo và không hiện diện ở nhu mô phổi. β2- adrenoceptors tăng dọc theo đường thở và mật độ ở các phế quản dưới phân thùy và nhu mô phổi chiếm gấp đôi so mật độ của mAChRs trên cùng một vùng. Sự phân bố khác biệt này của các thụ thể cũng có thể là cơ sở của tăng hiệu quả sử dụng phối hợp đồng vận β2 tác dụng kéo dài (LABA) và ức chế thụ thể muscarinic tác dụng dài (LAMA) cho bệnh nhân COPD. Một nghiên cứu tiến hành trên đường thở bệnh nhân không có tiền sử bệnh đường thở mạn cũng gợi ý rằng sự kết hợp LABA và LAMA trong điều trị COPD có thể có cơ sở hợp lý nhờ có được lợi ích hiệp đồng trên sự giãn cơ trơn đường thở nhỏ và trung bình (8). Các tương tác dược lý được đề xuất của LAMA và LABA đã được hỗ trợ từ bằng chứng lâm sàng gợi ý đến việc cải thiện chức năng phổi (thể tích khí thở ra gắng sức trong một giây (forced expiratory volume in 1 second; FEV1) tốt hơn một cách có ý nghĩa khi kết hợp LABA và LAMA hơn là dùng từng thuốc riêng rẽ (3),(9)– (11) và những cải thiện như vậy được duy trì lâu dài.(12,13) Những nghiên cứu này cũng chỉ ra sự kết hợp LAMA/LABA có hiệu quả về mặt cải thiện kết cục bệnh nhân như triệu chứng, tình trạng sức khỏe, sự cần thiết khi dùng thuốc khi cần khi so với điều trị bằng một thứ thuốc.(3),(9),(10) Sự thay đổi về FEV 1 sau khi điều trị với giãn phế quản có thể ít; tuy nhiên đáp ứng giãn phế quản ở bệnh COPD là thứ phát đưa đến những thay đổi mà chúng có liên quan đến các thể tích phổi tĩnh phản ánh bởi thể tích khí cặn và dung tích cặn chức năng vân vân cũng như một nhóm dân số có thể được lợi từ ICS hơn là các thông số về lưu lượng (14), kèm theo những thay đổi lớn hơn trên thể tích phổi, điều này sẽ làm giảm cảm giác khó thở(15). Hơn nữa, việc giãn phế quản cũng chi phối đến các tái cấu trúc của đường thở nhỏ vì thuốc lá gây ra, điều này dẫn đến các thay đổi trên mô nhầy, các dạng sợi và/hoặc xơ, viêm tại phổi và toàn thân, và tái tạo mạch máu(16). Các thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài cũng có thể làm giảm tần suất các đợt cấp, một phần là do giảm tình trạng căng phổi và tái thiết lập chức năng phổi động.(17) Trong nghiên cứu về việc loại bỏ corticoid hít trong tối ưu hóa quản lý các thuốc giãn phế quản (Withdrawal of Inhaled Steroids during Optimized Bronchodilator Management - WISDOM) , Magnussen và cs18 báo cáo rằng việc loại bỏ corticoid hít (ICS) không có tác động có ý nghĩ trên đợt cấp của những bệnh Hô hấp số 12/2017 Hô hấp số 12/2017 DỊCH 52 nhân COPD nặng. Kết quả này có thể gợi đến sự hiện diện của phân nhóm bệnh nhân COPD không cần ICS ngay cả khi họ có tắc nghẽn lưu lượng khí nặng. Các nghiên cứu trong tương lai sẽ xem xét những nhóm bênh nhân có thể có lợi khi dùng 2 thuốc giãn phế quản, cùng với lợi ích của việc sử dụng tiếp cận này cho điều trị duy trì ban đầu. Việc kết hợp thuốc xịt với liều cố định (Ultibro®, Novartis International AG, Basel, Switzerland và Anoro™, GlaxoSmithKline plc, London, UK) gồm LABA và LAMA hiện tại đã có sẵn tại Nhật. Ultibro, sự phối hợp indacaterol/ glycopyrronium là thuốc thương mại đầu tiên tại Nhật dạng kết hợp dùng một lần mỗi ngày gồm LAMA và LABA. Anoro, kết hợp giữa umeclidinium/vilanterol, là thuốc đầu tiên sử dụng một lần mỗi ngày được chấp thuận tại Mỹ. Các kết hợp trên có hiệu quả tác động nhanh hơn tiotropium và có ít tác dụng phụ, đặc biệt khi so với các thuốc có corticoid. Trong tương lai gần, việc kết hợp thuốc cố định liều giữa tiotropium và một thuốc LABA mới khác sử dụng một lần/ ngày là olodaterol cũng sẽ được sử dụng tại Nhật. Olodaterol có tác dụng chọn lọc cao và gần như có tác động đồng vận β2 đầy đủ đảm bảo việc giãn phế quản 24 giờ cho bệnh nhân COPD.(19) Việc sự dụng mỗi ngày một lần dường như thuận tiện hơn và có thể làm tăng sự tuân thủ điều trị, việc này đưa đến việc cải thiện các kết cục lâm sàng toàn thể ở bệnh nhân COPD(20). DỊCH TỄ HỌC VÀ ĐIỀU TRỊ COPD TẠI NHẬT Ở Nhật Bản, có hơn 95% bệnh nhân COPD liên quan đến việc hút thuốc lá bởi vì dầu và gas, hơn cả nhiên liệu biomass, được sử dụng khắp đất nước. Nghiên cứu Dịch tễ học về COPD của Nhật (Nippon COPD Epidemiology (NICE) trên 2.343 người cho thấy tần suất mắc bệnh COPD ở Nhật cũng tương đương với các nước đã phát triển khác(21). Đây là nghiên cứu đầu tiên sử dụng hô hấp ký để xác định tần suất về giới hạn luồng khí ở Nhật và cho thấy có hơn 5.3 triệu người-8.5% dân số có độ tuổi từ 40 trở đi-nên được chẩn đoán COPD dựa trên tiêu chuẩn của GOLD (FEV 1 / FVC <70%). Tần suất này cao hơn hẳn so với tần suất COPD ước tính từ Bộ Y Tế, gợi ý đến tỉ lệ bệnh nhân COPD còn rất cao nhưng không được chẩn đoán ở Nhật. Một nghiên cứu khác cũng tại Nhật (N=1,040) cũng cho thấy những bệnh nhân COPD chưa được chẩn đoán còn cao với 27% bệnh nhân COPD được phát hiện trong số những bệnh nhân đang điều trị bệnh lý khác ngoài các bệnh phổi mạn tính tại cơ sở y tế ban đầu.(22) Có khoảng 61% bệnh nhân bị COPD từ trung bình đến nặng phân loại theo tiêu chuẩn quốc tế (FEV 1 <80% giá trị dự đoán). Tuy nhiên, có đến 31.3% không được can thiệp bởi bất cứ biện pháp lâm sàng nào (khuyên cai thuốc lá và/hoặc dùng thuốc). Một nghiên cứu khác xác định tỉ lệ bệnh nhân Nhật Bản có tiền sử hút thuốc lá và được điều trị bệnh tim mạch có giới hạn lưu lượng khí tương đương với COPD. (23) Nghiên cứu này (N=995) cho thấy ¼ bệnh nhân ngoại trú có bệnh tim mạch mắc COPD, nhưng hầu hết trong số họ đều chưa được chẩn đoán. Tần suất của hạn chế lưu lượng dòng khí tương ứng với COPD là 27.0% và 87.7% trong số những bệnh nhân này không được chẩn đoán COPD trước đó. Một khảo sát toàn cầu trên bệnh nhân COPD đã được bác sĩ chẩn đoán hay khí phế thủng hoăc bác sĩ chẩn đoán dựa trên triệu chứng viêm phế quản mạn tính cho thấy tần suất COPD là 7% ở dân cư Nhật có tuổi từ 40 trở đi.(24)Sự phân bố về kiểu hình, liên quan đến viêm đường thở và toàn thân,bên cạnh tắc nghẽn đường thở, cũng tương ứng với các kết quả của những nghiên cứu của các nước Âu Mỹ.(25) Một khảo sát toàn cầu(24) cũng xác định COPD gây tác hại nặng nề cho cá nhân và xã hội, minh chứng từ mức độ nặng của triệu chứng, tình trạng sức khỏe kém và tần suất cao của các đợt cấp nặng. Dựa vào tần suất hút thuốc lá còn cao tại Nhật, tần suất được dự đoán của bệnh có lẽ sẽ tăng lên trong 20-40 năm tới và gánh nặng COPD còn tăng lên nữa. Hội Hô Hấp Nhật Bản công nhận việc truyền bá của GOLD gần đây (26) là sự đóng góp to lớn trên toàn thế giới nhằm chống lại bệnh COPD. Nhấn mạnh việc phơi nhiễm thuốc lá như là nguyên nhân chính gây bệnh, các hướng dẫn điều trị của Nhật Bản mô tả COPD như: Hô hấp số 12/2017 Hô hấp số 12/2017 DỊCH 53 Một bệnh thường gặp có thể ngăn ngừa và chữa được, có đặc tính là tác nghẽn lưu lượng dòng khí dai dẳng và bệnh luôn diễn tiến nặng dần và kết hợp với tình trạng viêm mạn tính đường thở tăng lên khi đáp ứng các phần tử độc hại như hơi khí, mà chủ yếu là phơi nhiễm khói thuốc lá.(27) Ngay khi đã chẩn đoán COPD và xác định mức độ nặng của nó, biện pháp điều trị bằng phương pháp dùng thuốc hay không dùng thuốc nhằm mục đích giảm các triệu chứng và đợt cấp (hình 1). Các đồng vận β2 tác dụng ngắn (SABA) hay kháng thụ thể muscarin tác dụng ngắn (SAMA) được sử dụng khi có nhu cầu cơ bản nhằm giảm triệu chứng trong giai đoạn sớm. Hướng dẫn của Nhật Bản hiện hành đã khuyến cáo xem xét đơn trị liệu về việc sử dụng thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài (LAMA hoăc LABA) trên bệnh nhân COPD mức độ trung bình để tối ưu hóa lợi ích cho triệu chứng của bệnh nhân.(27) Nếu các triệu chứng vẫn tồn tại dai dẳng sau đơn trị liệu thì kê toa phối hợp LABA/LAMA cho bệnh nhân. Mặc dù sự sắp xếp tốt nhất của đơn trị liệu và việc kết hợp LAMA/LABA có vị trí trong lưu đồ điều trị của bệnh nhân COPD vẫn còn chưa chắc chắn, các bằng chứng đươc công bố hiện nay ủng hộ cho việc sử dụng việc điều trị bằng phối hợp LAMA và LABA ở bệnh nhân COPD ở các giai đoạn tiến xa (9–11),(18). ICS kết hợp với giãn phế quản tác dụng kéo dài được chỉ định ở những bệnh nhân có nguy cơ đợt cấp và/hoặc những bệnh nhân có hội chứng chồng lấp hen và COPD (ACOS) nhưng không bao giờ sử dụng như đơn trị liệu.(28) Mặc dù việc xác định các yếu tố lâm sàng nhằm tiên đoán sự đáp ứng với corticoid ở bệnh nhân COPD chưa được xác định trong các thử nghiệm lâm sàng lớn, kiểu hình chồng lấp với hen có đáp ứng điều trị tốt với ICS với giãn phế quản kèm theo.(29) Hướng dẫn hiện hành trong việc điều trị của Nhật Bản khuyến cáo sử dụng ICS/LABA cho những bệnh nhân có triệu chứng và khuynh hướng bị đợt cấp, mặc dù thị trường COPD tại Nhật chiếm ưu thế với LAMA tiotropium và ICS/LABA kết hợp salmeterol/fluticasone propionate (SFC), bất kể sự hiện diện hay không của bệnh hen phế quản kèm theo. Tại Nhật, đợt cấp COPD được ghi nhận với tần suất thấp; nghiên cứu đoàn hệ Hokkaido COPD trên 279 bệnh nhân cho thấy tần suất rất thấp các đợt cấp qua 5 năm theo dõi. (30) Tần suất đợt cấp (số lần trên bệnh nhân trên năm) là 0.06 cho các đợt nhập viện được xác định. Trong nghiên cứu này, 73% người tham dự có sử dụng một số thuốc hằng ngày, 52% sử dụng kháng cholinergic, 35% đồng vận β2, 44% theophylline, và 14% ICS. Tần suất đợt cấp thấp nằm trong số các yếu tố chính tác động đến lựa chọn điều trị tại Nhật. Một nghiên cứu khác cũng cho thấy lần lượt 38.7%, 35.1%, 32.0% và 37.6% bệnh nhân COPD ở các nước châu Á sử dụng theo phylline, một thuốc xịt có phối hợp corticoid và LABA, hít SABA và xịt LAMA.(31) Cách dùng mỗi thuốc dường như khác cho bệnh nhân ở các nước Âu- Mỹ. Đặc biệt là Theophylline là thuốc dùng chiếm ưu thế và có vẻ dùng nhiều hơn nếu so sánh với các nước Âu-Mỹ.(32) Ngoài ta,Tulobuterol qua đường dán da thường được sử dụng tại Nhật. Việc hình thành công thức của tulobuterol nhằm duy trì nồng độ thuốc với nồng độ hiệu quả và hằng định trong suốt 24 giờ khi sử dụng một lần mỗi ngày. Hiệu quả của thuốc trên bệnh nhân COPD được khảo sát trong một nghiên cứu so sánh ngẫu nhiên s ... 45:135–143. 9. 9. Tashkin DP, Donohue JF, Mahler DA, et al. Effects of arformoterol twice daily, tiotropium once daily, and their combination in patients with COPD. Respir Med. 2009;103:516–524. 10. 10. van Noord JA, Aumann JL, Janssens E, et al. Comparison of tiotropium once daily, formoterol twice daily and both combined once daily in patients with COPD. Eur Respir J. 2005;6:214– 222. 11. Mahler DA, D’Urzo A, Bateman ED, et al. Concurrent use of indacaterol plus tiotropium in patients with COPD provides superior bronchodilation compared with tiotropium alone: a randomised, double-blind comparison. Thorax. 2012;67:781–788. 12. 12. Aaron SD, Vandemheen KL, Fergusson D, et al. Tiotropium in combination with placebo, salmeterol, or fluticasone-salmeterol for treatment of chronic obstructive pulmonary disease: a randomized trial. Ann Intern Med. 2007;146(8):545–555. 13. Dahl R, Chapman KR, Rudolf M, et al. Safety and efficacy of dual bronchodilation with QVA149 in COPD patients: the ENLIGHTEN study. Respir Med. 2013;107(10):1558–1567. 14. Santus, et al. Assessment of acute bronchodilator effects from specific airway resistance changes in stable COPD patients. Respir Physiol Neurobiol. 2014;197:36–45. 15. Martin J, Carrizo S, Gascon M, et al. Inspiratory capacity, dynamic hyperinflation, breathlessness, and exercise performance during the 6-minute- walk test in chronic obstructive pulmonary disease. Am JRespir Crit Care Med. 2001;163:1395–1399. 16. Matarese A, Santulli G. Angiogenesis in chronic obstructive pulmonary disease: a translational appraisal. Transl Med Uni Sa. 2012;3:49–56. 17. Wedzicha J, Decramer M, Seemungal T. The role of bronchodilator treatment in the prevention of exacerbations of COPD. Eur Respir J.2012;40:1545–1554. Hô hấp số 12/2017 Hô hấp số 12/2017 DỊCH 61 18. Magnussen H, Disse B, Rodriguez-Roisin R, et al. Withdrawal of inhaled glucocorticoids and exacerbations of COPD. N Engl J Med. 2014;371:1285–1294. 19. Buhl R, Maltais F, Abrahams R, et al. Tiotropium and olodaterol fixeddose combination versus mono-components in COPD (GOLD 2–4).Eur Respir J. 2015;45(4):969–979. 20. Claxton AJ, Cramer J, Pierce C. A systematic review of the associations between dose regimens and medication compliance. Clin Ther.2001;23(8):1296–1310. 21. Fukuchi Y, Nishimura M, Ichinose M, et al. COPD in Japan: the Nippon COPD Epidemiology study. Respirology. 2004;9:458–465. 22. Takahashi T, Ichinose M, Inoue H, et al. Underdiagnosis and undertreatment of COPD in primary care settings. Respirology. 2003;8:504– 508. 23. Onishi K, Yoshimoto D, Hagan GW, et al. Prevalence of airflow limitation in outpatients with cardiovascular diseases in Japan. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis. 2014;9:563–568. 24. Landis SH, Muellerova H, Mannino DM, et al. Continuing to confront COPD international patient survey: methods, COPD prevalence, and disease burden in 2012–2013. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis. 2014;9:597–611. 25. Ishikawa N, Hattori N, Kohno N, et al. Airway inflammation in Japanese COPD patients compared with smoking and nonsmoking controls.Int J Chron Obstruct Pulmon Dis. 2015;10(1):185–192. 26. Pauwels RA, Buist AS, Calverley PM, et al. Global strategy for the diagnosis, management, and prevention of chronic obstructive pulmonary disease. GOLD executive summary. Am J Respir Crit Care Med. 2001;163:1256–1276. 27. The Japanese Respiratory Society. Guidelines for the Diagnosis and Treatment of COPD. 4th ed. Tokyo, Japan: Japanese Respiratory Society; 2013. 28. Vestbo J, Hurd SS, Agusti AG, et al. Global strategy for the diagnosis, management and prevention of chronic obstructive pulmonary disease, GOLD executive summary. Am J Respir Crit Care Med. 2013;187:347–365. 29. Pizzichini E, Pizzichini MM, Gibson P, et al. Sputum eosinophilia predicts benefit from prednisone in smokers with chronic obstructive bronchitis. Am J Respir Crit Care Med. 1998;158(5):1511–1517. 30. Suzuki M, Makita H, Ito YM, et al. Clinical features and determinants of COPD exacerbation in the Hokkaido COPD cohort study. Eur Respir J.2014;43(5):1289–1297. 31. Oh YM, Bhome AB, Boonsawat W, et al. Characteristics of stable chronic obstructive pulmonary disease patients in the pulmonology clinics of seven Asian cities. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis. 2013;8:31–39. 32. Seaman J, Leonard AC, Panos RJ. Health care utilization history, GOLD guidelines, and respiratory medication prescriptions in patients with COPD. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis. 2010;5:89–97. 33. Fukuchi Y, Nagai A, Seyama K, et al; Research Group TB. Clinical efficacy and safety of transdermal tulobuterol in the treatment of stable COPD: an open-label comparison with inhaled salmeterol. Treat Respir Med. 2005;4:447–455. 34. Sin DD, McAlister FA, Man SF, Anthonisen NR. Contemporary management of chronic obstructive pulmonary disease: scientific review. JAMA. 2003;290(17):2301–2312. 35. Bahadori K, FitzGerald JM. Risk factors of hospitalization and readmission of patients with COPD exacerbation: a systematic review. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis. 2007;2:241–251. 36. Global initiative for chronic Obstructive Lung Disease (GOLD). 2013. Available from:http:// www.goldcopd.org/Guidelines/guideline-2013- gold-report.html. Accessed May 14, 2015. 37. Yusen RD. Evolution of the GOLD documents for the diagnosis, management, and prevention of chronic obstructive pulmonary disease. Controversies and questions. Am J Respir Crit Care Med. 2013; 188(1):4–5. 38. Price DB, Baker CL, Zou KH, et al. Real-world characterization and differentiation of the global initiative for chronic obstructive lung disease strategy classification. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis. 2014;9: 551–561. 39. Vogelmeier CF, Bateman ED, Pallante J, et al. Efficacy and safety of once-daily QVA149 compared with twice-daily salmeterol-fluticasone in patients with chronic obstructive pulmonary disease (ILLUMINATE): a randomised, double- blind, parallel group study. Lancet Respir Med. 2013;1:51–60. 40. Rossi A, Guerriero M, Corrado A, et al. Withdrawal of inhaled corticosteroids can be safe in COPD patients at low risk of exacerbation: a real-life study on the appropriateness of treatment in moderate COPD patients (OPTIMO). Respir Res. 2014;15:77. Hô hấp số 12/2017 Hô hấp số 12/2017 DỊCH 62 41. Rossi A, van der Molen T, Olmo RD, et al. INSTEAD: a randomized switch trial of indacaterol versus salmeterol/fluticasone in moderate COPD. Eur Respir J. 2014;44:1548– 1556. 42. Dransfield MT, Bourbeau J, Jones PW, et al. Once-daily inhaled fluticasone furoate and vilanterol versus vilanterol only for prevention of exacerbations of COPD: two replicate double- blind, parallelgroup, randomised controlled trials. Lancet Respir Med. 2013;1(3): 210–223. 43. Gershon AS, Campitelli MA, Croxford R, et al. Combination longacting β-agonists and inhaled corticosteroids compared with long- acting β-agonists alone in older adults with chronic obstructive pulmonary disease. JAMA. 2014;312:1114–1121. 44. Finney L, Berry M, Singanayagam A, et al. Inhaled corticosteroids and pneumonia in chronic obstructive pulmonary disease. Lancet Respir Med. 2014;2:919–932. 45. Suissa S, Patenaude V, Lapi F, Ernst P. Inhaled corticosteroids in COPD and the risk of serious pneumonia. Thorax. 2013;68: 1029–1036. 46. DiSantostefano RL, Li H, Hinds D, et al. Risk of pneumonia with inhaled corticosteroid/long- acting β2 agonist therapy in chronic obstructive pulmonary disease: a cluster analysis. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis. 2014;9:457–468. 47. Calverley PM. Treating COPD in the real world. JAMA. 2014;312: 1101–1102. 48. Hogg JC, Chu F, Utokaparch S, et al. The nature of small-airway obstruction in chronic obstructive pulmonary disease. N Engl J Med. 2004;350: 2645–2653. 49. Bafadhel M, McKenna S, Terry S, et al. Acute exacerbations of chronic obstructive pulmonary disease: identification of biologic clusters and their biomarkers. Am J Respir Crit Care Med. 2011;184: 662–671. 50. Brightling CE, Monteiro W, Ward R, et al. Sputum eosinophilia and short-term response to prednisolone in chronic obstructive pulmonary disease: a randomised controlled trial. Lancet. 2000;356:1480–1485. 51. Siva R, Green RH, Brightling CE, et al. Eosinophilic airway inflammation and exacerbations of COPD: a randomised controlled trial. Eur Respir J. 2007;29:906–913. 52. Saetta M, Di Stefano A, Maestrelli P, et al. Airway eosinophilia in chronic bronchitis during exacerbations. Am J Respir Crit Care Med. 1994;150:1646–1652. 53. Brightling CE, McKenna S, Hargadon B, et al. Sputum eosinophilia and the short term response to inhaled mometasone in chronic obstructive pulmonary disease. Thorax. 2005;60:193–198. 54. Leigh R, Pizzichini MM, Morris MM, et al. Stable COPD: predicting benefit from high-dose inhaled corticosteroid treatment. Eur Respir J. 2006;27:964–971. 55. Kitaguchi Y, Komatsu Y, Fujimoto K, et al. Sputum eosinophilia can predict responsiveness to inhaled corticosteroid treatment in patients with overlap syndrome of COPD and asthma. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis. 2012;7:283–289. 56. Hospers JJ, Schouten JP, Weiss ST, Rijcken B, Postma DS. Asthma attacks with eosinophilia predict mortality from chronic obstructive pulmonary disease in a general population sample. Am J Respir Crit Care Med. 1999;160:1869–1874. 57. Bafadhel M, McKenna S, Terry S, et al. Blood eosinophils to direct corticosteroid treatment of exacerbations of chronic obstructive pulmonary disease: a randomized placebo-controlled trial. Am J Respir Crit Care Med. 2012;186:48–55. 58. Bafadhel M, Davies L, Calverley PM, et al. Blood eosinophil guided prednisolone therapy for exacerbations of COPD: a further analysis. Eur Respir J. 2014;44:789–791. 59. Wedzicha JA, Calverley PM, Seemungal TA, et al. The prevention of chronic obstructive pulmonary disease exacerbations by salmeterol/ fluticasone propionate or tiotropium bromide. Am J Respir Crit Care Med. 2008;177(1):19–26. 60. Niewoehner DE, Erbland ML, Deupree RH, et al. Effect of systemic glucocorticoids on exacerbations of chronic obstructive pulmonary disease. Department of Veterans Affairs Cooperative Study Group. N Engl J Med. 1999;340:1941–1947. 61. Wagener AH, de Nijs SB, Lutter R, et al. External validation of blood eosinophils, FENO and serum periostin as surrogates for sputum eosinophils in asthma. Thorax. 2015;70(2):115–120. 62. Hizawa N. Pharmacogenetics of chronic obstructive pulmonary disease. Pharmacogenomics. 2013;14(10):1215–1225. 63. Santulli G, Lombardi A, Sorriento D, et al. Age-related impairment in insulin release: the essential role of β(2)-adrenergic receptor. Diabetes. 2012;61(3):692–701. 64. Santulli G, Iaccarino G. Pinpointing beta Hô hấp số 12/2017 Hô hấp số 12/2017 DỊCH 63 adrenergic receptor in ageingpathophysiology: victim or executioner? Evidence from crime scenes. Immun Ageing. 2013;10(1):10. 65. Vogelmeier C, Hederer B, Glaab T, et al. Tiotropium versus salmeterol for the prevention of exacerbations of COPD. N Engl J Med. 2011; 364:1093–1103. 66. Rabe KF, Fabbri LM, Israel E, et al. Effect of ADRB2 polymorphisms on the efficacy of salmeterol and tiotropium in preventing COPD exacerbations: a prespecified substudy of the POET-COPD trial. Lancet Respir Med. 2014;1:44–53. 67. Green SA, Turki J, Bejarano P, Hall IP, Liggett SB. Influence of β2-adrenergic receptor genotypes on signal transduction in human airway smooth muscle cells. Am J Respir Cell Mol Biol. 1995;13:25–33. 68. Chowdhury BA, Dal Pan G. The FDA and safe use of long-acting β-agonists in the treatment of asthma. N Engl J Med. 2010;362(13): 1169– 1171. 69. Cheung D, Timmers MC, Zwinderman AH, et al. Long-term effects of a long-acting beta 2-adrenoceptor agonist, salmeterol, on airway hyperresponsiveness in patients with mild asthma. N Engl J Med. 1992; 327(17):1198– 1203. 70. McGraw DW, Almoosa KF, Paul RJ, et al. Antithetic regulation by β-adrenergic receptors of Gq receptor signaling via phospholipase C underlies the airway β-agonist paradox. J Clin Invest. 2003;112: 619–626. 71. Wechsler ME, Kunselman SJ, Chinchilli VM, et al. Effect of β2- adrenergic receptor polymorphism on response to long-acting β2 agonist in asthma (LARGE trial): a genotype-stratified, randomised, placebocontrolled, crossover trial. Lancet. 2009;374(9703):1754–1764. 72. Pistolesi M, Camiciottoli G, Paoletti M, et al. Identification of a predominant COPD phenotype in clinical practice. Respir Med. 2008;102:367e76. 73. Barnes PJ. Glucocorticosteroids: current and future directions. Br J Pharmacol. 2011;163(1):29–43. 74. Gibson PG, Simpson JL. The overlap syndrome of asthma and COPD: what are its features and how important is it? Thorax. 2009;64(8): 728– 735. 75. Jamieson DB, Matsui EC, Belli A, et al. Effects of allergic phenotype on respiratory symptoms and exacerbations in patients with chronic obstructive pulmonary disease. Am J Respir Crit Care Med. 2013;188(2):187–192. 76. Hurst JR, Vestbo J, Anzueto A, et al. Evaluation of COPD longitudinally to identify predictive surrogate endpoints (ECLIPSE) investigators. Susceptibility to exacerbation in chronic obstructive pulmonary disease. N Engl J Med. 2010;363(12):1128–1138. 77. Gershon A, Croxford R, Calzavara A, et al. Cardiovascular safety of inhaled long-acting bronchodilators in individuals with chronic obstructive pulmonary disease. JAMA Intern Med. 2013;173(13): 1175–1185. 78. Decramer ML, Chapman KR, Dahl R, et al. Once- daily indacaterol versus tiotropium for patients with severe chronic obstructive pulmonary 79. disease (INVIGORATE): a randomised, blinded, parallel-group study. Lancet Respir Med. 2013;1:524–533. 79. Cowan DC, Cowan JO, Palmay R, et al. Effects of steroid therapy on inflammatory cell subtypes in asthma. Thorax. 2010;65(5):384–390. 80. Hanania NA, Crater GD, Morris AN, et al. Benefits of adding fluticasone propionate/salmeterol to tiotropium in moderate to severe COPD. Respir Med. 2012;106(1):91–101. 81. 81. Singh D, Brooks J, Hagan G, Cahn A, O’Connor BJ. Superiority of ‘triple’ therapy with salmeterol/ fluticasone propionate and tiotropium bromide versus individual components in moderate to severe COPD. Thorax. 2008;63:592–598. 82. Welte T, Miravitlles M, Hernandez P, et al. Efficacy and tolerability of budesonide/formoterol added to tiotropium in patients with chronic obstructive pulmonary disease. Am J Respir Crit Care Med. 2009;180:741–750. 83. Saha S, Brightling CE. Eosinophilic airway inflammation in COPD. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis. 2006;1(1):39–47.
File đính kèm:
so_sanh_labalama_va_icslaba_trong_dieu_tri_copd_dua_tren_kie.pdf

