So sánh kiểu đột biến gen giữa mẫu sinh thiết lỏng và sinh thiết mô ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng giai đoạn sớm

Mục tiêu: Ung thư đại trực tràng là dạng thư ung thường gặp hiện nay và đang có xu hướng trẻ hoá. Các

đột biến gen liên quan đến ung thư đại trực tràng sử dụng mô khối u để phân tích di truyền nhằm phục vụ cho

theo dõi điều trị và thường gặp hạn chế trong nhiều trường hợp, đặc biệt là trường hợp bệnh nhân không đủ sức

khoẻ để lấy mẫu sinh thiết hoặc đã di căn. Sử dụng phương pháp giải trình tự thế hệ mới trên mẫu sinh thiết lỏng

giúp tìm ra các đột biến trực tiếp trong dòng máu của bệnh nhân là một hướng đi đầy hứa hẹn. Tuy nhiên, tỉ lệ

tương đồng giữa các đột biến gen trên mẫu máu và mẫu mô u vẫn chưa rõ ràng, đặc biệt là ở giai đoạn sớm của

ung thư.

Đối tượng - Phương pháp: Phương pháp giải trình tự thế hệ mới tìm các đột biến trên 20 gen có tần suất

đột biến cao ở ung thư đại trực tràng. Mẫu máu và mô tương ứng được thu nhận từ 18 bệnh nhân ung thư đại

trực tràng giai đoạn giai đoạn I, II và III được tuyển chọn từ 10/2019 đến 10/2020

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "So sánh kiểu đột biến gen giữa mẫu sinh thiết lỏng và sinh thiết mô ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng giai đoạn sớm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: So sánh kiểu đột biến gen giữa mẫu sinh thiết lỏng và sinh thiết mô ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng giai đoạn sớm

So sánh kiểu đột biến gen giữa mẫu sinh thiết lỏng và sinh thiết mô ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng giai đoạn sớm
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 112 
SO SÁNH KIỂU ĐỘT BIẾN GEN GIỮA MẪU SINH THIẾT LỎNG 
VÀ SINH THIẾT MÔ Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG 
GIAI ĐOẠN SỚM 
Lương Bắc An1, Nguyễn Phúc Hằng 1, Lê Gia Hoàng Linh1, Hồ Quốc Chương1, Giang Hoa2, 
Trần Đức Huy1, Nguyễn Thị Quỳnh Thơ1, Nguyễn Hoài Nghĩa1, Ngô Quốc Đạt1, 
Nguyễn Hoàng Bắc1, Đỗ Thị Thanh Thủy2, Trần Diệp Tuấn1 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Ung thư đại trực tràng là dạng thư ung thường gặp hiện nay và đang có xu hướng trẻ hoá. Các 
đột biến gen liên quan đến ung thư đại trực tràng sử dụng mô khối u để phân tích di truyền nhằm phục vụ cho 
theo dõi điều trị và thường gặp hạn chế trong nhiều trường hợp, đặc biệt là trường hợp bệnh nhân không đủ sức 
khoẻ để lấy mẫu sinh thiết hoặc đã di căn. Sử dụng phương pháp giải trình tự thế hệ mới trên mẫu sinh thiết lỏng 
giúp tìm ra các đột biến trực tiếp trong dòng máu của bệnh nhân là một hướng đi đầy hứa hẹn. Tuy nhiên, tỉ lệ 
tương đồng giữa các đột biến gen trên mẫu máu và mẫu mô u vẫn chưa rõ ràng, đặc biệt là ở giai đoạn sớm của 
ung thư. 
Đối tượng - Phương pháp: Phương pháp giải trình tự thế hệ mới tìm các đột biến trên 20 gen có tần suất 
đột biến cao ở ung thư đại trực tràng. Mẫu máu và mô tương ứng được thu nhận từ 18 bệnh nhân ung thư đại 
trực tràng giai đoạn giai đoạn I, II và III được tuyển chọn từ 10/2019 đến 10/2020. 
Kết quả: Kết quả giải trình tự của 18 mẫu máu và mô u tương ứng, ghi nhận có 14/18 trường hợp có kết 
quả tương đồng, đạt tỉ lệ 77,8%. Trong đó, 9 ca tương đồng về kiểu đột biến gen và 5 ca không ghi nhận thấy đột 
biến ở cả mẫu máu và mô u. Số ca bất tương đồng về kết quả đột biến là 4 trường hợp. 
Kết luận: So sánh kết quả đột biến gen giữa mẫu máu và mô u cho thấy là các ctDNA được phóng thích từ 
trong khối u vào dòng máu. Kết quả nghiên cứu củng cố vai trò của phương pháp sinh thiết lỏng có thể được mở 
rộng để phát hiện sớm ung thư đại trực tràng nói riêng và các loại ung thư nói chung, giúp bệnh nhân có thêm 
lựa chọn khi thực hiện các xét nghiệm về đặc điểm di truyền của khối u phục vụ cho công tác theo dõi điều trị. 
Từ khóa: cfDNA, FFPE, sinh thiết lỏng, UTĐTT 
ABSTRACT 
COMPARISON OF GENETIC MUTATION TYPES BETWEEN LIQUID BIOPSY 
AND TISUE BIOPSY SAMPLES IN PATIENTS WITH EARLY STAGES OF COLORECTAL CANCER 
Luong Bac An, Nguyen Phuc Hang, Le Gia Hoang Linh, Ho Quoc Chuong, Giang Hoa, Tran Duc Huy, 
Nguyen Thi Quynh Tho, Nguyen Hoai Nghia, Ngo Quoc Dat, Nguyen Hoang Bac, 
Do Thi Thanh Thuy, Tran Diep Tuan 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 112-117 
Background: Nowadays, colorectal cancer is considered to be one of the more common cancers and has the 
tendency to be found in younger people. Currently, genetic mutation associated with colorectal cancer tumor 
tissues are genetically analysed to monitor treatment. However, the method is limited in many circumstances, 
such as when the patient’s health is not sufficient for a tissue biopsy, or metastasis had occurred. Using next 
generation sequencing on liquid biopsies to find genetic mutations in patients’ blood is a promising alternative 
1Trường Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2Viện Di Truyền Y học TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: PGS.TS.BS. Trần Diệp Tuấn ĐT: 0985.598.528 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 113 
path. Nonetheless, the similarity rates of genetic mutations between blood and tissue samples are still unclear, 
especially in the early stages of cancer. 
Methods: Next generation sequencing was used to identify over 20 genes with a high mutation rate in 
colorectal cancer. Blood samples and their corresponding tissues were taken from 18 patients at stages I, II and III 
of colorectal cancer, selected from October 2019 to October 2020. 
Results: Next generation sequencing revealed that 14 out of 18 samples had similar results, with a similarity 
rate at 77.8%. Of these samples, 9 cases showed similarities in the type of genetic mutations, whereas no 
mutations were observed in both blood samples and tissues samples of 5 cases. The lack of similarities in genetic 
mutation results was seen in four cases. 
Conclusion: Comparisons on genetic mutations between blood samples and tissue samples demonstrated 
that ctDNA has been released from the tumours into the blood. Findings from this study support the wider use of 
liquid biopsy for early detection of colorectal cancer in particular and different types of cancer in general, to 
provide patients with more options for tumour genetic characteristics testing for treatment monitoring. 
Keywords: cfDNA, FFPE, liquid biopsy, colorectal cancer 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là một 
trong những bệnh ung thư thường gặp. Theo 
GLOBOCAN 2018, tỉ lệ mắc ung thư đại trực 
tràng đứng hàng thứ 3 trong 5 loại ung thư hàng 
đầu, sau ung thư phổi và ung thư vú. UTĐTT 
đứng hàng thứ 4 ở nam giới và thứ 2 ở nữ giới 
trên toàn cầu với khoảng 1,8 triệu trường hợp 
mắc mới (10,2%) và 881.000 trường hợp tử vong 
(9,2%) chỉ trong năm 2018(1). Các chuyên gia 
cũng tiên đoán tỉ suất mắc bệnh UTĐTT sẽ tăng 
lên đến 2,2 triệu ca mắc mới và 1,1 triệu ca tử 
vong vào năm 2030. Tỉ lệ nam giới mắc UTĐTT 
cao hơn nữ giới. 
Sinh thiết lỏng (Liquid Biopsy) là phương 
pháp mới được sử dụng trong chẩn đoán, theo 
dõi điều trị ung thư và khắc phục được những 
yếu điểm của việc sinh thiết mô. Sinh thiết lỏng 
được phát triển dựa trên nguyên tắc phát hiện 
sự hiện diện của những phân mảnh DNA ngoại 
bào (cell free DNA - cfDNA) được phóng thích 
từ tế bào ung thư vào máu ngoại biên. Thay vì 
dựa trên các phương pháp sinh thiết mô u gây 
đau đớn và ảnh hưởng đến sức khỏe bệnh nhân, 
việc phát hiện các đột biến của khối u có thể 
được phát hiện dựa trên việc lấy 5-10 ml máu 
ngoại biên của bệnh nhân. Sinh thiết lỏng cho 
phép thu mẫu nhanh chóng, ít ảnh hưởng đến 
sức khỏe của bệnh nhân. Nhờ đó có thể phát 
hiện, theo dõi được sự xuất hiện và phát triển 
của các loại đột biến xảy ra trong quá trình điều 
trị của bệnh nhân. 
DNA ngoại bào mang đột biến ung thư 
(circulating tumor DNA-ctDNA) là cfDNA được 
phóng thích từ tế bào ung thư. Các ctDNA 
thường được phân biệt với các cfDNA từ tế bào 
bình thường dựa trên các đột biến sinh dưỡng 
(somatic mutation) hoặc epigenetics (thường là 
sự methyl hóa trên DNA) gây ung thư. Hàm 
lượng ctDNA trên tổng số cfDNA trong bệnh 
nhân ung thư rất biến động, có thể trên 25% 
nhưng cũng có thể xuống thấp đến 0,01% (nghĩa 
là cứ mỗi 10.000 phân tử cfDNA trong máu, chỉ 
có 1 phân tử ctDNA được phóng thích từ tế bào 
ung thư)(2,3). Tỉ lệ này cũng được gọi là tần suất 
đột biến (MAF: mutation allelle fraction). MAF 
biến động phụ thuộc vào dạng ung thư và giai 
đoạn bệnh. Giai đoạn bệnh càng muộn, khối u 
càng lớn, ctDNA được phóng thích vào máu 
càng tăng. ctDNA được phát hiện ở 100% bệnh 
nhân ung thư buồng trứng và đại trực tràng, tuy 
nhiên ở bệnh nhân u não, chỉ khoảng 10% bệnh 
nhân là phát hiện được ctDNA(4). Nguyên nhân 
là do hàng rào máu não hạn chế sự khuếch tán 
của ctDNA vào tuần hoàn máu. 
Quá trình cố định mô trong formalin (FFPE, 
formalin-fixed, paraffin embedded tissue) có thể 
gây tổn thương DNA như gây đứt gãy mạch 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 114 
DNA, “cross-link” giữa DNA với DNA hay 
DNA với protein, gây biến đổi nucleotide (đặc 
biệt C thành T và G thành A) hay hiện tượng 
deamin hóa. Nghiên cứu trước đây cho thấy kết 
quả giải trình tự của DNA tách chiết từ mô u 
(FFPE) với tần suất đột biến dưới 10% có tín hiệu 
giả cao, trong khi trên 10% thì kết quả đột biến 
sẽ đáng tin cậy(5). Do đó, nghiên cứu đánh giá độ 
tương đồng đột biến giữa mẫu máu và mẫu mô 
UTĐTT là cần thiết đặc biệt với bệnh nhân ở giai 
đoạn sớm. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Các bệnh nhân ung thư đại trực tràng 
(UTĐTT) giai đoạn I, II, III (theo tiêu chuẩn của 
AJCC VII) từ bệnh viện Đại học Y Dược Thành 
phố Hồ Chí Minh từ tháng 09/2019 - 09/2020. 
Tiêu chuẩn chọn 
Bệnh nhân tham gia nghiên cứu thỏa mãn 
các điều kiện sau: 
(i) bệnh nhân đồng ý tự nguyện tham gia 
nghiên cứu sau khi được tư vấn rõ các điều kiện 
và nguy cơ khi tham gia nghiên cứu; 
(ii) bệnh nhân được chẩn đoán UTĐTT giai 
đoạn I – III; 
(iii) bệnh nhân chưa qua điều trị can thiệp; 
(iv) bệnh nhân không truyền máu trong 
vòng 3 tháng trước khi tham gia nghiên cứu. 
Tiêu chí loại ra 
Khi bệnh nhân không đáp ứng được tiêu chí 
chọn mẫu. Bệnh nhân được tuyển chọn. 
Phương pháp nghiên cứu 
Phương pháp thực hiện 
10 ml máu của bệnh nhân được thu giữ 
trong ống BD Vacumtainer, sau đó được quay ly 
tâm 2 lần (1600 x g trong 10 phút tại 4oC và 
16.000 x g trong 10 phút tại 4oC). 
Huyết thanh thu được được bảo quản ở -
80oC. CfDNA được tách chiết bằng bộ hoá chất 
MagMAX Cell-Free DNA Isolation kit (Thermo 
Fisher, USA) theo hướng dẫn của nhà sản xuất. 
CfDNA tách chiết được chuẩn bị thư viện bằng 
bộ hoá chất Accel-NGS 2S DNA Library Kit 
(Swift Biosciences, USA) theo hướng dẫn của 
nhà sản xuất. 
Nồng độ của thư viện được định lượng bằng 
hệ thống QuantiFluor dsDNA (Promega, USA). 
DNA từ mô u (FFPE) được tách chiết bằng 
bộ kit QiaAmp DNA FFPE kit (Qiagen), qui 
trình tách chiết được tiến hành theo hướng dẫn 
của bộ kit, quá trình tách chiết mẫu có xử lí với 
Uracil-N-Glycosilase để loại bỏ các gốc cytosine 
bị deamin hóa. DNA tách chiết từ mẫu FFPE 
được phân mảnh bằng enzyme fragmentase 
(NEBNext dsDNA Fragmentase). Phản ứng 
phân cắt được thực hiện tại 37oC trong 25 phút. 
Sản phẩm sau phân cắt được kiểm tra bằng điện 
di trên gel Agarose, kích thước sản phẩm tập 
trung 150bp-300bp. Sản phẩm DNA sau phân 
mảnh được tiến hành sửa đuôi (NEBNext FFPE 
DNA Repair Mix) và chuẩn bị thư viện 
(NEBNext Ultra II DNA Library Prep Kit for 
Illumina). Các bước tiến hành theo hướng dẫn 
của nhà sản xuất. 
200 ng sản phẩm từ bước tạo thư viện của 
mẫu sẽ được tiến hành lai với hỗn hợp mẫu dò 
đặc hiệu cho 20 gene mục tiêu (APC, TP53, 
FAT4, LRP1B, TGFBR, FAT1, BRAF, KMT2C, 
KMT2D, ARID1A, TRRAP, ZFHX3, TCF7L2, 
KRAS, PIK3CA, ACVR2A, FBXW7, RNF43, 
SMAD4, PREX2) - qui trình theo bộ hoá chất 
xGen Lockdown Reagents. Việc giải trình tự 
được thực hiện trên hệ thống Illumina NextSeq 
550 với NextSeq 500/550 Mid output kits v2 (150 
cycles), có độ phủ trung bình 15.000 X với mẫu 
thư viện được chuẩn bị từ mẫu máu và 1000X 
với thư viện được chuẩn bị từ mẫu FFPE. 
Y đức 
Nghiên cứu được tài trợ bởi Quỹ phát triển 
khoa học và công nghệ thành phố Hồ Chí Minh 
(52/2019/HĐ-QPTKHCN) và được được thông 
qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y 
sinh học Đại học Y Dược TP. HCM, số 
383/ĐHYD-HĐĐĐ, ngày 30/7/2019. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 115 
KẾT QUẢ 
Bảng 1: Đặc điểm thông tin lâm sàng 
Đặc điểm lâm sàng n=18 % 
Giới tính 
Nam 11 61,1% 
Nữ 7 38,9% 
Tuổi (Trung vị (Tứ phân vị)) 58,5 (51-65) 
Giai đoạn bệnh 
0 1 5,6% 
I 1 5,6% 
II 7 38,9% 
III 6 33,3% 
Chưa phân loại 3 16,6% 
Mô học Carcinôm tuyến 18 100% 
Vị trí khối u 
Đại tràng 12 66,6% 
Trực tràng 5 27,8% 
Óng hậu môn 1 5,6% 
Số lượng mẫu thu là được 18 mẫu máu có 
kèm mẫu FFPE của bệnh nhân UTĐTT giai đoạn 
I, II, III. Trong đó, bệnh nhân có độ tuổi trung 
bình là 59,1 tuổi với trung vị 58,5 tuổi (tứ phân 
vị: 51-65). Nam giới mắc bệnh nhiều hơn nữ giới 
với tỉ lệ lần lượt là 61,1% và 38,9%. Về giai đoạn 
bệnh, tỉ lệ bệnh nhân ở giai đoạn sớm (giai đoạn 
0, I và II) chiếm 50,1%, giai đoạn III là 33,3%, còn 
lại là chưa phân giai đoạn bệnh. Hầu hết các 
bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều có kết quả 
mô học là carcinôm tế bào tuyến và vị trí của 
khối u nằm chủ yếu tại đại tràng (66,6%), 1 ca có 
khối u nằm tại ống hậu môn (5,6%), còn lại nằm 
tại trực tràng (27,8%). 
Trong nghiên cứu này, chúng tôi giải trình tự 
tại độ sâu 15.000X đối với mẫu máu (sinh thiết 
lỏng) từ bệnh nhân ung thư đại trực tràng và độ 
sâu 1.000X cho đối với mẫu mô u tương ứng từ 
cùng bệnh nhân. Sau đó, chúng tôi so sánh 2 
nhóm kết quả này để xác định sự tương đồng 
qui trình sinh thiết lỏng. Kết quả phân tích đột 
biến được trình bày trong Bảng 2. 
Bảng 2: Kết quả phân tích đột biến giữa mẫu sinh thiết lỏng và mô u 
Mã mẫu 
Kết quả giải trình tự 
Sinh thiết lỏng Mô u (FFPE) 
Đột biến MAF (%) Đột biến MAF (%) 
CRCB02 APC (R1432*) 1,5% TP53 (R175H) 26,3% 
CRCB03 
PIK3CA (R88Q) 4,7% PIK3CA (R88Q) 59,9% 
APC (S439*) 3,7% APC(S439*) 25,6% 
CRCB04 (-) KRAS(G12V) 37,8% 
CRCB05 
FBXW7(R505C) 4,3% (-) 
APC(Ser375*) 2,5% (-) 
CRCB06 APC (E1288*) 4,9% APC (E1228*) 33,3% 
CRCB09 KRAS (G12V) 0,13% KRAS (G12V) 30% 
CRCB14 
APC (I1557*) 43,7% APC (I1557*fs) 32,2% 
TP53 (R342*) 8,1% TP53 (R342*) 25% 
CRCB15 PIK3CA (Q546R) 4,4% PIK3CA (Q546R) 22,9% 
CRCB16 TP53 (R210*) 0,2% TP53 (R210*) 32,4% 
CRCB17 TP53 (R213*) 9,6% TP53(R213*) 60,7% 
CRCB18 
TP53 (C176F) 4,8% (-) 
TP53 (C176W) 3,7% (-) 
CRCB19 TP53 (R248Q) 5,6% TP53 (R248Q) 15,4% 
CRCB20 APC (R1432*) 0,19% APC (R1432*) 4% 
CRCB21 (-) (-) 
CRCB22 (-) (-) 
CRCB23 (-) (-) 
CRCB25 (-) (-) 
CRCB29 (-) (-) 
So sánh kết quả giải trình tự giữa 18 mẫu 
máu và mô u tương ứng, chúng tôi ghi nhận 
được có 14/18 ca có kết quả tương đồng (đạt tỉ lệ 
77,8%), trong đó có 9 ca tương đồng về kiểu đột 
biến và 5 ca không ghi nhận thấy đột biến ở cả 
mẫu máu và mô u. Số ca bất tương đồng là 4. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 116 
Trong 4 ca bất tương đồng có 1 ca không ghi 
nhận đột biến tại mẫu máu nhưng có đột biến tại 
mô u; 2 ca có đột biến tại mẫu máu nhưng không 
có đột biến tại mô u và 1 ca có kết quả đột biến 
không tương thích giữa mẫu mô máu và mô u. 
BÀN LUẬN 
Đến hiện nay, sinh thiết mô u vẫn được xem 
là tiêu chuẩn vàng cho giải phẫu bệnh và cho 
việc xác định đặc tính di truyền của khối u. Do 
vậy, để đánh giá được độ chính xác của qui trình 
sinh thiết lỏng, chúng tôi so sánh kết quả giải 
trình tự thu được từ mẫu sinh thiết lỏng với kết 
quả giải trình tự từ mẫu sinh thiết mô u. 
Các phân tử ctDNA có nguồn gốc là những 
phân tử cfDNA có mang đột biến dòng sinh 
dưỡng (somatic mutations) được phóng thích từ 
các tế bào khối u vào trong dòng máu. Tuy 
nhiên, hàm lượng ctDNA có trong máu rất biến 
động, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng chủ 
yếu là liên quan tới các yếu tố như: giai đoạn 
ung thư, kích thước khối u và vị trí của khối u(6). 
Đặc điểm nổi bật của kĩ thuật sinh thiết lỏng 
bằng công nghệ giải trình tự thế hệ mới cho 
phép phát hiện các đột biến có tần suất rất thấp, 
có thể đạt tới ngưỡng 0,01%. Kết quả nghiên cứu 
của chúng tôi cho thấy những đột biến có tần 
suất rất thấp như mẫu CRCB09 (0,13%), CRCB16 
(0,2%) và CRCB20 (0,19%) (Bảng 2). Chứng minh 
được rằng, sinh thiết lỏng có khả năng phát hiện 
được ctDNA ở các giai đoạn bệnh sớm so với các 
kĩ thuật giải trình tự khác như Sanger. 
Nhìn chung, so sánh kết quả giải trình tự của 
18 ca UTĐTT, chúng tôi bước đầu ghi nhận độ 
tương đồng về kết quả đột biến gen giữa mẫu 
sinh thiết lỏng và sinh thiết mô đạt 77,8%. Tỉ lệ 
này tương đương với các nghiên cứu của 
Grasseli J(7). 
Các trường hợp không tương thích về kết 
quả giải trình tự, chúng tôi có đưa ra một số suy 
luận sau. Trường hợp 1 ca không có đột biến tại 
mẫu máu nhưng mang đột biến tại mẫu mô u 
(CRCB04) thuộc giai đoạn 0 (pTisNoMo), đây là 
giai đoạn rất sớm, do đó hàm lượng ctDNA 
phóng thích vào máu không đủ để phát hiện 
trong 10 ml máu toàn phần được lấy từ bệnh 
nhân(8). Bản chất của ctDNA là những phân tử 
cfDNA mang đột biến có nguồn gốc từ các tế 
bào ung thư(9). Trong khi đó khối u là hỗn hợp 
không đồng nhất các loại tế bào ung thư, nên đối 
với những trường hợp giai đoạn quá sớm khi 
khối u có kích thước nhỏ hoặc vị trí các tế bào 
mang ctDNA nằm sâu bên trong khối u sẽ 
không thuận lợi phóng thích ctDNA vào máu. 
Khi đó, hàm lượng ctDNA được phóng thích vào 
trong máu có thể thấp và không đủ để phát hiện. 
2 trường hợp được chúng tôi ghi nhận có 
phát hiện đột biến ở mẫu máu nhưng không ghi 
nhận tại mẫu mô u (CRCB05 và CRCB18). Kĩ 
thuật sinh thiết lỏng cho phép đánh giá tổng thể 
đặc điểm di truyền của khối u, do phân tích tích 
vật liệu di truyền là các ctDNA phóng thích từ 
khối u vào trong máu. Trong khi đó, đối với sinh 
thiết mô u thì đặc điểm di truyền được phân tích 
chỉ mang tính cục bộ tại vùng mô u được lấy 
(hoặc cắt lát khi giải trình tự). Chính vì vậy, các 
đột biến chúng tôi ghi nhận được ở mẫu máu có 
thể thuộc quần thể tế bào ung thư có vị trí khác 
trong khối u mà khi phân tích mẫu mô u chúng 
tôi không lấy được tại các vị trí này. 
Nhận xét về trường hợp bất tương đồng kết 
quả đột biến gen của mẫu CRCB02. Kết quả từ 
mẫu máu cho kết quả mang đột biến gen APC 
trong khi đó ở mẫu mô là mang đột biến TP53. 
Có thể biện luận cho trường hợp này là đột biến 
gen APC có thể không xuất phát từ khối u mà có 
thể có nguồn gốc từ các tế bào gốc dòng mầm 
tạo máu. Do qui trình sinh thiết lỏng phát hiện 
ctDNA trên nền mẫu máu, nên sẽ không thể 
tránh khỏi tình trạng có đột biến sinh dưỡng thể 
khảm có nguồn gốc từ các tế bào máu. Một trong 
các đột biến thể khảm đó là những đột biến từ 
dòng tế bào tạo máu (clonal hematopoiesis). Đây 
là những đột biến sinh dưỡng được tích luỹ 
trong các tế bào gốc hoặc tế bào tiền thân tạo 
máu. Các đột biến này giúp các tế bào gốc và tế 
bào tiền thân tạo máu duy trì tính “gốc”(10,11). 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 117 
KẾT LUẬN 
Kĩ thuật sinh thiết lỏng ứng dụng công nghệ 
giải trình tự thế hệ mới trên 18 mẫu bệnh nhân 
UTĐTT giai đoạn sớm cho thấy độ tương đồng 
phát hiện các đột biến giữa mẫu máu và mẫu mô 
tương ứng đạt 77,8%. Nghiên cứu đã cho thấy 
tiềm năng ứng dụng công nghệ giải trình tự thế 
hệ mới phát hiện các ctDNA ở giai đoạn sớm của 
UTĐTT, đóng góp ý nghĩa quan trọng trong 
thực hành lâm sàng ở bệnh nhân UTĐTT nói 
riêng và các bệnh lí về ung thư nói chung. Mở ra 
một triển vọng mới trong lĩnh vực phát hiện sớm 
cũng như theo dõi điều trị ung thư. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Bray F, Ferlay J, Soerjomataram I, Siegel RL, Torre LA, 
Jemal A (2018). Global cancer statistics 2018: GLOBOCAN 
estimates of incidence and mortality worldwide for 36 
cancers in 185 countries. CA Cancer J Clin, 68:394–424. 
2. Bettegowda C, Sausen M, Leary RJ, Kinde I, Wang Y, 
Agrawal N, Bartlett BR, Wang H, Luber B, Alani RM (2014). 
Detection of circulating tumor DNA in early-and late-stage 
human malignancies. Sci Transl Med, 6:224ra24–224ra24. 
3. Diehl F, Li M, Dressman D, et al (2005). Detection and 
quantification of mutations in the plasma of patients with 
colorectal tumors. Proc Natl Acad Sci, 102:16368–16373. 
4. Pessoa LS, Heringer M, Ferrer VP (2020). ctDNA as a cancer 
biomarker: a broad overview. Crit Rev Oncol Hematol, 
155:103109. 
5. Wong SQ, Li J, Tan AY-C, et al (2014). Sequence artefacts in 
a prospective series of formalin-fixed tumours tested for 
mutations in hotspot regions by massively parallel 
sequencing. BMC Med Genomics, 13:7-23. 
6. Stroun M, Lyautey J, Lederrey C, Olson-Sand A, Anker P 
(2001). About the possible origin and mechanism of 
circulating DNA: Apoptosis and active DNA release. Clin 
Chim Acta, 313:139–142. 
7. Grasselli J, Elez E, Caratù G, et al (2017). Concordance of 
blood- and tumor-based detection of RAS mutations to 
guide anti-EGFR therapy in metastatic colorectal cancer. 
Ann Oncol Off J Eur Soc Med Oncol, 28:1294–1301. 
8. Fiala C, Diamandis EP (2018). Utility of circulating tumor 
DNA in cancer diagnostics with emphasis on early 
detection. BMC Med, doi: 10.1186/s12916-018-1157-9. 
9. Hundt S, Haug U, Brenner H (2007). Blood markers for 
early detection of colorectal cancer: a systematic review. 
Cancer Epidemiol Prev Biomark, 16:1935–1953. 
10. Li BT, Janku F, Jung B, et al (2019). Ultra-deep next-
generation sequencing of plasma cell-free DNA in patients 
with advanced lung cancers: results from the Actionable 
Genome Consortium. Ann Oncol, 30:597–603. 
11. Razavi P, Li BT, Brown DN, et al (2019). High-intensity 
sequencing reveals the sources of plasma circulating cell-
free DNA variants. Nat Med, 25:1928–1937. 
Ngày nhận bài báo: 30/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_kieu_dot_bien_gen_giua_mau_sinh_thiet_long_va_sinh_t.pdf